|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 06 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 659. LỢI LẠC RỘNG LỚN CỦA NIỆM HƠI THỞ - Kinh Ví Dụ Ngọn Đèn (Padīpopamasuttaṃ) . ![]()
Trong bài kinh tuyệt vời này, Đức Phật đã trao cho chúng ta một
món quà vô giá: một pháp môn vừa giản dị nhất, vừa toàn diện
nhấn. Ngài không nói suông, mà tự kể rằng ngay cả khi còn là
Bồ-tát, Ngài cũng chọn niệm hơi thở làm trú xứ chính. Điều đó
cho thấy đây không phải pháp môn dành cho người mới bắt đầu, mà
là con đường mà chính Đấng Giác Ngộ đã đi qua. Điều kỳ diệu của
niệm hơi thở nằm ở sự toàn diện và nhẹ nhàng. Nó giúp thân không
mệt, mắt không mỏi — một ân huệ hiếm có trong các đề mục thiền
khác. Hơn nữa, nó như một ngọn đèn nhỏ bé nhưng có khả năng
chiếu sáng cả bầu trời tuệ giác: từ Sơ thiền cho đến Diệt thọ
tưởng định. Từ nền tản của quán niệm hơi thở vào-ra, hành giả có
thể đi qua tất cả các tầng thiền, vượt qua mọi biên giới của
tưởng tri, và cuối cùng chạm đến bến bờ giải thoát.
Kinh Văn
Padīpopamasuttaṃ
984.
“ānāpānassatisamādhi, bhikkhave, bhāvito bahulīkato mahapphalo
hoti mahānisaṃso. kathaṃ bhāvito ca, bhikkhave,
ānāpānassatisamādhi kathaṃ bahulīkato mahapphalo hoti
mahānisaṃso? “idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā
rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā
ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova
assasati, satova passasati. dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ
assasāmī’ti pajānāti ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī
assasissāmī’ti sikkhati, ‘ paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti
sikkhati. evaṃ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṃ
bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso.
«Này các Tỳ khưu, định do niệm hơi thở, khi được phát triển và tu tập,
mang lại quả lớn và lợi ích lớn. Và như thế nào, này các Tỳ
khưu, định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại
quả lớn và lợi ích lớn?
Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu đi đến rừng, đến chân cây, hoặc đến một am
thất trống vắng, ngồi xuống, kiết già, thân thẳng, đặt niệm
trước mặt, chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra… Vị ấy tập như
sau: ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập như sau: ‘Quán xả
ly, tôi sẽ thở ra’.
Này các Tỳ khưu, định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập như vậy là
mang lại quả lớn và lợi ích lớn.
Này các Tỳ khưu, trước khi Ta giác ngộ, khi còn là Bồ-tát chưa thành Chánh
Đẳng Chánh Giác, Ta thường an trú trong trú xứ này. Khi Ta an
trú trong trú xứ này, thân Ta không mệt mỏi, mắt Ta không mệt
mỏi, và tâm Ta, do không chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu
hoặc.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng thân Ta
không mệt mỏi, mắt Ta không mệt mỏi, và tâm Ta, do không chấp
thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc’, thì vị ấy nên thường
xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng những ký ức
và ý hướng liên hệ với đời sống gia đình được Ta từ bỏ’, thì vị
ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng Ta an trú
quán bất tịnh trong các pháp khả ái’, … ‘quán khả ái trong các
pháp bất tịnh’, … ‘quán bất tịnh trong cả hai’, … ‘quán khả ái
trong cả hai’, … ‘tránh cả hai, an trú xả, chánh niệm, tỉnh
giác’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở
này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Ly dục, ly bất thiện
pháp, Ta nhập và an trú sơ thiền — một trạng thái hỷ lạc do ly
dục sanh, có tầm, có tứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành
định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự lắng dịu của
tầm và tứ, Ta nhập và an trú nhị thiền — một trạng thái hỷ lạc
do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thì vị
ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự ly hỷ, Ta an
trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, nhập và an trú
tam thiền, mà các bậc Thánh tuyên bố
là “xả niệm lạc trú"’,
thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự đoạn tận lạc
và khổ, với sự diệt trừ hỷ ưu đã có trước, Ta nhập và an trú Tứ
thiền — không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh’, thì vị ấy
nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự vượt qua hoàn
toàn các tưởng về sắc, với sự chấm dứt các tưởng chạm xúc, với
sự không chú ý đến các tưởng sai biệt, nhận thức “không gian là
vô biên”, Ta nhập và an trú Không vô biên xứ’, thì vị ấy nên
thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn
Không vô biên xứ, nhận thức “thức là vô biên”, Ta nhập và an trú
Thức vô biên xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do
niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn
Thức vô biên xứ, nhận thức “không có gì”, Ta nhập và an trú Vô
sở hữu xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm
hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn Vô
sở hữu xứ, Ta nhập và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ’, thì vị
ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.
Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn
Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta nhập và an trú Diệt thọ tưởng
định’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở
này.
Này các Tỳ khưu, khi định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập như
vậy, nếu vị ấy cảm thọ một lạc thọ, vị ấy hiểu: ‘Thọ này là vô
thường’; hiểu: ‘Thọ này không đáng chấp thủ’; hiểu: ‘Thọ này
không đáng hoan hỷ’. Nếu cảm thọ một khổ thọ, vị ấy hiểu: ‘Thọ
này là vô thường’… Nếu cảm thọ một phi lạc phi khổ thọ, vị ấy
hiểu: ‘Thọ này là vô thường’…
Nếu cảm thọ một lạc thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham; nếu cảm thọ
một khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham; nếu cảm thọ một
phi lạc phi khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham.
Khi cảm thọ một thọ chấm dứt với thân, vị ấy hiểu: ‘Ta đang cảm thọ một
thọ chấm dứt với thân’. Khi cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng
sống, vị ấy hiểu: ‘Ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng
sống’. Vị ấy hiểu: ‘Với sự hoại diệt của thân, sau khi mạng sống
chấm dứt, mọi thọ kia, không hoan hỷ, sẽ trở nên thanh lương
(mát lạnh) ngay tại đây’.
Này các Tỳ khưu, ví như ngọn đèn cháy nhờ dầu và tim đèn; khi dầu và tim
đèn cạn kiệt, ngọn đèn ấy tắt vì thiếu nhiên liệu. Cũng vậy, này
các Tỳ khưu, khi Tỳ khưu cảm thọ một thọ chấm dứt với thân… chấm
dứt với mạng sống… vị ấy hiểu: ‘Với sự hoại diệt của thân, sau
khi mạng sống chấm dứt, mọi thọ kia, không hoan hỷ, sẽ trở nên
thanh lương (mát lạnh) ngay tại đây’.»
Chú Thích
Bài kinh này là một trong những bản trình bày hoàn chỉnh nhất về năng lực
của niệm hơi thở, không chỉ như một đề mục thiền mà như một toàn
bộ con đường giải thoát. Điểm đặc biệt là Đức Phật xác nhận
chính Ngài, khi còn là Bồ-tát, đã an trú trong pháp này—qua đó
nâng niệm hơi thở lên vị trí trung tâm của thiền học. Chuỗi mô
tả từ định sinh ra sự không mệt mỏi, từ không chấp thủ sinh ra
giải thoát, và từ giải thoát phát sinh khả năng vượt qua mọi
tầng thiền và vô sắc định. Điều này cho thấy niệm hơi thở không
chỉ dẫn đến định, mà còn làm nền cho tuệ quán về vô thường và
không chấp thủ đối với cảm thọ. Ẩn dụ ngọn đèn là đỉnh cao của
bài kinh. Ngọn đèn không bị “dập tắt” bởi một lực bên ngoài, mà
tự tắt khi nhiên liệu cạn. Tương tự, hành giả không cần “tiêu
diệt” cảm thọ, mà chỉ cần không nuôi dưỡng chúng bằng sự hoan hỷ
và chấp thủ. Khi không còn nhiên liệu của tham ái, toàn bộ tiến
trình cảm thọ tự nhiên thanh lương (mát lạnh). Như vậy, giải
thoát không phải là một hành động, mà là một sự chấm dứt các
nhân tố làm nuôi dưỡng ngọn lửa khổ đau. Niệm hơi thở, trong ý
nghĩa sâu nhất, mà là học cách không tiếp nhiên liệu cho luân
hồi. Và khi nhiên liệu không còn, ngọn đèn khổ đau lặng lẽ
tắt—không tiếng động, không kịch tính, chỉ còn lại sự tĩnh lặng
tuyệt đối của Niết-bàn.
"Cả thân và mắt không mệt mỏi" (Neva kāyopi kilamati na
cakkhūnīti): Đây là
điểm đặc thù nhất của Niệm Hơi Thở. Theo chú giải, các đề mục
thiền khác như quán Kasiṇa (Biến xứ) đòi hỏi việc nhìn tập trung vào vật thể bên
ngoài dễ gây mỏi mắt, hoặc quán nguyên tố (Giới) (Phân tích tứ
đại) đòi hỏi tư duy phân tích căng thẳng gây mệt thân. Niệm hơi
thở là sự cảm nhận luồng gió tự nhiên, giúp cơ bắp thả lỏng hoàn
toàn và hệ thần kinh thị giác được nghỉ ngơi.
Sự "Ước nguyện" và Tính linh hoạt liệt
kê một danh sách dài các ước nguyện: từ việc bỏ tâm niệm gia
đình, quán tịnh / bất tịnh, cho đến các tầng thiền Sắc giới và
Vô sắc giới. Điều này cho thấy Niệm Hơi Thở không phải là một
"ngõ cụt" định tâm mà là một "xa lộ" dẫn đến mọi trạng thái tâm
thức cao thượng.
Tướng hơi thở (Ānāpānanimitta): Chú giải nhắc đến việc ấn tướng hơi thở hiện ra như "chuỗi ngọc trai" hay
"ngôi sao". Đây là trạng thái khi hơi thở thô biến thành hơi thở
vi tế, năng lượng được định hình thành ánh sáng trong tâm thức
hành giả.
Ví dụ Ngọn đèn dầu: Hình ảnh ngọn đèn tắt khi dầu cạn và tim lụi là biểu tượng kinh điển cho
sự giải thoát của bậc A-la-hán. Khi "dầu" (Ái dục) và "tim đèn"
(Các hành) cạn kiệt, lửa khổ đau không còn chỗ để bám trụ.
Niệm Hơi Thở như một chiếc chìa khóa vạn năng cho hành giả tu tập. Dù muốn dọn dẹp những
ký ức trần tục, muốn rèn luyện tri giác linh hoạt (quán tịnh
trong bất tịnh), hay muốn thâm nhập vào những tầng không gian vô
biên của các định Vô sắc, câu trả lời vẫn luôn là: "Chính định
niệm hơi thở này cần phải được chú tâm hành trì". Điều này khẳng
định tính toàn diện của pháp môn: nó đủ đơn giản cho người mới
bắt đầu và đủ thâm sâu cho bậc Thánh đạt đến Diệt thọ tưởng
định.
Sự “Mát Lạnh" tối hậu trong đoạn kết của bài kinh mang một vẻ
đẹp u mặc và tĩnh lặng tuyệt đối. Sự giải thoát không được mô tả
như một sự bùng nổ huy hoàng, mà là một sự "mát lạnh ngay tại
đây" (sīti bhavissanti). Niệm hơi thở dẫn hành giả đi từ việc
quán sát sự sống (hơi thở vào-ra) đến việc thấu triệt sự kết
thúc của sự sống (ngọn đèn tắt).
Khi một hành giả niệm hơi thở đủ sâu, họ không còn sợ hãi cái chết hay sự
tan rã của thân. Họ hiểu rằng khi "dầu" ái dục đã cạn, sự chấm
dứt của cảm thọ chỉ đơn giản là một quá trình làm mát tự nhiên,
đưa tâm thức về với trạng thái tịch tịnh tuyệt đối, nơi mọi rung
động của khổ đau đều dừng lại.
Sớ giải cũng ghi lại cuộc tranh luận thú vị giữa hai vị Trưởng lão nổi
tiếng: Trưởng lão Cūḷābhaya cho rằng Nimitta (ấn tướng) của hơi
thở có thể dùng như một cơ sờ để chuyển sang các tầng định vô
sắc.Tuy nhiên, quan điểm chung của chú giải (qua ví dụ về kinh
thành) là: Niệm hơi thở đóng vai trò như nền tảng tối ưu. Khi đã
làm chủ được "Kinh thành Niệm Hơi Thở", tâm bạn trở nên cực kỳ
nhu nhuyễn. Từ nền tảng đó, việc chuyển sang quán vô sắc hay đắc
Diệt tận định trở nên vô cùng dễ dàng.
Sớ Giải
984. aṭṭhame neva kāyopi kilamati
na cakkhūnīti aññesu hi kammaṭṭhānesu kammaṃ karontassa kāyopi
kilamati, cakkhūnipi vihaññanti. dhātukammaṭṭhānasmiñhi kammaṃ
karontassa kāyo kilamati, yante pakkhipitvā pīḷanākārappatto
viya hoti. kasiṇakammaṭṭhāne kammaṃ karontassa cakkhūni
phandanti kilamanti, nikkhamitvā patanākārappattāni viya honti.
imasmiṃ pana kammaṭṭhāne kammaṃ karontassa neva kāyo kilamati,
na akkhīni vihaññanti. tasmā evamāha. sabbaso rūpasaññānantiādi
kasmā vuttaṃ, kiṃ ānāpāne kasiṇugghāṭanaṃ labbhatīti?
tipiṭakacūḷābhayatthero panāha — “yasmā ānāpānanimittaṃ
tārakarūpamuttāvalikādisadisaṃ hutvā paññāyati, tasmā tattha
kasiṇugghāṭanaṃ labbhatī”ti.
Trong bài kinh thứ tám, cụm từ "không mệt mỏi cả thân lẫn mắt" được
nói đến vì khi thực hành các đề mục thiền khác, thân có thể bị
mệt và mắt có thể bị tổn thương. Ví dụ, khi quán về các nguyên
tố (Giới - Dhātu), thân hành giả mệt mỏi như thể bị ném
vào máy ép và bị nghiền nát. Khi thực hành đề mục Kasiṇa (thiền
án biến xứ), đôi mắt có thể bị rung động, mệt mỏi, cảm giác như
thể chúng sắp rơi ra ngoài. Nhưng đối với người thực hành đề mục
này (Niệm hơi thở), cả thân không mệt mỏi, mắt cũng không bị tổn
thương. Vì vậy Thế Tôn mới dạy như thế.
Về các tầng thiền vô sắc (Arūpa):
Vì sao lại nói đến việc vượt qua "Sắc tưởng" (Rūpasaññā)? Liệu trong Niệm
hơi thở có thể thực hiện việc "Loại bỏ Kasiṇa" (Kasiṇugghāṭanaṃ)
để vào định vô sắc không?
Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷābhaya nói rằng: "Vì Nimitta (tướng) của Niệm hơi thở hiện ra giống như hình
ngôi sao hay chuỗi ngọc trai, nên tại đó việc dẹp bỏ Kasiṇa để
vào vô sắc là có thể thực hiện được."
Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷanāga lại nói: "Không thể được."
Nếu không thể được, vậy tại sao các bậc Thánh lại liệt kê các tầng định vô
sắc và Thần lực của bậc Thánh (Ariyiddhi) ở đây? Đó là để
hiển thị lợi ích (ānisaṃsa). Nếu một vị Tỳ-khưu mong cầu Thần
lực của bậc Thánh, bốn tầng thiền Sắc giới, bốn tầng định vô sắc
giới, hay Diệt thọ tưởng định, vị ấy cần phải chú tâm hành trì
kỹ lưỡng định niệm hơi thở này.
Ví như khi một kinh thành đã được chiếm lĩnh, thì mọi sản vật từ bốn
phương đều đổ vào kinh thành qua bốn cửa; kinh thành ấy cũng làm
chủ luôn cả vùng thôn quê xung quanh. Đó chính là lợi ích của
việc làm chủ kinh thành. Cũng vậy, các trạng thái như Thần lực
bậc Thánh, các tầng định... chính là lợi ích của việc tu tập
Định Niệm Hơi Thở. Khi Định Niệm Hơi Thở được tu tập viên mãn về
mọi mặt, hành giả sẽ thành tựu tất cả những điều ấy. Những điều
này được nói ra là để cho thấy lợi ích to lớn của pháp môn này.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập V - Thiên Ðại Phẩm
Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
-ooOoo-
I. Phẩm Một Pháp
8. VIII. Ngọn Ðèn (S.v,316)
1-2) Sàvatthi... nói như sau:
3) -- Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu
tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và
này các Tỷ-kheo, tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như thế
nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích
lớn?
4-10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi
đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống... "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
11) Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, tu tập
như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời có quả lớn, có lợi ích
lớn.
12) Này các Tỷ-kheo, Ta trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh
Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta trú nhiều với trú này. Này các
Tỷ-kheo, do Ta trú nhiều với trú này, thân Ta và con mắt không
có mệt nhọc; và tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không
có chấp thủ.
13) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng thân và mắt khỏi bị mệt mỏi, và mong rằng tâm tôi được giải
thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ", thời định niệm hơi
thở vô và hơi thở ra này cần phải khéo tác ý.
14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận", thời định niệm
hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý.
15) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm
chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được
khéo tác ý.
16) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm
chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được
khéo tác ý.
17) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ
trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm
chán", thời định niệm...
18) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ
trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và
không nhàm chán", thời định niệm...
19) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ
trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời định niệm...
20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền
thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ",
thời định niệm...
21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm,
không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm...
22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà
các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú
Thiền thứ ba", thời định niệm...
23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong
rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi
chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm
thanh tịnh", thời định niệm...
24) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt
qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không
tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: "Hư không là vô biên",
chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm...
25) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt
qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: "Thức là vô
biên", tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời
định niệm...
26) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt
qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật
gì’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm...
27) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt
qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú
Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở
ra này cần phải được khéo tác ý.
28) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt
qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng
đạt và an trú Diệt thọ tưởng định", thời định niệm hơi thở vô,
hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.
29) Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy,
này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm
giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ
biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có
hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết:
"Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ
ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm
giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường".
Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết:
"Không có hoan duyệt thọ ấy".
30) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị
trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không
bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy
được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm
thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm
giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm
giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ
biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh
mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả
mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát
lạnh".
31) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây
đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến
tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận
cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một
cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi Tỷ-kheo cảm giác
một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết:
"Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng".
Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả những gì
được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát
lạnh".
|