|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 31 tháng 05, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
******
Ái chấp được ghi nhận là căn nguyên của khổ đau. Ái
chấp là ảo tưởng chỉ thấy phương
diện hấp dẫn mà không thấy mặt
khác là những hệ luỵ. Con đường
giải thoát khởi đầu từ sự quán
chiếu để thấy rõ “cái gì vô
thường thật sự là vô thường”. Đó
là chánh kiến hay cái nhìn xác
thực của hành giả. Thấy rõ thì
xua tan ảo tưởng dẫn tới buông
xả, giải thoát. Con đường giải
thoát khởi sự từ nỗ lực đối diện
thực tại với cái nhìn chân thực.
KINH VĂN
157. Kinh Đoạn Diệt
Hỷ Lạc Đối Với Nội Xứ
156. “aniccaṃyeva, bhikkhave, bhikkhu cakkhuṃ aniccanti
passati, sāssa {sāyaṃ (pī. ka.)}
hoti sammādiṭṭhi. sammā passaṃ
nibbindati. nandikkhayā
rāgakkhayo; rāgakkhayā
nandikkhayo. nandirāgakkhayā
cittaṃ suvimuttanti vuccati ...
pe ... aniccaṃyeva, bhikkhave,
bhikkhu jivhaṃ aniccanti
passati, sāssa hoti sammādiṭṭhi.
sammā passaṃ nibbindati.
nandikkhayā rāgakkhayo;
rāgakkhayā ... pe ... cittaṃ
suvimuttanti vuccati ... pe ...
aniccaṃyeva, bhikkhave, bhikkhu
manaṃ aniccanti passati, sāssa
hoti sammādiṭṭhi. sammā passaṃ
nibbindati. nandikkhayā
rāgakkhayo; rāgakkhayā
nandikkhayo. nandirāgakkhayā
cittaṃ suvimuttanti vuccatī”ti.
paṭhamaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, hành giả thấy rõ “mắt vô thường thật sự là vô thường” đó
là chánh kiến của vị ấy. Khi
thấy đúng như thật, vị ấy sanh
tâm nhàm chán.
Khi sự
thích thú bị đoạn trừ thì tham
luyến cũng bị đoạn trừ; khi tham
luyến bị đoạn trừ thì hỷ lạc
cũng bị đoạn trừ. Khi hỷ lạc và
tham ái bị đoạn trừ, tâm được
gọi là khéo giải thoát.
“Này chư Tỳ khưu, hành giả thấy rõ tai vô thường…
“Này chư Tỳ khưu, hành giả thấy rõ “ý vô thường thật sự là vô thường” đó
là chánh kiến của vị ấy. Khi
thấy đúng như thật, vị ấy sanh
tâm nhàm chán. Khi sự thích thú
bị đoạn trừ thì tham luyến cũng
bị đoạn trừ; khi tham luyến bị
đoạn trừ thì hỷ lạc cũng bị đoạn
trừ. Khi hỷ lạc và tham ái bị
đoạn trừ, tâm được gọi là khéo
giải thoát.
157. Kinh Đoạn Diệt
Hỷ Lạc Đối Với Ngoại Xứ
157. “anicceyeva, bhikkhave, bhikkhu rūpe aniccāti passati,
sāssa hoti sammādiṭṭhi. sammā
passaṃ nibbindati. nandikkhayā
rāgakkhayo; rāgakkhayā
nandikkhayo. nandirāgakkhayā
cittaṃ suvimuttanti vuccati.
anicceyeva, bhikkhave, bhikkhu
sadde... gandhe... rase...
phoṭṭhabbe... dhamme aniccāti
passati, sāssa hoti sammādiṭṭhi.
sammā passaṃ nibbindati.
nandikkhayā rāgakkhayo;
rāgakkhayā nandikkhayo.
nandirāgakkhayā cittaṃ
suvimuttanti vuccatī”ti.
dutiyaṃ.
Kinh Đoạn Diệt Hỷ
Lạc Đối Với Nội Xứ Vô Thường
158. “cakkhuṃ, bhikkhave, yoniso manasi karotha;
cakkhāniccatañca yathābhūtaṃ
samanupassatha. cakkhuṃ,
bhikkhave, bhikkhu yoniso
manasikaronto, cakkhāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassanto
cakkhusmimpi nibbindati.
nandikkhayā rāgakkhayo;
rāgakkhayā nandikkhayo.
nandirāgakkhayā cittaṃ
suvimuttanti vuccati. sotaṃ,
bhikkhave, yoniso manasi
karotha... ghānaṃ... jivhaṃ,
bhikkhave, yoniso manasi
karotha; jivhāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassatha.
jivhaṃ, bhikkhave, bhikkhu
yoniso manasikaronto,
jivhāniccatañca yathābhūtaṃ
samanupassanto jivhāyapi
nibbindati. nandikkhayā
rāgakkhayo; rāgakkhayā
nandikkhayo. nandirāgakkhayā
cittaṃ suvimuttanti vuccati.
kāyaṃ... manaṃ, bhikkhave,
yoniso manasi karotha;
manāniccatañca yathābhūtaṃ
samanupassatha. manaṃ,
bhikkhave, bhikkhu yoniso
manasikaronto, manāniccatañca
yathābhūtaṃ samanupassanto
manasmimpi nibbindati.
nandikkhayā rāgakkhayo;
rāgakkhayā nandikkhayo.
nandirāgakkhayā cittaṃ
suvimuttanti vuccatī”ti.
tatiyaṃ.
“Này chư Tỳ khưu, hãy chánh tư niệm mắt. Nhận thức “mắt vô thường thật sự
là vô thường”. Khi hành giả,
chánh tư niệm
mắt, nhận thức “mắt vô
thường thật sự là vô thường”, vị
ấy khởi lên tâm nhàm chán đối
với mắt. Khi sự thích thú bị
đoạn trừ thì tham luyến cũng bị
đoạn trừ; khi tham luyến bị đoạn
trừ thì hỷ lạc cũng bị đoạn trừ.
Khi hỷ lạc và tham ái bị đoạn
trừ, tâm được gọi là khéo giải
thoát.
“Này chư Tỳ khưu, hãy chánh tư niệm tai….
“Này chư Tỳ khưu, hãy chánh tư niệm ý. Nhận thức “ý vô thường thật sự là
vô thường”. Khi hành giả, chánh
tư niệm
mắt, nhận thức “ý vô
thường thật sự là vô thường”, vị
ấy khởi lên tâm nhàm chán đối
với ý. Khi sự thích thú bị đoạn
trừ thì tham luyến cũng bị đoạn
trừ; khi tham luyến bị đoạn trừ
thì hỷ lạc cũng bị đoạn trừ. Khi
hỷ lạc và tham ái bị đoạn trừ,
tâm được gọi là khéo giải thoát.
159. Kinh Đoạn Diệt
Hỷ Lạc Đối Với Ngoại Xứ Vô
Thường
(Tương tự như trên, nhưng thay vì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý đổi thành
sắc, thanh, khí, vị, xúc, pháp)
CHÚ THÍCH
Câu “aniccaṃyeva cakkhuṃ aniccanti passati – thấy mắt vô thường thật sự là
vô thường” hàm nghĩa là nhận rõ
bản chất vô thường của mắt đúng
với sự thật. Nói cách khác, bản
chất thế nào, nhận rõ như vậy.
Chữ Sammādiṭṭhi (Chánh kiến) ở đây đặc biệt chỉ cho cái nhìn xác thực,
không bằng ảo tưởng.
Chữ Nandi (Hỷ lạc): Sự vui thích, say mê trong cảm giác, đặc biệt là sáu
xúc xứ.
Chữ Rāga (Tham luyến): Sự dính mắc, khao khát đối với các đối tượng khả
ái.
Nibbindati (yểm ly, nhàm chán): Trạng thái tâm ly hỷ đối với các pháp thế
gian, không còn đắm nhiễm.
Cittaṃ suvimuttaṃ (Tâm khéo giải thoát hay hoàn toàn giải thoát): Tâm được
giải thoát khỏi các lậu hoặc,
chứng đạt Niết bàn.
.SỚ GIẢI
156-159. nandikkhayavaggassa paṭhame nandikkhayā rāgakkhayo,
rāgakkhayā nandikkhayoti nandiyā
ca rāgassa ca atthato ekattā
vuttaṃ. suvimuttanti
arahattaphalavimuttivasena
suṭṭhu vimuttaṃ. sesamettha
dutiyādīsu ca uttānameva.
“156–159. Trong bài đầu tiên của Nandikkhayavagga (Phẩm Sự Diệt Trừ Hỷ
Lạc):
Suvimuttanti: “Hoàn toàn giải thoát” được hiểu là
sự giải thoát rốt ráo với quả vị
A-la-hán.
Phần còn lại trong các bài kinh thứ hai trở đi thì đã quá rõ ràng (không
cần chú giải thêm).”
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận
155. I. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (S.iv,142)
1) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy mắt vô thường là vô
thường, thấy vậy là chánh tri
kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy
nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận
(nandi) nên tham tiêu tận. Do
tham tiêu tận nên duyệt hỷ tiêu
tận. Do duyệt hỷ, tham tiêu tận
nên tâm được gọi là khéo giải
thoát.
4-7) Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy tai vô thường là vô
thường... thấy mũi vô thường là
vô thường... thấy lưỡi vô thường
là vô thường... thấy thân vô
thường là vô thường...
8) Này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo thấy ý vô thường là vô
thường, thấy vậy là chánh tri
kiến. Do thấy chơn chánh, vị ấy
nhàm chán. Do duyệt hỷ tiêu tận
nên tham tiêu tận. Do tham tiêu
tận nên duyệt hỷ tiêu tận. Do
duyệt hỷ, tham tiêu tận nên tâm
được gọi là khéo giải thoát.
156. II. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (2)(S.iv,142)
(Như kinh trên, chỉ khác là thế vào các sắc, các tiếng, các
hương, các vị, các xúc, các
pháp).
157. III. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (3)(S.iv,142)
1-2) ...
3) -- Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý mắt, và hãy như thật
chánh quán con mắt là vô thường.
Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý
con mắt và như thật chánh quán
con mắt là vô thường, Tỷ-kheo
nhàm chán đối với con mắt. Do
duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu
tận. Do tham tiêu tận nên duyệt
hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham
tiêu tận nên tâm được gọi là
khéo giải thoát.
4-7) Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý tai... mũi... lưỡi...
thân...
8) Này các Tỷ-kheo, hãy như lý tác ý và như thật chánh quán
ý là vô thường. Này các Tỷ-kheo,
do như lý tác ý và như thật
chánh quán ý là vô thường,
Tỷ-kheo nhàm chán đối với ý. Do
duyệt hỷ tiêu tận nên tham tiêu
tận. Do tham tiêu tận nên duyệt
hỷ tiêu tận. Do duyệt hỷ, tham
tiêu tận nên tâm được gọi là
khéo giải thoát.
158. IV. Duyệt Hỷ Tiêu Tận (4)(S.iv,143)
(Như kinh trên chỉ thế vào các sắc, các tiếng, các hương,
các vị, các xúc và các pháp) -ooOoo- |