BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 26 tháng 05, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương 35. Tương Ưng Sáu Xứ - Phẩm Mới Và Cũ- SN.35.152
Bài 424. TẠI SAO ĐI TU -KINH MỤC ĐÍCH CỦA PHẠM HẠNH LÀ GÌ? (Kimatthiyabrahmacariyasuttaṃ).
****** http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-424.jpg







http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Con đường tu tập theo lời Phật dạy nếu nói ngắn gọn là con đường thoát khổ. Khổ đau ở đây không nằm trong ý nghĩa hạn hẹp là cảm thọ khổ vui. Mà là tất cả năm uẩn với bản chất do duyên mà sanh mà diệt nên không bao giờ mang lại sự thoả mãn hoàn toàn. Đó cũng là bản chất thế gian không nằm theo chủ quyền của bất cứ ai. Có một điều rõ ràng là phải nỗ lực tu tập phạm hạnh mới thật sự đạt đến mức độ “chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc”

KINH VĂN

152. “sace vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ puccheyyuṃ — ‘kimatthiyaṃ, āvuso, samaṇe gotame brahmacariyaṃ vussatī’ti? evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyātha — ‘dukkhassa kho, āvuso, pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussatī’ti. sace pana vo, bhikkhave, aññatitthiyā paribbājakā evaṃ puccheyyuṃ — ‘katamaṃ panāvuso, dukkhaṃ, yassa pariññāya samaṇe gotame brahmacariyaṃ vussatī’ti? evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyātha —

“cakkhu kho, āvuso, dukkhaṃ; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati. rūpā dukkhā; tesaṃ pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati. cakkhuviññāṇaṃ dukkhaṃ; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati. cakkhusamphasso dukkho; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati. yampidaṃ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi dukkhaṃ; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati ... pe ... jivhā dukkhā... mano dukkho; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati ... pe ... yampidaṃ manosamphassapaccayā uppajjati vedayitaṃ sukhaṃ vā dukkhaṃ vā adukkhamasukhaṃ vā tampi dukkhaṃ; tassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussati. idaṃ kho, āvuso, dukkhaṃ; yassa pariññāya bhagavati brahmacariyaṃ vussatī’ti. evaṃ puṭṭhā tumhe, bhikkhave, tesaṃ aññatitthiyānaṃ paribbājakānaṃ evaṃ byākareyyāthā”ti. sattamaṃ.

152. “Này các Tỷ-kheo, nếu có người du sĩ ngoại giáo hỏi các con:

‘Này các hiền giả, vì mục đích gì mà các bạn sống  phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama?’

— Nếu bị hỏi như vậy, các con nên trả lời họ như sau:

‘Này các hiền giả, vì để thấu hiểu trọn vẹn về khổ mà chúng tôi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.’

Rồi, này các Tỷ-kheo, nếu những người du sĩ ấy lại hỏi tiếp:

‘Vậy, này các hiền giả, khổ ấy là gì mà vì đó người ta sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Sa môn Gotama?’

— Nếu bị hỏi như vậy, các Thầy nên trả lời như vầy:

‘Này các hiền giả, mắt là khổ – chính vì để thấu hiểu trọn vẹn điều này mà chúng tôi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.

Sắc là khổ – vì để thấu hiểu trọn vẹn điều đó mà chúng tôi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn. Nhãn thức là khổ… Nhãn xúc là khổ…Và cảm thọ nào khởi lên do duyên nhãn xúc, dù là lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ – điều ấy cũng là khổ. Và vì để thấu hiểu trọn vẹn điều này, chúng tôi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.

[Tương tự như vậy:]

Tai là khổ, âm thanh là khổ, nhĩ thức là khổ, nhĩ xúc là khổ…

Mũi, lưỡi, thân… và ý là khổ. Những cảm thọ nào khởi lên do duyên ý xúc , dù là dễ chịu hay khó chịu hay trung tính – đều là khổ. Vì để thấu hiểu trọn vẹn điều này, chúng tôi sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.

Này các hiền giả, đây chính là khổ – là điều mà vì để thấu hiểu trọn vẹn, người ta sống đời phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn.’

“Này các Tỷ-kheo, nếu bị hỏi như vậy, các con nên trả lời những người du sĩ của các giáo phái khác như thế.”

CHÚ THÍCH

Chữ Dukkha - khổ - trong bài kinh nầy được hiểu theo phạm trù rộng nhất: tất cả các hành là khổ (sabbe saṅkhārā dukkhā) với đặc tính bất toàn, bất toại.

Mục đích của đời sống phạm hạnh là thấu triệt sự khổ đau đồng nghĩa với sự giác ngộ.

Ai thấu triệt được bản chất của sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và các pháp liên hệ (xúc, thọ… được xem là thấu triệt thế giới.

Sự giác ngộ hay thấu triệt phải bằng đời sống phạm hạnh có nghĩa là không phải chỉ lý luận suông mà thấu suốt.

.SỚ GIẢI

151-152. chaṭṭhe anantevāsikanti anto vasanakakilesavirahitaṃ. anācariyakanti ācaraṇakakilesavirahitaṃ. antassa vasantīti anto assa vasanti. te naṃ samudācarantīti te etaṃ adhibhavanti ajjhottharanti sikkhāpenti vā. “evaṃ vejjakammaṃ karohi, evaṃ dūtakamman”ti iti sikkhāpanasaṅkhātena samudācaraṇatthenassa te ācariyā nāma honti, tehi ācariyehi sācariyakoti vuccati. sesamettha vuttanayeneva veditabbaṃ. sattamaṃ heṭṭhā kathitanayameva.

151–152. Trong bài kinh thứ sáu (chaṭṭhe):

  • “Anantevāsika” nghĩa là người không có phiền não cư trú bên trong (anto vasana kilesa virahitaṃ).
  • “Anācariyaka” nghĩa là người không có phiền não mang tính tác động / sai sử (ācaraṇaka kilesa virahitaṃ).
  • Câu “antassa vasanti” nghĩa là: “các phiền não cư trú bên trong vị ấy.”

“Te naṃ samudācaranti” nghĩa là: “chúng chi phối vị ấy, chỉ đạo hoặc dẫn dắt vị ấy.” Cụ thể, chúng có thể như nói:“Hãy làm việc như thầy thuốc theo cách này,”
“Hãy làm nhiệm vụ sứ giả như thế kia,”tức là chúng đóng vai trò chỉ dạy (sikkhāpenti), và theo nghĩa chỉ đạo hoặc dẫn dắt qua hành động chỉ dẫn (samudācaraṇatthena), chúng trở thành 'thầy' (ācariyā) của người ấy.

Vì bị các “thầy” ấy ảnh hưởng, người ấy được gọi là “sācariyaka” – tức có người dẫn dắt.

Phần còn lại (sesamettha) nên được hiểu theo cách đã được giải thích ở phần trên (vuttanayeneva veditabbaṃ).

Bài kinh thứ bảy (sattamaṃ) cũng nên được hiểu giống như cách đã được giảng ở phần dưới trước đó (heṭṭhā kathitanayameva).

  Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

151. VII. Với Mục Ðích Gì? (S.iv,138)

1-2) ...

3) -- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: "Có cái gì, này chư Hiền, Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?"; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

4) "Này chư Hiền, vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".

5) Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các Ông như sau: "Thế nào, này chư Hiền, là vì liễu tri đau khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Sa-môn Gotama?"; được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như sau:

6-11) "Mắt, này chư Hiền, là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Nhãn xúc là khổ. Vì liễu tri nó nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn... Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy là khổ. Vì liễu tri cảm thọ ấy nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

12) Ðây là khổ, này chư Hiền, vì liễu tri khổ nên Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn".

13) Ðược hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông cần phải trả lời như vậy cho những du sĩ ngoại đạo ấy.

-ooOoo-