|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 05 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 658. THÂN AN TỊNH, TÂM AN TỊNH - Kinh Mahākappina (Mahākappinasuttaṃ) . ![]()
Đoạn kinh này trình bày một hình ảnh lý tưởng của hành giả tu
thiền: thân không rung động, tâm không dao động. Tuy nhiên, sự
“bất động” này không phải là sự ép buộc thân thể hay ức chế tâm
lý, mà là kết quả tự nhiên của một tiến trình định tâm được phát
triển đúng đắn qua niệm hơi thở. Khi thân hành được an tịnh, hơi
thở trở nên vi tế; khi tâm hành được an tịnh, các dao động vi tế
của tham, sân, si cũng lắng xuống. Điểm đặc biệt của đoạn kinh
là Đức Phật không ca ngợi tôn giả Mahākappina vì tư thế ngồi, mà
vì chất sự an tịnh nội tâm biểu hiện qua sự bất động ấy. Sự vững
chãi bên ngoài chỉ là biểu hiện của một sự vững chãi bên trong.
Và sự vững chãi ấy không đến từ ý chí, mà từ sự buông bỏ dần dần
các cấu uế của tâm qua niệm hơi thở. Đồng thời, bài kinh cũng
xác định rõ rằng định chân chính không phải là trạng thái cứng
nhắc, mà là một sự ổn định linh hoạt, có thể đạt được “theo ý
muốn” khi tâm đã được huấn luyện thuần thục. Điều này cho thấy
thiền không phải là một kinh nghiệm ngẫu nhiên, mà là một kỹ
năng có thể phát triển đến mức tự tại. Cuối cùng, bằng việc nhấn
mạnh bước “quán từ bỏ”, Đức Phật cho thấy rằng mục tiêu tối hậu
không phải là bất động, mà là giải thoát. Bất động chỉ là dấu
hiệu; buông bỏ mới là bản chất. Do đó, niệm hơi thở không chỉ
dẫn đến sự tĩnh lặng, mà còn mở ra con đường đi đến sự chấm dứt
hoàn toàn mọi dao động của khổ đau.
Kinh Văn
983. sāvatthinidānaṃ. tena kho
pana samayena āyasmā mahākappino bhagavato avidūre nisinno hoti
pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ
upaṭṭhapetvā. addasā kho bhagavā āyasmantaṃ mahākappinaṃ avidūre
nisinnaṃ pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ
satiṃ upaṭṭhapetvā. disvāna bhikkhū āmantesi —
Tại Sāvatthī.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahākappina đang ngồi không xa Thế Tôn, xếp chân kiết
già, thân thẳng, thiết lập chánh niệm trước mặt.
Thế Tôn thấy Tôn giả Mahākappina ngồi gần, xếp chân kiết già, thân thẳng,
thiết lập chánh niệm trước mặt. Sau khi thấy vậy, Ngài nói với
các Tỳ-khưu:
“Này các Tỳ-khưu, các Thầy có thấy nơi thân vị Tỳ-khưu này có sự rung động
hay dao động nào không?”
“Bạch Thế Tôn, mỗi khi chúng con thấy vị Tôn giả ấy, dù ngồi giữa Tăng
chúng hay ngồi riêng một mình, chúng con không bao giờ thấy nơi
thân vị ấy có sự rung động hay dao động nào.”
“Này các Tỳ-khưu, vị Tỳ-khưu ấy đạt được, theo ý muốn, không khó khăn,
không mệt nhọc, loại định mà do tu tập và làm cho sung mãn,
không có sự rung động hay dao động nơi thân, và không có sự rung
động hay dao động nơi tâm.
Và này các Tỳ-khưu, đó là loại định nào mà do tu tập và làm cho sung mãn,
không có sự rung động hay dao động nơi thân, và không có sự rung
động hay dao động nơi tâm?
Này các Tỳ-khưu, chính là khi định do niệm hơi thở được tu tập và làm cho
sung mãn, thì không có sự rung động hay dao động nơi thân, và
không có sự rung động hay dao động nơi tâm.
Và này các Tỳ-khưu, định do niệm hơi thở được tu tập và làm cho sung mãn
như thế nào để không có sự rung động hay dao động nơi thân và
nơi tâm?
Ở đây, này các Tỳ-khưu, một vị Tỳ-khưu đi đến rừng, đến gốc cây, hoặc đến
một am trống, ngồi xuống; xếp chân kiết già, thân thẳng, thiết
lập chánh niệm trước mặt, chỉ chánh niệm, vị ấy thở vào; chánh
niệm, vị ấy thở ra…
Vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập: ‘Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở ra.’
Này các Tỳ-khưu, chính khi định do niệm hơi thở được tu tập và làm cho
sung mãn như vậy, thì không có sự rung động hay dao động nơi
thân, và không có sự rung động hay dao động nơi tâm.”
Chú Thích
Tôn giả Mahā Kappina (Đại Kiếp Tân Na) một trong những đại đệ tử xuất chúng
của Đức Phật, được xem là bậc đệ nhất trong những vị giáo huấn
chư Tỳ-khưu (bhikkhuovādakānaṃ) (A.i.25).
Ngài lớn tuổi hơn Đức Phật, sinh ra tại một vương quốc biên địa rộng ba
trăm do-tuần, tại thành Kukkutavatī. Sau khi vua cha qua đời,
ngài lên ngôi với danh hiệu Mahā Kappina. Hoàng hậu chính là
Anojā, người thành Sāgala thuộc xứ Madda. Bà là bạn đồng hành
thiện nghiệp của ngài từ nhiều đời trước.
Mỗi buổi sáng, Mahā Kappina sai người ra bốn cổng thành để tìm những học
giả hay người trí thức đi ngang qua, rồi báo lại cho mình. Ngài
có năm con ngựa báu, trong đó chỉ mình cưỡi con Supatta.
Một ngày nọ, sau khi Đức Phật xuất hiện trên đời, các thương nhân từ
Sāvatthī đến. Khi được hỏi về giáo pháp, họ nói không thể trả
lời khi chưa súc miệng. Sau khi làm sạch, họ kể về Đức Phật.
Khi nghe đến từ “Buddha”, thân vua tràn đầy hỷ lạc. Ngài yêu cầu họ lặp
lại ba lần, và mỗi lần ban thưởng lớn. Sau khi nghe về Pháp và
Tăng, ngài từ bỏ vương vị, cùng các đại thần lên đường tìm Đức
Phật.
Họ vượt ba con sông bằng “chân thật ngôn”: “Nếu vị này là Chánh Đẳng Giác,
xin cho móng ngựa không ướt nước.” Đức Phật dùng thiên nhãn thấy
họ, bay đến bờ sông Candabhāgā, ngồi dưới cây đa lớn và phóng
hào quang.
Mahā Kappina và đoàn tùy tùng đảnh lễ. Sau khi nghe pháp, họ chứng
A-la-hán và được xuất gia với lời “Ehi bhikkhu”. Hoàng hậu Anojā
và các phu nhân cũng xuất gia và chứng nhập dòng Thánh.
Tôn giả Mahā Kappina thường sống trong hỷ lạc của thiền định (jhāna),
thường thốt lên: “Aho sukham! Aho sukham!” (Ôi hạnh phúc thay!)
Điều này khiến các Tỳ-khưu tưởng ngài nhớ đời sống vương giả,
nhưng Đức Phật đã giải thích đó là niềm lạc của thiền.
Một lần, Đức Phật thấy ngài sống an lạc mà không giảng pháp, nên khuyến
khích ngài giáo hóa. Sau một thời pháp, một ngàn tỳ khưu chứng
A-la-hán.
Ngài có thần thông lớn, chứng đủ các thiền định, và thường đi cùng Tôn giả
Sāriputta.
“Không rung động nơi thân” (kāyassa aniñjana) không chỉ là thân ngồi yên mà là an tịnh
thân hành (kāyasaṅkhāra) tức hơi thở
trở nên cực kỳ vi tế.
“Không rung động nơi tâm” (cittassa aniñjana) không chỉ là không suy nghĩ mà là
tâm không còn dao động
bởi tham, sân, si. Đây là trạng thái định thuần tịnh.
“Đạt định theo ý muốn” (labhati icchiticchitaṃ) – .
Vị ấy xuất nhập định tự tại. Đây là dấu
hiệu của định đã thuần thục (vasī-bhāva)
Sớ Giải
983. sattame iñjitattaṃ vā phanditattaṃ vāti ubhayenapi
calanameva kathitaṃ.
“983. Ở bài kinh thứ bảy, ‘iñjitattaṃ vā phanditattaṃ
vā’ — cả hai đều được nói đến chỉ là sự dao động .”
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập V - Thiên Ðại Phẩm
Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
-ooOoo-
I. Phẩm Một Pháp
7. VII. Kappina (S.v,315)
1-2) Tại Sàvatthi...
3) Lúc bấy giờ Tôn giả Mahà Kappina đang ngồi kiết-già, không xa
bao nhiêu, thân thẳng, để niệm trước mặt.
4) Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina ngồi kiết-già, không xa bao
nhiêu, thân thẳng, để niệm trước mặt. Thấy vậy, Ngài liền gọi
các Tỷ-kheo:
-- Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy Tỷ-kheo ấy, thân có rung
động hay có dao động không?
5) -- Bạch Thế Tôn, chúng con thấy vị Tôn giả ấy ngồi giữa Tăng
chúng hay ngồi một mình, độc cư; chúng con không thấy vị Tôn giả
ấy thân bị rung động hay dao động.
6) -- Ðối với một vị có Thiền định như vậy, này các Tỷ-kheo, nhờ
tu tập, nhờ làm cho sung mãn, nên thân vị ấy không rung động hay
dao động, nên tâm vị ấy không rung động hay dao động. Ðối với vị
Tỷ-kheo ấy, được định như vậy, không có khó khăn, không có gian
nan, không có mệt nhọc.
7) Và này các Tỷ-kheo, vị ấy tu tập, làm cho sung mãn định nào
mà thân không rung động, không dao động, hay tâm không rung
động, không dao động? Này các Tỷ-kheo, do vị ấy tu tập, làm cho
sung mãn định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, nên thân không rung
động, không dao động, hoặc tâm không rung động hay không dao
động.
8) Và này các Tỷ-kheo, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra tu tập
như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào mà thân không rung
động hay không dao động, hoặc tâm không rung động hay không dao
động?
9-15) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị ấy đi đến khu rừng, hay đi đến
gốc cây, hay đi đến căn nhà trống, ngồi-kiết già... "Quán từ bỏ,
tôi sẽ thở vô", vị ấy tập, "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập.
16) Nhờ tu tập như vậy, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này
các Tỷ-kheo, nhờ làm cho sung mãn như vậy nên thân không bị rung
động hay không dao động, hoặc tâm không rung động hay không dao
động.
|