BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 06 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 54. Tương Ưng Nhập Tức Xuất Tức Niệm-...- SN 54.8
Bài 659. LỢI LẠC RỘNG LỚN CỦA NIỆM HƠI THỞ -

Kinh Ví Dụ Ngọn Đèn (Padīpopamasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-659.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong bài kinh tuyệt vời này, Đức Phật đã trao cho chúng ta một món quà vô giá: một pháp môn vừa giản dị nhất, vừa toàn diện nhấn. Ngài không nói suông, mà tự kể rằng ngay cả khi còn là Bồ-tát, Ngài cũng chọn niệm hơi thở làm trú xứ chính. Điều đó cho thấy đây không phải pháp môn dành cho người mới bắt đầu, mà là con đường mà chính Đấng Giác Ngộ đã đi qua. Điều kỳ diệu của niệm hơi thở nằm ở sự toàn diện và nhẹ nhàng. Nó giúp thân không mệt, mắt không mỏi — một ân huệ hiếm có trong các đề mục thiền khác. Hơn nữa, nó như một ngọn đèn nhỏ bé nhưng có khả năng chiếu sáng cả bầu trời tuệ giác: từ Sơ thiền cho đến Diệt thọ tưởng định. Từ nền tản của quán niệm hơi thở vào-ra, hành giả có thể đi qua tất cả các tầng thiền, vượt qua mọi biên giới của tưởng tri, và cuối cùng chạm đến bến bờ giải thoát.

Kinh Văn

Padīpopamasuttaṃ

 984. “ānāpānassatisamādhi, bhikkhave, bhāvito bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso. kathaṃ bhāvito ca, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi kathaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso? “idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova assasati, satova passasati. dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘ paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati. evaṃ bhāvito kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhi evaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso.
“ahampi sudaṃ, bhikkhave, pubbeva sambodhā anabhisambuddho bodhisattova samāno iminā vihārena bahulaṃ viharāmi. tassa mayhaṃ, bhikkhave, iminā vihārena bahulaṃ viharato neva kāyo kilamati na cakkhūni; anupādāya ca me āsavehi cittaṃ vimucci.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘neva me kāyo kilameyya na cakkhūni, anupādāya ca me āsavehi cittaṃ vimucceyyā’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘ye me gehasitā sarasaṅkappā te pahīyeyyun’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘appaṭikūle paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘paṭikūle appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca paṭikūlasaññī vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘paṭikūle ca appaṭikūle ca appaṭikūlasaññī vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘appaṭikūlañca paṭikūlañca tadubhayaṃ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṃ sato sampajāno’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo. “tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṃ savicāraṃ vivekajaṃ pītisukhaṃ paṭhamaṃ jhānaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘vitakkavicārānaṃ vūpasamā ajjhattaṃ sampasādanaṃ cetaso ekodibhāvaṃ avitakkaṃ avicāraṃ samādhijaṃ pītisukhaṃ dutiyaṃ jhānaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo. “tasmātiha bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘pītiyā ca virāgā upekkhako ca vihareyyaṃ sato ca sampajāno, sukhañca kāyena paṭisaṃvedeyyaṃ, yaṃ taṃ ariyā ācikkhanti — upekkhako satimā sukhavihārīti tatiyaṃ jhānaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sukhassa ca pahānā dukkhassa ca pahānā pubbeva somanassadomanassānaṃ atthaṅgamā adukkhamasukhaṃ upekkhāsatipārisuddhiṃ catutthaṃ jhānaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sabbaso rūpasaññānaṃ samatikkamā paṭighasaññānaṃ atthaṅgamā nānattasaññānaṃ amanasikārā ananto ākāsoti ākāsānañcāyatanaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo. “tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sabbaso ākāsānañcāyatanaṃ samatikkamma anantaṃ viññāṇanti viññāṇañcāyatanaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sabbaso viññāṇañcāyatanaṃ samatikkamma natthi kiñcīti ākiñcaññāyatanaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo. “tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sabbaso ākiñcaññāyatanaṃ samatikkamma nevasaññānāsaññāyatanaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“tasmātiha, bhikkhave, bhikkhu cepi ākaṅkheyya — ‘sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṃ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṃ upasampajja vihareyyan’ti, ayameva ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasi kātabbo.
“evaṃ bhāvite kho, bhikkhave, ānāpānassatisamādhimhi evaṃ bahulīkate, sukhaṃ ce vedanaṃ vedayati, sā ‘aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti; dukkhaṃ ce vedanaṃ vedayati, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti; adukkhamasukhaṃ ce vedanaṃ vedayati, ‘sā aniccā’ti pajānāti, ‘anajjhositā’ti pajānāti, ‘anabhinanditā’ti pajānāti”.
“sukhaṃ {so sukhaṃ (sī. syā. kaṃ. pī.) ma. ni. 3.364 aṭṭhakathāṭīkā oloketabbā} ce vedanaṃ vedayati, visaṃyutto naṃ vedayati; dukkhaṃ ce vedanaṃ vedayati, visaṃyutto naṃ vedayati; adukkhamasukhaṃ ce vedanaṃ vedayati, visaṃyutto naṃ vedayati. so kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, ‘kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānāti”.
“seyyathāpi, bhikkhave, telañca paṭicca, vaṭṭiñca paṭicca telappadīpo jhāyeyya, tasseva telassa ca vaṭṭiyā ca pariyādānā anāhāro nibbāyeyya; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘kāyapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayamāno ‘jīvitapariyantikaṃ vedanaṃ vedayāmī’ti pajānāti, ‘kāyassa bhedā uddhaṃ jīvitapariyādānā idheva sabbavedayitāni anabhinanditāni sītībhavissantī’ti pajānātī”ti. aṭṭhamaṃ.

«Này các Tỳ khưu, định do niệm hơi thở, khi được phát triển và tu tập, mang lại quả lớn và lợi ích lớn. Và như thế nào, này các Tỳ khưu, định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?

Ở đây, này các Tỳ khưu, Tỳ khưu đi đến rừng, đến chân cây, hoặc đến một am thất trống vắng, ngồi xuống, kiết già, thân thẳng, đặt niệm trước mặt, chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra… Vị ấy tập như sau: ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập như sau: ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở ra’.

Này các Tỳ khưu, định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập như vậy là mang lại quả lớn và lợi ích lớn.

Này các Tỳ khưu, trước khi Ta giác ngộ, khi còn là Bồ-tát chưa thành Chánh Đẳng Chánh Giác, Ta thường an trú trong trú xứ này. Khi Ta an trú trong trú xứ này, thân Ta không mệt mỏi, mắt Ta không mệt mỏi, và tâm Ta, do không chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng thân Ta không mệt mỏi, mắt Ta không mệt mỏi, và tâm Ta, do không chấp thủ, được giải thoát khỏi các lậu hoặc’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng những ký ức và ý hướng liên hệ với đời sống gia đình được Ta từ bỏ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Mong rằng Ta an trú quán bất tịnh trong các pháp khả ái’, … ‘quán khả ái trong các pháp bất tịnh’, … ‘quán bất tịnh trong cả hai’, … ‘quán khả ái trong cả hai’, … ‘tránh cả hai, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Ly dục, ly bất thiện pháp, Ta nhập và an trú sơ thiền — một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự lắng dịu của tầm và tứ, Ta nhập và an trú nhị thiền — một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự ly hỷ, Ta an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, thân cảm lạc thọ, nhập và an trú tam thiền, mà các bậc Thánh tuyên bố  là “xả niệm lạc trú"’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự đoạn tận lạc và khổ, với sự diệt trừ hỷ ưu đã có trước, Ta nhập và an trú Tứ thiền — không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Với sự vượt qua hoàn toàn các tưởng về sắc, với sự chấm dứt các tưởng chạm xúc, với sự không chú ý đến các tưởng sai biệt, nhận thức “không gian là vô biên”, Ta nhập và an trú Không vô biên xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn Không vô biên xứ, nhận thức “thức là vô biên”, Ta nhập và an trú Thức vô biên xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn Thức vô biên xứ, nhận thức “không có gì”, Ta nhập và an trú Vô sở hữu xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn Vô sở hữu xứ, Ta nhập và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Vì vậy, này các Tỳ khưu, nếu Tỳ khưu nào mong muốn: ‘Vượt qua hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ta nhập và an trú Diệt thọ tưởng định’, thì vị ấy nên thường xuyên thực hành định do niệm hơi thở này.

Này các Tỳ khưu, khi định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập như vậy, nếu vị ấy cảm thọ một lạc thọ, vị ấy hiểu: ‘Thọ này là vô thường’; hiểu: ‘Thọ này không đáng chấp thủ’; hiểu: ‘Thọ này không đáng hoan hỷ’. Nếu cảm thọ một khổ thọ, vị ấy hiểu: ‘Thọ này là vô thường’… Nếu cảm thọ một phi lạc phi khổ thọ, vị ấy hiểu: ‘Thọ này là vô thường’…

Nếu cảm thọ một lạc thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham; nếu cảm thọ một khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham; nếu cảm thọ một phi lạc phi khổ thọ, vị ấy cảm thọ nó một cách ly tham.

Khi cảm thọ một thọ chấm dứt với thân, vị ấy hiểu: ‘Ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với thân’. Khi cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống, vị ấy hiểu: ‘Ta đang cảm thọ một thọ chấm dứt với mạng sống’. Vị ấy hiểu: ‘Với sự hoại diệt của thân, sau khi mạng sống chấm dứt, mọi thọ kia, không hoan hỷ, sẽ trở nên thanh lương (mát lạnh) ngay tại đây’.

Này các Tỳ khưu, ví như ngọn đèn cháy nhờ dầu và tim đèn; khi dầu và tim đèn cạn kiệt, ngọn đèn ấy tắt vì thiếu nhiên liệu. Cũng vậy, này các Tỳ khưu, khi Tỳ khưu cảm thọ một thọ chấm dứt với thân… chấm dứt với mạng sống… vị ấy hiểu: ‘Với sự hoại diệt của thân, sau khi mạng sống chấm dứt, mọi thọ kia, không hoan hỷ, sẽ trở nên thanh lương (mát lạnh) ngay tại đây’.»

Chú Thích

Bài kinh này là một trong những bản trình bày hoàn chỉnh nhất về năng lực của niệm hơi thở, không chỉ như một đề mục thiền mà như một toàn bộ con đường giải thoát. Điểm đặc biệt là Đức Phật xác nhận chính Ngài, khi còn là Bồ-tát, đã an trú trong pháp này—qua đó nâng niệm hơi thở lên vị trí trung tâm của thiền học. Chuỗi mô tả từ định sinh ra sự không mệt mỏi, từ không chấp thủ sinh ra giải thoát, và từ giải thoát phát sinh khả năng vượt qua mọi tầng thiền và vô sắc định. Điều này cho thấy niệm hơi thở không chỉ dẫn đến định, mà còn làm nền cho tuệ quán về vô thường và không chấp thủ đối với cảm thọ. Ẩn dụ ngọn đèn là đỉnh cao của bài kinh. Ngọn đèn không bị “dập tắt” bởi một lực bên ngoài, mà tự tắt khi nhiên liệu cạn. Tương tự, hành giả không cần “tiêu diệt” cảm thọ, mà chỉ cần không nuôi dưỡng chúng bằng sự hoan hỷ và chấp thủ. Khi không còn nhiên liệu của tham ái, toàn bộ tiến trình cảm thọ tự nhiên thanh lương (mát lạnh). Như vậy, giải thoát không phải là một hành động, mà là một sự chấm dứt các nhân tố làm nuôi dưỡng ngọn lửa khổ đau. Niệm hơi thở, trong ý nghĩa sâu nhất, mà là học cách không tiếp nhiên liệu cho luân hồi. Và khi nhiên liệu không còn, ngọn đèn khổ đau lặng lẽ tắt—không tiếng động, không kịch tính, chỉ còn lại sự tĩnh lặng tuyệt đối của Niết-bàn.

"Cả thân và mắt không mệt mỏi" (Neva kāyopi kilamati na cakkhūnīti): Đây là điểm đặc thù nhất của Niệm Hơi Thở. Theo chú giải, các đề mục thiền khác như quán Kasiṇa (Biến xứ) đòi hỏi việc nhìn tập trung vào vật thể bên ngoài dễ gây mỏi mắt, hoặc quán nguyên tố (Giới) (Phân tích tứ đại) đòi hỏi tư duy phân tích căng thẳng gây mệt thân. Niệm hơi thở là sự cảm nhận luồng gió tự nhiên, giúp cơ bắp thả lỏng hoàn toàn và hệ thần kinh thị giác được nghỉ ngơi.

Sự "Ước nguyện" và Tính linh hoạt  liệt kê một danh sách dài các ước nguyện: từ việc bỏ tâm niệm gia đình, quán tịnh / bất tịnh, cho đến các tầng thiền Sắc giới và Vô sắc giới. Điều này cho thấy Niệm Hơi Thở không phải là một "ngõ cụt" định tâm mà là một "xa lộ" dẫn đến mọi trạng thái tâm thức cao thượng.

Tướng hơi thở (Ānāpānanimitta): Chú giải nhắc đến việc ấn tướng hơi thở hiện ra như "chuỗi ngọc trai" hay "ngôi sao". Đây là trạng thái khi hơi thở thô biến thành hơi thở vi tế, năng lượng được định hình thành ánh sáng trong tâm thức hành giả.

Ví dụ Ngọn đèn dầu: Hình ảnh ngọn đèn tắt khi dầu cạn và tim lụi là biểu tượng kinh điển cho sự giải thoát của bậc A-la-hán. Khi "dầu" (Ái dục) và "tim đèn" (Các hành) cạn kiệt, lửa khổ đau không còn chỗ để bám trụ.

Niệm Hơi Thở như một chiếc chìa khóa vạn năng cho hành giả tu tập. Dù muốn dọn dẹp những ký ức trần tục, muốn rèn luyện tri giác linh hoạt (quán tịnh trong bất tịnh), hay muốn thâm nhập vào những tầng không gian vô biên của các định Vô sắc, câu trả lời vẫn luôn là: "Chính định niệm hơi thở này cần phải được chú tâm hành trì". Điều này khẳng định tính toàn diện của pháp môn: nó đủ đơn giản cho người mới bắt đầu và đủ thâm sâu cho bậc Thánh đạt đến Diệt thọ tưởng định.

Sự “Mát Lạnh" tối hậu trong đoạn kết của bài kinh mang một vẻ đẹp u mặc và tĩnh lặng tuyệt đối. Sự giải thoát không được mô tả như một sự bùng nổ huy hoàng, mà là một sự "mát lạnh ngay tại đây" (sīti bhavissanti). Niệm hơi thở dẫn hành giả đi từ việc quán sát sự sống (hơi thở vào-ra) đến việc thấu triệt sự kết thúc của sự sống (ngọn đèn tắt).

Khi một hành giả niệm hơi thở đủ sâu, họ không còn sợ hãi cái chết hay sự tan rã của thân. Họ hiểu rằng khi "dầu" ái dục đã cạn, sự chấm dứt của cảm thọ chỉ đơn giản là một quá trình làm mát tự nhiên, đưa tâm thức về với trạng thái tịch tịnh tuyệt đối, nơi mọi rung động của khổ đau đều dừng lại.

Sớ giải cũng ghi lại cuộc tranh luận thú vị giữa hai vị Trưởng lão nổi tiếng: Trưởng lão Cūḷābhaya cho rằng Nimitta (ấn tướng) của hơi thở có thể dùng như một cơ sờ để chuyển sang các tầng định vô sắc.Tuy nhiên, quan điểm chung của chú giải (qua ví dụ về kinh thành) là: Niệm hơi thở đóng vai trò như nền tảng tối ưu. Khi đã làm chủ được "Kinh thành Niệm Hơi Thở", tâm bạn trở nên cực kỳ nhu nhuyễn. Từ nền tảng đó, việc chuyển sang quán vô sắc hay đắc Diệt tận định trở nên vô cùng dễ dàng.

Sớ Giải

984. aṭṭhame neva kāyopi kilamati na cakkhūnīti aññesu hi kammaṭṭhānesu kammaṃ karontassa kāyopi kilamati, cakkhūnipi vihaññanti. dhātukammaṭṭhānasmiñhi kammaṃ karontassa kāyo kilamati, yante pakkhipitvā pīḷanākārappatto viya hoti. kasiṇakammaṭṭhāne kammaṃ karontassa cakkhūni phandanti kilamanti, nikkhamitvā patanākārappattāni viya honti. imasmiṃ pana kammaṭṭhāne kammaṃ karontassa neva kāyo kilamati, na akkhīni vihaññanti. tasmā evamāha. sabbaso rūpasaññānantiādi kasmā vuttaṃ, kiṃ ānāpāne kasiṇugghāṭanaṃ labbhatīti? tipiṭakacūḷābhayatthero panāha — “yasmā ānāpānanimittaṃ tārakarūpamuttāvalikādisadisaṃ hutvā paññāyati, tasmā tattha kasiṇugghāṭanaṃ labbhatī”ti.
tipiṭakacūḷanāgatthero “na labbhatevā”ti āha. alabbhante ayaṃ ariyiddhiādiko pabhedo kasmā gahitoti? ānisaṃsadassanatthaṃ. ariyaṃ vā hi iddhiṃ cattāri vā rūpāvacarajjhānāni catasso vā arūpasamāpattiyo nirodhasamāpattiṃ vā patthayamānena bhikkhunā ayaṃ ānāpānassatisamādhi sādhukaṃ manasikātabbo. yathā hi nagare laddhe yaṃ catūsu disāsu uṭṭhānakabhaṇḍaṃ, taṃ catūhi dvārehi nagarameva pavisatīti, janapado laddho ca hoti. nagarasseva heso ānisaṃso. evaṃ ānāpānassatisamādhibhāvanāya ānisaṃso esa ariyiddhiādiko pabhedo, sabbākārena bhāvite ānāpānassatisamādhismiṃ sabbametaṃ yogino nipphajjatīti ānisaṃsadassanatthaṃ vuttaṃ. sukhañceti ettha soti kasmā na vuttaṃ? yasmā bhikkhūti imasmiṃ vāre nāgataṃ.

Trong bài kinh thứ tám, cụm từ "không mệt mỏi cả thân lẫn mắt" được nói đến vì khi thực hành các đề mục thiền khác, thân có thể bị mệt và mắt có thể bị tổn thương. Ví dụ, khi quán về các nguyên tố (Giới - Dhātu), thân hành giả mệt mỏi như thể bị ném vào máy ép và bị nghiền nát. Khi thực hành đề mục Kasiṇa (thiền án biến xứ), đôi mắt có thể bị rung động, mệt mỏi, cảm giác như thể chúng sắp rơi ra ngoài. Nhưng đối với người thực hành đề mục này (Niệm hơi thở), cả thân không mệt mỏi, mắt cũng không bị tổn thương. Vì vậy Thế Tôn mới dạy như thế.

Về các tầng thiền vô sắc (Arūpa):

Vì sao lại nói đến việc vượt qua "Sắc tưởng" (Rūpasaññā)? Liệu trong Niệm hơi thở có thể thực hiện việc "Loại bỏ Kasiṇa" (Kasiṇugghāṭanaṃ) để vào định vô sắc không?

Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷābhaya nói rằng: "Vì Nimitta (tướng) của Niệm hơi thở hiện ra giống như hình ngôi sao hay chuỗi ngọc trai, nên tại đó việc dẹp bỏ Kasiṇa để vào vô sắc là có thể thực hiện được."

Trưởng lão Tipiṭaka Cūḷanāga lại nói: "Không thể được."

Nếu không thể được, vậy tại sao các bậc Thánh lại liệt kê các tầng định vô sắc và Thần lực của bậc Thánh (Ariyiddhi) ở đây? Đó là để hiển thị lợi ích (ānisaṃsa). Nếu một vị Tỳ-khưu mong cầu Thần lực của bậc Thánh, bốn tầng thiền Sắc giới, bốn tầng định vô sắc giới, hay Diệt thọ tưởng định, vị ấy cần phải chú tâm hành trì kỹ lưỡng định niệm hơi thở này.

Ví như khi một kinh thành đã được chiếm lĩnh, thì mọi sản vật từ bốn phương đều đổ vào kinh thành qua bốn cửa; kinh thành ấy cũng làm chủ luôn cả vùng thôn quê xung quanh. Đó chính là lợi ích của việc làm chủ kinh thành. Cũng vậy, các trạng thái như Thần lực bậc Thánh, các tầng định... chính là lợi ích của việc tu tập Định Niệm Hơi Thở. Khi Định Niệm Hơi Thở được tu tập viên mãn về mọi mặt, hành giả sẽ thành tựu tất cả những điều ấy. Những điều này được nói ra là để cho thấy lợi ích to lớn của pháp môn này.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra

-ooOoo-

I. Phẩm Một Pháp

8. VIII. Ngọn Ðèn (S.v,316)

1-2) Sàvatthi... nói như sau:

3) -- Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn thời có quả lớn, có lợi ích lớn. Và này các Tỷ-kheo, tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích lớn?

4-10) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống... "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

11) Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung mãn như vậy thời có quả lớn, có lợi ích lớn.

12) Này các Tỷ-kheo, Ta trước khi giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta trú nhiều với trú này. Này các Tỷ-kheo, do Ta trú nhiều với trú này, thân Ta và con mắt không có mệt nhọc; và tâm Ta được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ.

13) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng thân và mắt khỏi bị mệt mỏi, và mong rằng tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ", thời định niệm hơi thở vô và hơi thở ra này cần phải khéo tác ý.

14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ý.

15) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.

16) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.

17) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán", thời định niệm...

18) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán", thời định niệm...

19) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời định niệm...

20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm...

21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm...

22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm...

23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm...

24) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ý các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: "Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm...

25) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: "Thức là vô biên", tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời định niệm...

26) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật gì’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm...

27) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.

28) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ý.

29) Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung mãn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rõ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rõ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rõ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy".

30) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh".

31) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rõ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rõ biết: "Ở đây, tất cả những gì được cảm thọ đều không có gì được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh".