|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 661. NIỆM HƠI THỞ VÀ QUÁN THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP - Kinh Kimila (Kimilasuttaṃ) . ![]()
Bài kinh Kimbila chứa đựng điều đặc biệt là Đức Phật đã liên kết
trực tiếp niệm hơi thở với Tứ Niệm Xứ. Đây không phải là hai
pháp môn riêng biệt, mà là một. Khi thực hành niệm hơi thở sâu
sắc, hành giả tự nhiên an trú trong quán thân, quán thọ, quán
tâm và quán pháp. Pháp môn này trở thành một con đường toàn
diện, từ thô đến tế, từ định đến tuệ. Hình ảnh “đống đất lớn ở
ngã tư đường” là một trong những dụ ngôn mang ý nghĩa thực tiễn
pháp hành. Điều nầy cho thấy niệm hơi thở không chỉ giúp tâm an
tịnh mà còn có sức mạnh san phẳng mọi ác bất thiện pháp. Mỗi khi
chúng ta chánh niệm với hơi thở, chúng ta đang dùng một công cụ
cực kỳ tinh tế để nghiền nát tham, sân, si, nghi ngờ, hôn trầm,
trạo cử… từ gốc rễ. Không cần phải đối đầu trực tiếp với phiền
não, chỉ cần kiên trì an trú trong niệm hơi thở, các phiền não
sẽ tự nhiên bị san bằng. Niệm hơi thở là trú xứ của chư Phật và
chư Thánh. Đức Phật đã dùng chính pháp môn này trước khi giác
ngộ, và các bậc Thánh như Mahākappina, Kimbila… cũng đạt được
định lực bất động nhờ pháp môn này. Do đó, dù là người mới hay
bậc đã chứng quả, ai cũng có thể và nên thực hành niệm hơi thở
suốt đời..
Kinh Văn
986. evaṃ me
sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kimilāyaṃ {kimbilāyaṃ (sī. pī.)}
viharati veḷuvane. tatra kho bhagavā āyasmantaṃ kimilaṃ āmantesi
— “kathaṃ bhāvito nu kho, kimila, ānāpānassatisamādhi kathaṃ
bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso”ti?
Tôi được nghe như vầy.
Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Kimbilā, trong rừng tre. Lúc bấy giờ, Đức
Thế Tôn gọi Tôn giả Kimbila:
«Này Kimbila, như thế nào là định do niệm hơi thở được phát triển và tu
tập để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?»
Khi được hỏi vậy, Tôn giả Kimbila im lặng. Lần thứ hai… Lần thứ ba, Đức
Thế Tôn lại hỏi Tôn giả Kimbila: «Này Kimbila, như thế nào là
định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại quả
lớn và lợi ích lớn?» Lần thứ ba, Tôn giả Kimbila vẫn im lặng.
Khi ấy, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Thế Tôn: «Bạch Thế Tôn, nay là lúc
thích hợp! Bạch Đấng Thiện Thệ, nay là lúc thích hợp! Xin Thế
Tôn hãy thuyết về định do niệm hơi thở. Sau khi được nghe từ Thế
Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.»
«Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo chú ý, Ta sẽ nói.»
«Xin vâng, bạch Thế Tôn.» Tôn giả Ānanda đáp. Đức Thế Tôn nói như sau:
«Này Ānanda, như thế nào là định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập
để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?
Ở đây, này Ānanda, Tỳ khưu đi đến rừng, đến chân cây, hoặc đến một am thất
trống vắng, ngồi xuống, kiết già, thân thẳng, đặt niệm trước
mặt, chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra… Vị ấy tập như sau:
‘Quán xả ly, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập như sau: ‘Quán xả ly,
tôi sẽ thở ra’.
(i. Quán thân)
Này Ānanda, khi Tỳ khưu thở vào dài biết rõ ‘Tôi thở vào dài’, thở ra dài
biết rõ ‘Tôi thở ra dài’; thở vào ngắn biết rõ ‘Tôi thở vào
ngắn’, thở ra ngắn biết rõ ‘Tôi thở ra ngắn’; khi tập ‘Cảm
nghiệm toàn thân, tôi sẽ thở vào’; khi tập ‘Cảm nghiệm toàn
thân, tôi sẽ thở ra’; khi tập ‘Làm cho thân hành an tịnh, tôi sẽ
thở vào’; khi tập ‘Làm cho thân hành an tịnh, tôi sẽ thở ra’ —
vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán thân trong thân, nhiệt tâm,
tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy?
Này Ānanda, Ta gọi hơi thở vào-ra là một loại thân. Do đó, vào
lúc ấy, Tỳ khưu an trú quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.
(ii. Quán thọ)
Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Cảm nghiệm hỷ, tôi sẽ thở vào’… ‘Cảm nghiệm
lạc, tôi sẽ thở vào’… ‘Cảm nghiệm tâm hành, tôi sẽ thở vào’…
‘Làm cho tâm hành an tịnh, tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu
đang an trú quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy? Này Ānanda, Ta gọi
sự chú tâm đến hơi thở vào-ra là một loại thọ. Do đó, vào lúc
ấy, Tỳ khưu an trú quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.
(iii. Quán tâm)
Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Cảm nghiệm tâm, tôi sẽ thở vào’… ‘Làm cho tâm
hoan hỷ, tôi sẽ thở vào’… ‘Làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở
vào’… ‘Giải thoát tâm, tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu
đang an trú quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh
niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy? Này Ānanda, Ta nói
rằng không có sự phát triển định do niệm hơi thở đối với người
bị hôn trầm và thiếu tỉnh giác. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an
trú quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ
tham ưu đối với đời.
(iv. Quán pháp)
Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Quán vô thường, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán ly
tham, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán diệt, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán xả ly,
tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán pháp
trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối
với đời. Nhờ thấy với trí tuệ sự từ bỏ tham ưu, vị ấy trở thành
người an trú xả, quán sát. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an trú
quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ
tham ưu đối với đời.
«Này Ānanda, ví như ở ngã tư đường có một đống đất lớn. Nếu xe bò hoặc xe
ngựa từ hướng đông, tây, nam, bắc chạy qua, chúng sẽ san phẳng
đống đất ấy. Cũng vậy, này Ānanda, khi Tỳ khưu an trú quán thân
trong thân, quán thọ trong thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp
trong pháp, vị ấy san phẳng các ác bất thiện pháp.»
Chú Thích
Kimbilā là một
thành phố nằm bên bờ sông Hằng (Ganges).Tại đây có một khu rừng
gọi là veluvana theo
Sớ giải Aṅguttara ii.642 chú thích là
Mucalindavana. Chính tại khu
rừng này, Đức Phật đã từng cư trú, và cũng là nơi Ngài thuyết
giảng các bài kinh Kimbila Sutta và Kimbilā Sutta (A.iii.247,
v.v.;[
Tăng Chi Bộ Kinh, tập III, trang 247 và các đoạn tương tự khác.]
S.iv.181f[Tương Ưng Bộ Kinh, tập IV, trang 181 và trang sau đó]; v.322
[
và
tập V, trang 322]).
Kimbila
là một hoàng thân thuộc dòng họ Sākya ở
Kapilavatthu. Ngài được cảm hóa cùng với Bhaddiya và bốn vị quý
tộc Sākya khác tại Anupiyā, không lâu sau chuyến viếng thăm của
Đức Phật đến Kapilavatthu (Vin.ii.182[
luật tạng, tập II trang 132; DhA.i.112f [chú giải Pháp Cú, tập I, trang 112). Theo Sớ giải Theragāthā (ThagA.i.235f [chú giải Trưởng Lão Tăng
Kệ, tập I, trang 235 và trang tiếp theo]; Thag.118, 155f [
Trưởng Lão Tăng Kệ, kệ 118 , 155 và
các kệ tiếp theo]), kể rằng: sau khi xuất gia, không lâu
sau đã chứng đắc A-la-hán, cùng với Bhagu (DhA.i.117[Chú giải Pháp Cú,
tập I, trang 117]; J.i.140 [Bổn
Sanh Kinh, tập I, trang 140.];
AA.i.108 [chú giải Tăng Chi Bộ,
tập I, trang 108]
). Tôn giả Kimbila dường như duy trì
tình thân thiết với Anuruddha trong thời gian đầu, cùng cư trú
với Anuruddha và Nandiya, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu
vườn khác.
Đây là lần thứ hai trong Tương Ưng Niệm Hơi Thở mà Đức Phật dạy chi tiết
16 cơ sở niệm hơi thở (ānāpānasati), nhưng lần này có
tình huống đặc biệt: Tôn giả Kimbila im lặng ba lần khi được
hỏi. Tôn giả Ānanda thay mặt thỉnh pháp, dẫn đến việc Đức Phật
giảng lại toàn bộ pháp môn một cách rõ ràng và đầy đủ nhất.
Theo Sớ giải, sự im lặng của Tôn giả Kimbila
không phải vì không biết, mà có thể vì khiêm cung hoặc muốn để
Đức Phật thuyết pháp cho toàn thể Tăng chúng. Sự im lặng ba lần
tạo điều kiện để Tôn giả Ānanda thỉnh pháp, làm cho bài kinh trở
nên trang trọng và có giá trị truyền thừa.
16 cơ sở niệm hơi thở: Kinh nhắc lại đầy đủ bốn bộ tứ, tương
ứng với Tứ Niệm Xứ:
Dụ ngôn “đống đất lớn ở ngã tư đường”: Đây là hình ảnh rất mạnh mẽ. Đống đất
tượng trưng cho ác bất thiện pháp (tham, sân, si…). Khi Tỳ khưu
thực hành niệm hơi thở đúng cách (tức là an trú trong Tứ Niệm
Xứ), các ác pháp bị san phẳng như đống đất bị xe cộ từ bốn
phương nghiền nát. Đây là cách Đức Phật mô tả sức mạnh diệt trừ
phiền não của pháp môn này.
Sớ Giải
986. dasame kimilāyanti evaṃnāmake
nagare. etadavocāti thero kira cintesi “ayaṃ desanā na
yathānusandhikā katā, yathānusandhiṃ gamessāmī”ti
desanānusandhiṃ ghaṭento etaṃ avoca. kāyaññataranti pathavīādīsu
kāyesu aññataraṃ vadāmi vāyokāyaṃ vadāmīti attho. atha vā
cakkhāyatanaṃ ... pe ... kabaḷīkāro āhāroti pañcavīsati
rūpakoṭṭhāsā rūpakāyo nāma, tesu ānāpānaṃ phoṭṭhabbāyatane
saṅgahitattā kāyaññataraṃ hoti, tasmāpi evamāha. tasmātihāti
yasmā catūsu kāyesu aññataraṃ vāyokāyaṃ, pañcavīsati koṭṭhāse vā
rūpakāye aññataraṃ ānāpānaṃ anupassati, tasmā kāye kāyānupassīti
attho. evaṃ sabbattha attho veditabbo. vedanāññataranti tīsu
vedanāsu aññataraṃ, sukhavedanaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.
986. Trong bài kinh thứ mười
Kimbilā: Tên một thành phố.
“Etadavocā” (Tôn giả
nói như vậy): Tôn giả Kimbila suy nghĩ: “Bài pháp thoại này chưa
theo đúng thứ tự logic (yathānusandhi). Ta hãy nối tiếp theo
đúng thứ tự.” Vì vậy, Ngài nói tiếp để làm cho bài pháp theo
đúng mạch lạc.
“Kāyaññataraṃ”: Trong các loại thân (kāya) như địa đại, thủy đại… Ta nói “một loại thân”
— tức là thân gió (vāyokāya),
nghĩa là hơi thở vào-ra.
Hoặc hiểu theo cách khác: Năm mươi hai phần vật chất (từ nhãn xứ cho đến
dưỡng chất đoàn thực) được gọi là
sắc thân (rūpakāya). Trong đó, hơi thở vào-ra thuộc về
xúc xứ (phoṭṭhabbāyatana), nên cũng là “một loại thân”. Vì vậy,
Đức Phật mới nói như trên.
“Tasmātihā”: Vì rằng Tỳ khưu quán sát hơi thở vào-ra — một loại thân gió trong bốn
loại thân, hoặc một phần trong hai mươi lăm phần của sắc thân —
nên gọi là “quán thân trong thân”. Ý nghĩa trong các phần còn
lại cũng được hiểu tương tự.
“Vedanāññataraṃ”: Trong ba loại thọ, đây chỉ lạc thọ
(sukhavedanā).
“Sādhukaṃ manasikāraṃ”: Chỉ sự chú tâm khéo léo, đẹp đẽ sinh khởi qua việc cảm nghiệm hỷ
(pītipaṭisaṃvedī)…
Hỏi: Phải chăng sự chú tâm (manasikāra) chính là lạc thọ?
Đáp: Không phải. Đây chỉ là cách nói theo đầu đề của bài kinh. Giống như trong
kinh nói “aniccasaññābhāvanā…” (tu tập tưởng vô thường), từ
“saññā” (tưởng) thực ra chỉ tuệ (paññā). Ở đây, từ “manasikāra”
(chú tâm) cũng chỉ thọ liên hệ với
thiền (jhānavedanā).
Trong bộ tứ này:
Tất cả đều được gom vào dưới tên “manasikāra” (chú tâm), nên ở đây nói
“sādhukaṃ manasikāraṃ”.
Dù vậy, vì thọ này không phải là đối tượng
(ārammaṇa), nên dường như không phù hợp với “vedanānupassanā”
(quán thọ).
Đáp: Không phải là không phù hợp. Trong Đại Niệm Xứ Kinh, hành giả lấy các đối
tượng lạc thọ… làm ārammaṇa rồi mới cảm thọ. Khi thọ đang sinh
khởi, hành giả chỉ nói theo tục đế “Ta đang cảm thọ lạc”. Vì
vậy, mới có câu “Cảm nghiệm lạc, tôi sẽ thở vào…”.
Hơn nữa, trong phần giải thích “pītipaṭisaṃvedī…”, Thanh Tịnh Đạo đã trả
lời rõ ràng về vấn đề này.
Trích Thanh Tịnh Đạo: “Hỷ được nhận biết qua hai cách: qua đối tượng
(ārammaṇa) và qua sự không mê muội (asammoha).
Cũng theo cách ấy, thọ được nhận biết qua sự chú tâm (manasikāra). Do đó,
câu “Tỳ khưu an trú quán thọ trong thọ” là hoàn toàn đúng.
“Nāhaṃ, Ānanda, muṭṭhassatissa asampajānassa…”: Ý là: Tỳ khưu nào thực hành “cảm nghiệm tâm, tôi sẽ thở vào…” tuy lấy hơi
thở làm đối tượng, nhưng vì vị ấy an trú chánh niệm và tỉnh giác
trên đối tượng ấy, nên thực ra là quán tâm trong tâm. Không có
sự phát triển định do niệm hơi thở đối với người thất niệm và
thiếu tỉnh giác. Vì vậy, mới nói “Tỳ khưu an trú quán tâm trong
tâm”.
“So yaṃ taṃ hoti abhijjhādomanassānaṃ
pahānaṃ…”: Ở đây, “abhijjhā” chỉ
tham dục triền cái, “domanassa” chỉ
sân hận triền cái.
Tetrad thứ tư thuộc về tuệ minh sát (vipassanā). Quán pháp có năm phần
(nīvaraṇa, khandha, āyatana, bojjhaṅga, sacca), trong đó phần
triền cái là phần đầu. Vì vậy, để chỉ phần đầu của quán pháp,
Đức Phật dùng “abhijjhādomanassa”.
“Pahānaṃ” là sự từ bỏ do tuệ quán vô thường (aniccānupassanā) đoạn trừ
thường kiến…
“Taṃ paññāya disvā” là thấy sự từ bỏ ấy bằng tuệ quán. “Ajjhupekkhitā” là
quán xả, nhìn với sự quân bình.
Do đó, Tỳ khưu an trú quán pháp trong pháp.
“Evameva kho”: Trong dụ ngôn này, ngã tư đường tượng
trưng cho sáu xứ (lục nhập).
Đống đất tượng trưng cho
phiền não trong sáu xứ.
Xe ngựa từ bốn phương tượng
trưng cho Tứ Niệm Xứ. Xe nghiền nát
đống đất tượng trưng cho Tứ
Niệm Xứ san phẳng ác bất thiện pháp.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tập V - Thiên Ðại Phẩm
Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra
-ooOoo-
I. Phẩm Một Pháp
10. X. Kimbila (S.v,322)
1) Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Kimbila, tại Veluvana.
2) Ở đấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Kimbila:
-- Tu tập như thế nào, này Kimbila, làm cho sung mãn như thế
nào, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra được quả lớn, được lợi ích
lớn?
Khi được nói vậy, Tôn giả Kimbila im lặng.
3) Lần thứ hai, Thế Tôn...
4) Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tôn giả Kimbila:
-- Tu tập như thế nào, này Kimbila, làm cho sung mãn như thế
nào, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời được quả lớn, được
lợi ích lớn?
Lần thứ ba, Tôn giả Kimbila im lặng.
5) Ðược nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
-- Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn. Nay đã đến thời, bạch Thiện
Thệ. Mong Thế Tôn giảng dạy pháp tu tập định niệm hơi thở vô,
hơi thở ra! Sau khi nghe Thế Tôn dạy, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
-- Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
6) Thế Tôn nói như sau:
-- Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này Ananda, tu tập như thế
nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích
lớn?
7-13) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc
cây, hay đi đến căn nhà trống... "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị
ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
14) Tu tập như vậy, này Ananda, làm cho sung mãn như vậy, định
niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.
15) Lúc nào, này Ananda, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy rõ biết: "Tôi
thở vô dài". Hay khi Tỷ-kheo thở ra dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở
ra dài". Hay khi Tỷ-kheo thở vô ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thở vô
ngắn". Hay khi Tỷ-kheo thở ra ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra
ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác
toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy
tập. Này Ananda, sống quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú như vậy,
nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vì
sao?
16) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thân, tức là hơi
thở vô, hơi thở ra. Do vậy, này Ananda, quán thân trên thân,
Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời.
17) Trong khi, này Ananda, Tỷ-kheo: "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An
tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi
sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi quán thọ trên các cảm thọ,
Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp
phục tham ưu ở đời. Vì sao?
18) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thọ, tức là hơi
thở vô, hơi thở ra, được khéo tác ý. Do vậy, này Ananda, quán
thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác,
chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
19) Trong khi, này Ananda, Tỷ-kheo: "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô",
vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với
tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát,
tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo
trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vì
sao?
20) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở
vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh
giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trong khi
ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở
đời.
21) Trong khi Tỷ-kheo, này Ananda, "Quán vô thường, tôi sẽ thở
vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
"Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ
thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập.
"Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ
thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.
Trong khi quán pháp trên các pháp, này Ananda, Tỷ-kheo trú như
vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời,
đoạn tận các tham ưu; sau khi thấy với trí tuệ, vị ấy khéo trú
xả. Do vậy, này Ananda, quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo trú như
vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
22) Ví như, này Ananda, một đống rác bụi lớn ở ngã tư đường, nếu
từ phương Ðông, một cái xe (sakatam hay ràtha) đi đến và làm cho
đống rác bụi ấy giảm bớt đi; nếu từ phương Tây...; nếu từ phương
Bắc...; nếu từ phương Nam, một cái xe đi đến và làm cho đống rác
bụi ấy giảm bớt đi. Cũng vậy, này Ananda, Tỷ-kheo trong khi trú,
quán thân trên thân, làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp,
khi trú, quán thọ trên các cảm thọ... khi trú, quán tâm trên
tâm... khi trú, quán pháp trên các pháp... làm cho giảm bớt đi
các ác, bất thiện pháp.
|