BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 09 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 54. Tương Ưng Nhập Tức Xuất Tức Niệm-...- SN 54.10
Bài 661. NIỆM HƠI THỞ VÀ QUÁN THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP -

Kinh Kimila (Kimilasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-661.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh Kimbila chứa đựng điều đặc biệt là Đức Phật đã liên kết trực tiếp niệm hơi thở với Tứ Niệm Xứ. Đây không phải là hai pháp môn riêng biệt, mà là một. Khi thực hành niệm hơi thở sâu sắc, hành giả tự nhiên an trú trong quán thân, quán thọ, quán tâm và quán pháp. Pháp môn này trở thành một con đường toàn diện, từ thô đến tế, từ định đến tuệ. Hình ảnh “đống đất lớn ở ngã tư đường” là một trong những dụ ngôn mang ý nghĩa thực tiễn pháp hành. Điều nầy cho thấy niệm hơi thở không chỉ giúp tâm an tịnh mà còn có sức mạnh san phẳng mọi ác bất thiện pháp. Mỗi khi chúng ta chánh niệm với hơi thở, chúng ta đang dùng một công cụ cực kỳ tinh tế để nghiền nát tham, sân, si, nghi ngờ, hôn trầm, trạo cử… từ gốc rễ. Không cần phải đối đầu trực tiếp với phiền não, chỉ cần kiên trì an trú trong niệm hơi thở, các phiền não sẽ tự nhiên bị san bằng. Niệm hơi thở là trú xứ của chư Phật và chư Thánh. Đức Phật đã dùng chính pháp môn này trước khi giác ngộ, và các bậc Thánh như Mahākappina, Kimbila… cũng đạt được định lực bất động nhờ pháp môn này. Do đó, dù là người mới hay bậc đã chứng quả, ai cũng có thể và nên thực hành niệm hơi thở suốt đời..

Kinh Văn

986. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kimilāyaṃ {kimbilāyaṃ (sī. pī.)} viharati veḷuvane. tatra kho bhagavā āyasmantaṃ kimilaṃ āmantesi — “kathaṃ bhāvito nu kho, kimila, ānāpānassatisamādhi kathaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso”ti?
evaṃ vutte āyasmā kimilo tuṇhī ahosi. dutiyampi kho bhagavā ... pe ... tatiyampi kho bhagavā āyasmantaṃ kimilaṃ āmantesi — “kathaṃ bhāvito nu kho, kimila, ānāpānassatisamādhi kathaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso”ti? tatiyampi kho āyasmā kimilo tuṇhī ahosi.
evaṃ vutte āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca — “etassa, bhagavā, kālo; etassa, sugata, kālo! yaṃ bhagavā ānāpānassatisamādhiṃ bhāseyya. bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“tenahānanda, suṇāhi, sādhukaṃ manasi karohi; bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bhante”ti kho āyasmā ānando bhagavato paccassosi. bhagavā etadavoca — “kathaṃ bhāvito ca, ānanda, ānāpānassatisamādhi kathaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso? idhānanda, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā nisīdati pallaṅkaṃ ābhujitvā ujuṃ kāyaṃ paṇidhāya parimukhaṃ satiṃ upaṭṭhapetvā. so satova assasati, satova passasati ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati. evaṃ bhāvito kho, ānanda, ānāpānassatisamādhi evaṃ bahulīkato mahapphalo hoti mahānisaṃso”.
“yasmiṃ samaye, ānanda, bhikkhu dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto ‘dīghaṃ passasāmī’ti pajānāti; rassaṃ vā assasanto ‘rassaṃ assasāmī’ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto ‘rassaṃ passasāmī’ti pajānāti; ‘sabbakāyappaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sabbakāyappaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati — kāye kāyānupassī, ānanda, bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. taṃ kissa hetu? kāyaññatarāhaṃ, ānanda, etaṃ vadāmi yadidaṃ — assāsapassāsaṃ. tasmātihānanda, kāye kāyānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
“yasmiṃ samaye, ānanda, bhikkhu ‘pītippaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘pītippaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘sukhappaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘sukhappaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘cittasaṅkhārappaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittasaṅkhārappaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; ‘passambhayaṃ cittasaṅkhāraṃ passasissāmī’ti sikkhati — vedanāsu vedanānupassī, ānanda, bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. taṃ kissa hetu? vedanāññatarāhaṃ, ānanda, etaṃ vadāmi, yadidaṃ — assāsapassāsānaṃ {assāsapassāsaṃ (pī. ka.) ma. ni. 3.145} sādhukaṃ manasikāraṃ. tasmātihānanda, vedanāsu vedanānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
“yasmiṃ samaye, ānanda, bhikkhu ‘cittappaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati, ‘cittappaṭisaṃvedī passasissāmī’ti sikkhati; abhippamodayaṃ cittaṃ ... pe ... samādahaṃ cittaṃ ... pe ... ‘vimocayaṃ cittaṃ assasissāmī’ti sikkhati, ‘vimocayaṃ cittaṃ passasissāmī’ti sikkhati — citte cittānupassī, ānanda, bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. taṃ kissa hetu? nāhaṃ, ānanda, muṭṭhassatissa asampajānassa ānāpānassatisamādhibhāvanaṃ vadāmi. tasmātihānanda, citte cittānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
“yasmiṃ samaye, ānanda, bhikkhu ‘aniccānupassī assasissāmī’ti sikkhati ... pe ... virāgānupassī ... pe ... nirodhānupassī ... pe ... ‘paṭinissaggānupassī assasissāmī’ti sikkhati, ‘paṭinissaggānupassī passasissāmī’ti sikkhati — dhammesu dhammānupassī, ānanda, bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. so yaṃ taṃ hoti abhijjhādomanassānaṃ pahānaṃ taṃ paññāya disvā sādhukaṃ ajjhupekkhitā hoti. tasmātihānanda, dhammesu dhammānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
“seyyathāpi, ānanda, catumahāpathe {cātummahāpathe (sī. syā. kaṃ.)} mahāpaṃsupuñjo. puratthimāya cepi disāyaṃ āgaccheyya sakaṭaṃ vā ratho vā, upahanateva taṃ paṃsupuñjaṃ; pacchimāya cepi disāya āgaccheyya ... pe ... uttarāya cepi disāya ... pe ... dakkhiṇāya cepi disāya āgaccheyya sakaṭaṃ vā ratho vā, upahanateva taṃ paṃsupuñjaṃ. evameva kho, ānanda, bhikkhu kāye kāyānupassī viharantopi upahanateva pāpake akusale dhamme; vedanāsu ... pe ... citte ... pe ... dhammesu dhammānupassī viharantopi upahanateva pāpake akusale dhamme”ti. dasamaṃ.

Tôi được nghe như vầy.

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Kimbilā, trong rừng tre. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn gọi Tôn giả Kimbila:

«Này Kimbila, như thế nào là định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?»

Khi được hỏi vậy, Tôn giả Kimbila im lặng. Lần thứ hai… Lần thứ ba, Đức Thế Tôn lại hỏi Tôn giả Kimbila: «Này Kimbila, như thế nào là định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?» Lần thứ ba, Tôn giả Kimbila vẫn im lặng.

Khi ấy, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Thế Tôn: «Bạch Thế Tôn, nay là lúc thích hợp! Bạch Đấng Thiện Thệ, nay là lúc thích hợp! Xin Thế Tôn hãy thuyết về định do niệm hơi thở. Sau khi được nghe từ Thế Tôn, các Tỳ khưu sẽ ghi nhớ.»

«Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo chú ý, Ta sẽ nói.»

«Xin vâng, bạch Thế Tôn.» Tôn giả Ānanda đáp. Đức Thế Tôn nói như sau:

«Này Ānanda, như thế nào là định do niệm hơi thở được phát triển và tu tập để mang lại quả lớn và lợi ích lớn?

Ở đây, này Ānanda, Tỳ khưu đi đến rừng, đến chân cây, hoặc đến một am thất trống vắng, ngồi xuống, kiết già, thân thẳng, đặt niệm trước mặt, chánh niệm thở vào, chánh niệm thở ra… Vị ấy tập như sau: ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở vào’; vị ấy tập như sau: ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở ra’.

(i. Quán thân)

Này Ānanda, khi Tỳ khưu thở vào dài biết rõ ‘Tôi thở vào dài’, thở ra dài biết rõ ‘Tôi thở ra dài’; thở vào ngắn biết rõ ‘Tôi thở vào ngắn’, thở ra ngắn biết rõ ‘Tôi thở ra ngắn’; khi tập ‘Cảm nghiệm toàn thân, tôi sẽ thở vào’; khi tập ‘Cảm nghiệm toàn thân, tôi sẽ thở ra’; khi tập ‘Làm cho thân hành an tịnh, tôi sẽ thở vào’; khi tập ‘Làm cho thân hành an tịnh, tôi sẽ thở ra’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy? Này Ānanda, Ta gọi hơi thở vào-ra là một loại thân. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an trú quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.

(ii. Quán thọ)

Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Cảm nghiệm hỷ, tôi sẽ thở vào’… ‘Cảm nghiệm lạc, tôi sẽ thở vào’… ‘Cảm nghiệm tâm hành, tôi sẽ thở vào’… ‘Làm cho tâm hành an tịnh, tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy? Này Ānanda, Ta gọi sự chú tâm đến hơi thở vào-ra là một loại thọ. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an trú quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.

(iii. Quán tâm)

Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Cảm nghiệm tâm, tôi sẽ thở vào’… ‘Làm cho tâm hoan hỷ, tôi sẽ thở vào’… ‘Làm cho tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vào’… ‘Giải thoát tâm, tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Vì sao vậy? Này Ānanda, Ta nói rằng không có sự phát triển định do niệm hơi thở đối với người bị hôn trầm và thiếu tỉnh giác. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an trú quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.

(iv. Quán pháp)

Này Ānanda, khi Tỳ khưu tập ‘Quán vô thường, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán ly tham, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán diệt, tôi sẽ thở vào’… ‘Quán xả ly, tôi sẽ thở vào’ — vào lúc ấy, Tỳ khưu đang an trú quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời. Nhờ thấy với trí tuệ sự từ bỏ tham ưu, vị ấy trở thành người an trú xả, quán sát. Do đó, vào lúc ấy, Tỳ khưu an trú quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã trừ tham ưu đối với đời.

«Này Ānanda, ví như ở ngã tư đường có một đống đất lớn. Nếu xe bò hoặc xe ngựa từ hướng đông, tây, nam, bắc chạy qua, chúng sẽ san phẳng đống đất ấy. Cũng vậy, này Ānanda, khi Tỳ khưu an trú quán thân trong thân, quán thọ trong thọ, quán tâm trong tâm, quán pháp trong pháp, vị ấy san phẳng các ác bất thiện pháp.»

Chú Thích

Kimbilā là một thành phố nằm bên bờ sông Hằng (Ganges).Tại đây có một khu rừng gọi là veluvana  theo Sớ giải Aṅguttara ii.642 chú thích là Mucalindavana. Chính tại khu rừng này, Đức Phật đã từng cư trú, và cũng là nơi Ngài thuyết giảng các bài kinh Kimbila Sutta và Kimbilā Sutta (A.iii.247, v.v.;[ Tăng Chi Bộ Kinh, tập III, trang 247 và các đoạn tương tự khác.] S.iv.181f[Tương Ưng Bộ Kinh, tập IV, trang 181 và trang sau đó]; v.322 [ và tập V, trang 322]).

Kimbila là một hoàng thân thuộc dòng họ Sākya ở Kapilavatthu. Ngài được cảm hóa cùng với Bhaddiya và bốn vị quý tộc Sākya khác tại Anupiyā, không lâu sau chuyến viếng thăm của Đức Phật đến Kapilavatthu (Vin.ii.182[ luật tạng, tập II trang 132; DhA.i.112f [chú giải Pháp Cú, tập I, trang 112). Theo Sớ giải Theragāthā (ThagA.i.235f [chú giải Trưởng Lão Tăng Kệ, tập I, trang 235 và trang tiếp theo]; Thag.118, 155f [ Trưởng Lão Tăng Kệ, kệ 118 , 155 và các kệ tiếp theo]), kể rằng: sau khi xuất gia, không lâu sau đã chứng đắc A-la-hán, cùng với Bhagu (DhA.i.117[Chú giải Pháp Cú, tập I, trang 117]; J.i.140 [Bổn Sanh Kinh, tập I, trang 140.]; AA.i.108 [chú giải Tăng Chi Bộ, tập I, trang 108] ). Tôn giả Kimbila dường như duy trì tình thân thiết với Anuruddha trong thời gian đầu, cùng cư trú với Anuruddha và Nandiya, khi thì ở khu rừng này, khi thì ở khu vườn khác.

Đây là lần thứ hai trong Tương Ưng Niệm Hơi Thở mà Đức Phật dạy chi tiết 16 cơ sở niệm hơi thở (ānāpānasati), nhưng lần này có tình huống đặc biệt: Tôn giả Kimbila im lặng ba lần khi được hỏi. Tôn giả Ānanda thay mặt thỉnh pháp, dẫn đến việc Đức Phật giảng lại toàn bộ pháp môn một cách rõ ràng và đầy đủ nhất.

Theo Sớ giải, sự im lặng của Tôn giả Kimbila không phải vì không biết, mà có thể vì khiêm cung hoặc muốn để Đức Phật thuyết pháp cho toàn thể Tăng chúng. Sự im lặng ba lần tạo điều kiện để Tôn giả Ānanda thỉnh pháp, làm cho bài kinh trở nên trang trọng và có giá trị truyền thừa.

16 cơ sở niệm hơi thở: Kinh nhắc lại đầy đủ bốn bộ tứ, tương ứng với Tứ Niệm Xứ:

    • Bộ tứ 1 → Quán thân (kāyānupassanā)
    • Bộ tứ 2 → Quán thọ (vedanānupassanā)
    • Bộ tứ 3 → Quán tâm (cittānupassanā)
    • Bộ tứ 4 → Quán pháp (dhammānupassanā), với trọng tâm là “quán xả ly” (paṭinissaggānupassī) – bước dẫn thẳng đến giải thoát.

Dụ ngôn “đống đất lớn ở ngã tư đường”: Đây là hình ảnh rất mạnh mẽ. Đống đất tượng trưng cho ác bất thiện pháp (tham, sân, si…). Khi Tỳ khưu thực hành niệm hơi thở đúng cách (tức là an trú trong Tứ Niệm Xứ), các ác pháp bị san phẳng như đống đất bị xe cộ từ bốn phương nghiền nát. Đây là cách Đức Phật mô tả sức mạnh diệt trừ phiền não của pháp môn này.

Sớ Giải

986. dasame kimilāyanti evaṃnāmake nagare. etadavocāti thero kira cintesi “ayaṃ desanā na yathānusandhikā katā, yathānusandhiṃ gamessāmī”ti desanānusandhiṃ ghaṭento etaṃ avoca. kāyaññataranti pathavīādīsu kāyesu aññataraṃ vadāmi vāyokāyaṃ vadāmīti attho. atha vā cakkhāyatanaṃ ... pe ... kabaḷīkāro āhāroti pañcavīsati rūpakoṭṭhāsā rūpakāyo nāma, tesu ānāpānaṃ phoṭṭhabbāyatane saṅgahitattā kāyaññataraṃ hoti, tasmāpi evamāha. tasmātihāti yasmā catūsu kāyesu aññataraṃ vāyokāyaṃ, pañcavīsati koṭṭhāse vā rūpakāye aññataraṃ ānāpānaṃ anupassati, tasmā kāye kāyānupassīti attho. evaṃ sabbattha attho veditabbo. vedanāññataranti tīsu vedanāsu aññataraṃ, sukhavedanaṃ sandhāyetaṃ vuttaṃ.
sādhukaṃ manasikāranti pītipaṭisaṃveditādivasena uppannaṃ sundaraṃ manasikāraṃ. kiṃ pana manasikāro sukhā vedanā hotīti? na hoti, desanāsīsaṃ panetaṃ. yatheva hi “aniccasaññābhāvanānuyogamanuyuttā”ti (ma. ni. 3.147) ettha saññānāmena paññā vuttā, evamidhāpi manasikāranāmena jhānavedanā vuttāti veditabbā. etasmiñhi catukke paṭhamapade pītisīsena vedanā vuttā, dutiyapade sukhanti sarūpeneva vuttā. cittasaṅkhārapadadvaye “saññā ca vedanā ca cetasikā ete dhammā cittappaṭibaddhā cittasaṅkhārā”ti (paṭi. ma. 1.174) vacanato “vitakkavicāre ṭhapetvā sabbepi cittasampayuttakā dhammā cittasaṅkhāre saṅgahitā”ti vacanato cittasaṅkhāranāmena vedanā vuttā. taṃ sabbaṃ manasikāranāmena saṅgahetvā idha “sādhukaṃ manasikāran”ti āha.
evaṃ santepi yasmā esā vedanā ārammaṇaṃ na hoti, tasmā vedanānupassanā na yujjatīti. no na yujjati, mahāsatipaṭṭhānādīsupi hi taṃ taṃ sukhādīnaṃ vatthuṃ ārammaṇaṃ katvā vedanā vedayati, taṃ pana vedanāpavattiṃ upādāya “ahaṃ vedayāmī”ti vohāramattaṃ hoti, taṃ sandhāya “sukhaṃ vedanaṃ vedayamāno sukhaṃ vedanaṃ vedayāmī”tiādi vuttaṃ. apica “pītippaṭisaṃvedī”tiādīnaṃ atthavaṇṇanāyametassa parihāro vuttoyeva. vuttañhetaṃ visuddhimagge —
“dvīhākārehi pīti paṭisaṃviditā hoti — ārammaṇato ca asammohato ca. kathaṃ ārammaṇato pīti paṭisaṃviditā hoti? sappītike dve jhāne samāpajjati, tassa samāpattikkhaṇe jhānapaṭilābhena ārammaṇato pīti paṭisaṃviditā hoti ārammaṇassa paṭisaṃviditattā. kathaṃ asammohato pīti paṭisaṃviditā hoti? sappītike dve jhāne samāpajjitvā vuṭṭhāya jhānasampayuttapītiṃ khayato vayato sammasati, tassa vipassanākkhaṇe lakkhaṇappaṭivedhena asammohato pīti paṭisaṃviditā hoti. vuttañhetaṃ paṭisambhidāyaṃ (paṭi. ma. 1.172) “‘dīghaṃ assāsavasena cittassa ekaggataṃ avikkhepaṃ pajānato sati upaṭṭhitā hoti, tāya satiyā tena ñāṇena sā pīti paṭisaṃviditā hotī’ti. eteneva nayena avasesapadānipi atthato veditabbānī”ti.
iti yatheva jhānapaṭilābhena ārammaṇato pītisukhacittasaṅkhārā paṭisaṃviditā honti, evaṃ imināpi jhānasampayuttena vedanāsaṅkhātamanasikārapaṭilābhena ārammaṇato vedanā paṭisaṃviditā hoti. tasmā suvuttametaṃ “vedanāsu vedanānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharatī”ti.
nāhaṃ, ānanda, muṭṭhassatissa asampajānassāti ettha ayamadhippāyo — yasmā “cittapaṭisaṃvedī assāsissāmī”tiādinā nayena pavatto bhikkhu kiñcāpi assāsapassāsanimittamārammaṇaṃ karoti, tassa pana cittassa ārammaṇe satiñca sampajaññañca upaṭṭhāpetvā pavattanato citte cittānupassīyeva nāmesa hoti. na hi muṭṭhassatissa asampajānassa ānāpānassatisamādhibhāvanā atthi, tasmā ārammaṇato cittapaṭisaṃviditavasena “citte cittānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharatī”ti.
so yaṃ taṃ hoti abhijjhādomanassānaṃ pahānaṃ, taṃ paññāya disvā sādhukaṃ ajjhupekkhitā hotīti ettha abhijjhā kāmacchandanīvaraṇameva, domanassavasena byāpādanīvaraṇaṃ dassitaṃ. idañhi catukkaṃ vipassanāvaseneva vuttaṃ, dhammānupassanā ca nīvaraṇapabbādivasena pañcavidhā hoti, tassā nīvaraṇapabbaṃ ādi, tassāpi idaṃ nīvaraṇadvayaṃ ādi. iti dhammānupassanāya ādiṃ dassetuṃ abhijjhādomanassānanti āha. pahānanti aniccānupassanāya niccasaññaṃ pajahatīti evaṃ pahānakarañāṇaṃ adhippetaṃ. taṃ paññāya disvāti taṃ aniccavirāganirodhapaṭinissaggañāṇasaṅkhātaṃ pahānañāṇaṃ aparāya vipassanāpaññāya, tampi aparāyāti evaṃ vipassanāparamparaṃ dasseti. ajjhupekkhitā hotīti yañcassa pathapaṭipannaṃ ajjhupekkhati, yañca ekato upaṭṭhānaṃ ajjhupekkhatīti dvidhā ajjhupekkhati nāma. tattha sahajātānampiajjhupekkhanā hoti ārammaṇassāpi ajjhupekkhanā. idha ārammaṇa ajjhupekkhanā adhippetā. tasmātihānandāti yasmā “aniccānupassī assāsissāmī”tiādinā nayena pavatto na kevalaṃ nīvaraṇādidhamme, abhijjhādomanassasīsena pana vuttānaṃ dhammānaṃ pahānakarañāṇampi paññāya disvā ajjhupekkhitā hoti, tasmā dhammesu dhammānupassī bhikkhu tasmiṃ samaye viharatīti veditabbo.
evameva khoti ettha catumahāpatho viya cha āyatanāni daṭṭhabbāni. tasmiṃ paṃsupuñjo viya chasu āyatanesu kilesā. catūhi disāhi āgacchantā sakaṭarathā viya catūsu ārammaṇesu pavattā cattāro satipaṭṭhānā. ekena sakaṭena vā rathena vā paṃsupuñjassa upahananaṃ viya kāyānupassanādīhi pāpakānaṃ akusalānaṃ dhammānaṃ upaghāto veditabboti.

986. Trong bài kinh thứ mười

Kimbilā: Tên một thành phố.

“Etadavocā” (Tôn giả nói như vậy): Tôn giả Kimbila suy nghĩ: “Bài pháp thoại này chưa theo đúng thứ tự logic (yathānusandhi). Ta hãy nối tiếp theo đúng thứ tự.” Vì vậy, Ngài nói tiếp để làm cho bài pháp theo đúng mạch lạc.

“Kāyaññataraṃ”: Trong các loại thân (kāya) như địa đại, thủy đại… Ta nói “một loại thân” — tức là thân gió (vāyokāya), nghĩa là hơi thở vào-ra.

Hoặc hiểu theo cách khác: Năm mươi hai phần vật chất (từ nhãn xứ cho đến dưỡng chất đoàn thực) được gọi là sắc thân (rūpakāya). Trong đó, hơi thở vào-ra thuộc về xúc xứ (phoṭṭhabbāyatana), nên cũng là “một loại thân”. Vì vậy, Đức Phật mới nói như trên.

“Tasmātihā”: Vì rằng Tỳ khưu quán sát hơi thở vào-ra — một loại thân gió trong bốn loại thân, hoặc một phần trong hai mươi lăm phần của sắc thân — nên gọi là “quán thân trong thân”. Ý nghĩa trong các phần còn lại cũng được hiểu tương tự.

“Vedanāññataraṃ”: Trong ba loại thọ, đây chỉ lạc thọ (sukhavedanā).

“Sādhukaṃ manasikāraṃ”: Chỉ sự chú tâm khéo léo, đẹp đẽ sinh khởi qua việc cảm nghiệm hỷ (pītipaṭisaṃvedī)…

Hỏi: Phải chăng sự chú tâm (manasikāra) chính là lạc thọ?

Đáp: Không phải. Đây chỉ là cách nói theo đầu đề của bài kinh. Giống như trong kinh nói “aniccasaññābhāvanā…” (tu tập tưởng vô thường), từ “saññā” (tưởng) thực ra chỉ tuệ (paññā). Ở đây, từ “manasikāra” (chú tâm) cũng chỉ thọ liên hệ với thiền (jhānavedanā).

Trong bộ tứ này:

  • Padā đầu nói “pīti” (hỷ) là chỉ thọ.
  • Padā thứ hai nói “sukha” (lạc) là nói rõ ràng.
  • Hai padā về “cittasaṅkhāra” (tâm hành): Theo Paṭisambhidāmagga, “tưởng và thọ là tâm hành”, và “ngoài tầm tứ ra, tất cả các tâm sở đều thuộc tâm hành”. Vì vậy, “cittasaṅkhāra” cũng chỉ thọ.

Tất cả đều được gom vào dưới tên “manasikāra” (chú tâm), nên ở đây nói “sādhukaṃ manasikāraṃ”.

Dù vậy, vì thọ này không phải là đối tượng (ārammaṇa), nên dường như không phù hợp với “vedanānupassanā” (quán thọ).

Đáp: Không phải là không phù hợp. Trong Đại Niệm Xứ Kinh, hành giả lấy các đối tượng lạc thọ… làm ārammaṇa rồi mới cảm thọ. Khi thọ đang sinh khởi, hành giả chỉ nói theo tục đế “Ta đang cảm thọ lạc”. Vì vậy, mới có câu “Cảm nghiệm lạc, tôi sẽ thở vào…”.

Hơn nữa, trong phần giải thích “pītipaṭisaṃvedī…”, Thanh Tịnh Đạo đã trả lời rõ ràng về vấn đề này.

Trích Thanh Tịnh Đạo: “Hỷ được nhận biết qua hai cách: qua đối tượng (ārammaṇa) và qua sự không mê muội (asammoha).

  • Qua đối tượng: Khi nhập hai thiền có hỷ, ngay trong khoảnh khắc chứng thiền, hỷ được nhận biết qua đối tượng.
  • Qua sự không mê muội: Sau khi xuất thiền, quán sát hỷ là vô thường, hoại diệt, thì qua tuệ quán, hỷ được nhận biết rõ ràng.”

Cũng theo cách ấy, thọ được nhận biết qua sự chú tâm (manasikāra). Do đó, câu “Tỳ khưu an trú quán thọ trong thọ” là hoàn toàn đúng.

“Nāhaṃ, Ānanda, muṭṭhassatissa asampajānassa…”: Ý là: Tỳ khưu nào thực hành “cảm nghiệm tâm, tôi sẽ thở vào…” tuy lấy hơi thở làm đối tượng, nhưng vì vị ấy an trú chánh niệm và tỉnh giác trên đối tượng ấy, nên thực ra là quán tâm trong tâm. Không có sự phát triển định do niệm hơi thở đối với người thất niệm và thiếu tỉnh giác. Vì vậy, mới nói “Tỳ khưu an trú quán tâm trong tâm”.

“So yaṃ taṃ hoti abhijjhādomanassānaṃ pahānaṃ…”: Ở đây, “abhijjhā” chỉ tham dục triền cái, “domanassa” chỉ sân hận triền cái. Tetrad thứ tư thuộc về tuệ minh sát (vipassanā). Quán pháp có năm phần (nīvaraṇa, khandha, āyatana, bojjhaṅga, sacca), trong đó phần triền cái là phần đầu. Vì vậy, để chỉ phần đầu của quán pháp, Đức Phật dùng “abhijjhādomanassa”.

“Pahānaṃ” là sự từ bỏ do tuệ quán vô thường (aniccānupassanā) đoạn trừ thường kiến…

“Taṃ paññāya disvā” là thấy sự từ bỏ ấy bằng tuệ quán. “Ajjhupekkhitā” là quán xả, nhìn với sự quân bình.

Do đó, Tỳ khưu an trú quán pháp trong pháp.

“Evameva kho”: Trong dụ ngôn này, ngã tư đường tượng trưng cho sáu xứ (lục nhập). Đống đất tượng trưng cho phiền não trong sáu xứ. Xe ngựa từ bốn phương tượng trưng cho Tứ Niệm Xứ. Xe nghiền nát đống đất tượng trưng cho Tứ Niệm Xứ san phẳng ác bất thiện pháp.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

Tập V - Thiên Ðại Phẩm

Tương Ưng Hơi Thở Vô, Hơi Thở Ra

-ooOoo-

I. Phẩm Một Pháp

10. X. Kimbila (S.v,322)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Kimbila, tại Veluvana.

2) Ở đấy, Thế Tôn gọi Tôn giả Kimbila:

-- Tu tập như thế nào, này Kimbila, làm cho sung mãn như thế nào, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra được quả lớn, được lợi ích lớn?

Khi được nói vậy, Tôn giả Kimbila im lặng.

3) Lần thứ hai, Thế Tôn...

4) Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tôn giả Kimbila:

-- Tu tập như thế nào, này Kimbila, làm cho sung mãn như thế nào, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời được quả lớn, được lợi ích lớn?

Lần thứ ba, Tôn giả Kimbila im lặng.

5) Ðược nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Nay đã đến thời, bạch Thế Tôn. Nay đã đến thời, bạch Thiện Thệ. Mong Thế Tôn giảng dạy pháp tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra! Sau khi nghe Thế Tôn dạy, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

-- Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.

6) Thế Tôn nói như sau:

-- Ðịnh niệm hơi thở vô, hơi thở ra, này Ananda, tu tập như thế nào, làm cho sung mãn như thế nào thời có quả lớn, có lợi ích lớn?

7-13) Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến căn nhà trống... "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

14) Tu tập như vậy, này Ananda, làm cho sung mãn như vậy, định niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.

15) Lúc nào, này Ananda, Tỷ-kheo thở vô dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở vô dài". Hay khi Tỷ-kheo thở ra dài, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra dài". Hay khi Tỷ-kheo thở vô ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thở vô ngắn". Hay khi Tỷ-kheo thở ra ngắn, vị ấy rõ biết: "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Này Ananda, sống quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vì sao?

16) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thân, tức là hơi thở vô, hơi thở ra. Do vậy, này Ananda, quán thân trên thân, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

17) Trong khi, này Ananda, Tỷ-kheo: "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi quán thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vì sao?

18) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng, tùy thuộc về thọ, tức là hơi thở vô, hơi thở ra, được khéo tác ý. Do vậy, này Ananda, quán thọ trên các cảm thọ, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

19) Trong khi, này Ananda, Tỷ-kheo: "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu ở đời. Vì sao?

20) Này Ananda, Ta tuyên bố rằng sự tu tập chánh niệm hơi thở vô, hơi thở ra không phải cho người thất niệm và không tỉnh giác. Do vậy, này Ananda, quán tâm trên tâm, Tỷ-kheo trong khi ấy, trú nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

21) Trong khi Tỷ-kheo, này Ananda, "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi quán pháp trên các pháp, này Ananda, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời, đoạn tận các tham ưu; sau khi thấy với trí tuệ, vị ấy khéo trú xả. Do vậy, này Ananda, quán pháp trên các pháp, Tỷ-kheo trú như vậy, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.

22) Ví như, này Ananda, một đống rác bụi lớn ở ngã tư đường, nếu từ phương Ðông, một cái xe (sakatam hay ràtha) đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi; nếu từ phương Tây...; nếu từ phương Bắc...; nếu từ phương Nam, một cái xe đi đến và làm cho đống rác bụi ấy giảm bớt đi. Cũng vậy, này Ananda, Tỷ-kheo trong khi trú, quán thân trên thân, làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp, khi trú, quán thọ trên các cảm thọ... khi trú, quán tâm trên tâm... khi trú, quán pháp trên các pháp... làm cho giảm bớt đi các ác, bất thiện pháp.