|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 14 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 665. LÀM VUA THUA LÀM THÁNH- Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattirājasuttaṃ) . ![]()
Bài kinh này là một trong những lời tuyên bố mạnh mẽ và rõ ràng
nhất của Đức Phật về giá trị tối thượng của sự tu hành. Ngài đã
so sánh hai hình ảnh đối cực: một bên là Chuyển Luân Thánh Vương
— biểu tượng của quyền lực và vinh hoa tột đỉnh thế gian — và
một bên là bậc Thánh đệ tử chỉ sống bằng khất thực và y phấn
tảo. Dù Chuyển Luân Thánh Vương có thể thống trị bốn châu, sinh
lên cõi trời Tāvatiṃsa, hưởng thụ dục lạc thiên cung, nhưng vì
chưa đoạn trừ tham, sân, si và ba kiết sử hạ phần, vị ấy vẫn
chưa thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau. Ngược lại, bậc Thánh đệ
tử dù sống đời cực kỳ giản dị, nhưng nhờ bốn pháp bất hoại (tin
Phật, tin Pháp, tin Tăng, và giới thanh tịnh), đã thực sự thoát
khỏi ác đạo và chắc chắn hướng đến giác ngộ. Đây là một lời nhắc
nhở sâu sắc cho chúng ta ngày nay: Quyền lực, giàu sang, danh
vọng thế gian không thể mang lại sự giải thoát. Chỉ có tín tâm
kiên cố vào Tam Bảo và giới hạnh thanh tịnh mới là tài sản chân
thật, mới là thứ đưa con người vượt qua khổ đau đích thực.
Kinh Văn
997. sāvatthinidānaṃ. tatra kho
bhagavā ... pe ... etadavoca — “kiñcāpi, bhikkhave, rājā
cakkavattī {cakkavatti (syā. kaṃ. pī. ka.)} catunnaṃ dīpānaṃ
issariyādhipaccaṃ rajjaṃ kāretvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā
sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sahabyataṃ,
so tattha nandane vane accharāsaṅghaparivuto dibbehi ca pañcahi
kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, so catūhi dhammehi
asamannāgato, atha kho so aparimuttova {aparimutto ca (syā. kaṃ.
ka.)} nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā
aparimutto apāyaduggativinipātā. kiñcāpi, bhikkhave, ariyasāvako
piṇḍiyālopena yāpeti, nantakāni ca dhāreti, so catūhi dhammehi
samannāgato, atha kho so parimutto {parimutto ca (syā. kaṃ.
ka.)} nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā
parimutto apāyaduggativinipātā”.
Tại Sāvatthī.
Ở đó, Đức Thế Tôn dạy như sau:
«Này các Tỳ khưu, dù một Chuyển Luân Thánh Vương, sau khi thực thi quyền
lực tối thượng, thống trị bốn châu thiên hạ, nhưng khi thân hoại
mạng chung, được tái sinh vào thiện thú, cõi trời, giữa chư
thiên Tam Thập Tam, trong vườn Nandana, được các tiên nữ vây
quanh, hưởng thụ năm dục lạc trời, thì vị ấy vẫn chưa thoát khỏi
địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, chưa thoát khỏi cõi khổ, ác
thú, đọa xứ. Vì sao? Vì vị ấy chưa sở hữu bốn pháp.
Nhưng này các Tỳ khưu, dù một Thánh đệ tử chỉ sống bằng thức ăn khất thực
và mặc y phấn tảo, nhưng vì sở hữu bốn pháp, nên được giải thoát
khỏi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, thoát khỏi cõi khổ, ác
thú, đọa xứ.
Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau:
‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư,
Phật Đà, Thế Tôn.’
Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết,
thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, có hiệu
năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’
Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là
những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là
bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng
được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng
được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của đời.’
Có giới được các bậc Thánh trân trọng — không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ,
không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí
khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.
Vị ấy sở hữu bốn pháp này.
Này các Tỳ khưu, giữa việc được làm Chuyển Luân Thánh Vương, thống trị bốn
châu thiên hạ, và việc được bốn pháp này, thì việc được làm
Chuyển Luân Thánh Vương không đáng bằng một phần mười sáu của
việc được bốn pháp này.»
Chú Thích
Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti): Vị vua tối thượng theo truyền thuyết
Ấn Độ, thống trị bốn châu thiên hạ bằng luân báu, hưởng thụ cực
lạc thế gian và thiên giới. Bốn châu thiên hạ gồm: Jambudīpa
(Nam Thiệm Bộ), Aparagoyāna (Tây Ngưu Hóa), Uttarakuru (Bắc Câu
Lô), và Pubbavideha (Đông Thắng Thần), .
Bốn pháp (sotāpattiyaṅga): Đây chính là
Tứ Bất Hoại Tịnh (bốn pháp
không hư hoại) — là bản chất cố hữu của những bậc chứng đắc Dự
Lưu (Sotāpatti).
Tín tâm bất hoại nơi Tam Bảo là niềm tin với sự hiểu biết sâu sắc về
những đặc tính của Phật, Pháp, Tăng (Tiratanaguna). Những đặc
tính hay ân đức nầy được trì tụng trong các nghi thức lễ Tam
Bảo. Tín tâm nầy không bao giờ biến mất ở các bậc thánh hữu học
khi còn luân hồi.
Giới được các bậc Thánh yêu mến: Giới thanh tịnh, không bị bẻ gãy, dẫn đến định lực.
Bố cảnh giới địa ngục, cõi súc sinh và cõi ngạ quỷ chính là
cõi khổ (apāya), ác thú (duggati) và đọa xứ (vinipāta).
Sớ giải nói rằng các bậc Thánh không vi phạm (na kopenti) ngũ giới ngay cả
khi tái sinh sang kiếp khác; do đó những giới hạnh này được các
bậc Thánh yêu mến.
Phụ lục: Ân Đức Tam Bảo trong Tam Tạng Pāli là những đặc tính tự nhiên của Phật,
Pháp, Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai (đến đi cùng một
cách, với chân thể diệu thường)
Có một số khác biệt giữ Pāli Tạng và Hán Tạng về đặc tính của Tam Bảo cần
lưu ý:
Pāli Tạng ghi ân đức Phật có 9 trong lúc theo Hán Tạng thì có 10:
Ân đức Phật bản Pāli
‘Itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho
vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi
satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti.
‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc,
Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư,
Phật Đà, Thế Tôn.’ (Đáng được cúng dường, Chánh giác viên
mãn, Đầy đủ trí tuệ và hạnh đức, Thấu hiểu thế gian, Bậc tối
thượng điều phục chúng sanh, Thầy của trời và người, Bậc Giác
Ngộ, Bậc được đời tôn kính)
Ân đức Phật bản
chữ Hán
如來應供等正覺
明行足善逝世間解
無上士調御丈夫
天人師佛世尊
Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế
Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật
Thế Tôn
Thay vì “Vô thượng điều ngự” thì phân thành hai là “vô thượng sĩ và Điều
ngự trượng phu”
Ân đức Pháp bản Pāli
‘Svākkhāto
bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko
paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti.
‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền,
vượt ngoài thời gian, đến để thấy, có hiệu năng hướng thượng,
được người có trí tự mình tỏ ngộ.’
Ân đức Pháp bản chữ Hán
世尊善說法律,現法、離熾然、不待時節、通達、引導、智者自知。Thế
Tôn thiện thuyết pháp luật, hiện pháp, ly sí nhiên, bất đãi thời
tiết, thông đạt, dẫn đạo, trí giả tự tri.
Ân đức Tăng bản Pāli
‘Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato
sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho,
sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri
purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho
āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ
puññakkhettaṃ lokassā’ti
‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh,
trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn
đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi
ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước
điền vô thượng của đời.’
Ân đức Tăng bản chữ Hán
世尊弟子眾,善向、正向、直向、等向。
謂四雙八輩。
是世尊弟子眾,應供養、應恭敬、應尊重,世間無上福田。Thế Tôn đệ tử chúng, thiện hướng, chánh hướng, trực hướng,
đẳng hướng. Vị tứ song bát bối. Thị
Thế Tôn đệ tử chúng, ưng cúng dường, ưng cung kính, ưng tôn
trọng, thế gian vô thượng phước điền.
Phật giáo Bắc Truyền không tụng ân đức Pháp và Tăng trong các nghi thức
tụng niệm nên rất ít Phật tử biết đến.
Sớ Giải
997. sotāpattisaṃyuttassa paṭhame
kiñcāpīti anuggahagarahaṇesu nipāto. catunnañhi mahādīpānaṃ
issariyādhipaccaṃ rajjaṃ anuggaṇhanto catunnañca apāyānaṃ
appahīnabhāvaṃ garahanto satthā “kiñcāpi, bhikkhave, rājā
cakkavattī”tiādimāha. tattha catunnaṃ dīpānanti
dvisahassadīpaparivārānaṃ catunnaṃ mahādīpānaṃ.
issariyādhipaccanti issarabhāvo issariyaṃ, adhipatibhāvo
ādhipaccaṃ, issariyaṃ ādhipaccaṃ etasmiṃ rajje, na
chedanabhedananti issariyādhipaccaṃ.
997. Trong phần đầu của Tương Ưng Dự Lưu, từ
“kiñcāpi” là một hư từ được
dùng trong ngữ cảnh vừa nâng lên (tán dương) vừa hạ xuống (phê
phán). Bậc Đạo Sư nói: “Này các Tỳ-kheo, dù cho một vị Chuyển
Luân Thánh Vương...” nhằm mục đích ghi nhận (nâng lên) quyền
năng thống trị của vị ấy trên bốn đại châu, nhưng đồng thời cũng
phê phán (hạ xuống) sự kiện rằng vị ấy vẫn chưa đoạn tận được
bốn ác đạo.
Catunnaṃ dīpānaṃ (Bốn châu lục): Ý chỉ bốn đại châu cùng với hai ngàn tiểu đảo bao quanh.
Issariyādhipaccaṃ (Quyền cai trị tối cao): Issariya là trạng thái của bậc tự chủ (chủ tể), ādhipacca
là trạng thái của bậc thống trị. Quyền thống trị này nằm ở vương
quyền, chứ không phải ở việc dùng hình phạt hay đao gậy (chém
giết, hành hình).
Kāretvā (Thực thi): Nghĩa là
vận hành hay thiết lập một vương quốc như thế.
Về cụm từ “Này các Tỳ-khưu, mặc dù một vị
Thánh đệ tử...”, ở đây từ kiñcāpi được dùng để
nâng đỡ và tán dương. Bậc Đạo Sư nói câu này nhằm nâng đỡ (an
ủi) việc vị Thánh đệ tử phải duy trì mạng sống bằng những nắm
cơm khất thực, đồng thời tán dương việc vị ấy đã đoạn tận được
bốn ác đạo.
Nantakāni (Giẻ rách):
Nghĩa là những mảnh vải vụn. Thậm chí một tấm vải dài mười ba hắc tay cũng bị
gọi là "giẻ rách" nếu nó được chắp nối từ những mảnh cắt rời.
Về Aveccappasādena (Lòng tin bất động): Có nghĩa là niềm tin không lay chuyển (acalappasāda). Niềm tin này
là một hay nhiều? Thực chất chỉ là một, đó là niềm tin phát sinh
từ Đạo quả (magga). Tuy nhiên, vì nó khởi lên đối với các
đối tượng (Phật, Pháp, Tăng) mà trước đó chưa từng đạt được như
vậy, nên được gọi là ba loại: "Lòng tin bất động nơi Phật", vân
vân.
Vì bản chất nó là một, nên nó không có sự phân biệt về mức độ. Không có
chuyện một vị Thánh đệ tử lại có lòng tin, lòng ái kính và sự
tôn trọng nơi Phật rất lớn mà nơi Pháp hay Tăng thì không; hoặc
chỉ lớn nơi Pháp mà không lớn nơi Phật hay Tăng. Điều đó không
xảy ra. (Các công thức Itipi so bhagavā... đã được giải
thích chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo).
Về Ariyakantehi (Các giới đức được bậc Thánh ái kính): Nghĩa là những điều được các bậc Thánh yêu
thích, ưa chuộng, hài lòng. Ngay cả khi đã tái sinh sang một
kiếp sống khác, các vị Thánh cũng không bao giờ vi phạm Ngũ
giới; do đó các giới này rất thân thiết (ái kính) với các vị ấy.
Các thuật ngữ như “không bị phá vỡ”
(akhaṇḍa), vân vân, được giải thích thông qua phép
ẩn dụ:
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Veludvàra
1. I. Vua (S.v,342)
1-2) Sàvatthi. Ở đấy... nói như sau:
3) -- Dầu cho, này các Tỷ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ
tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên
ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được
chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao
bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp;
tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được
giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi
ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
4) Nhưng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các
miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy
đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải
thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ
quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là
bốn?
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất
động đối với đức Phật: "Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh
Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự
Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".
6) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: "Pháp do Thế
Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến
để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình
giác hiểu".
7) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: "Diệu
hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của
Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh
là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ
tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn
trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".
8) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị
phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm,
đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ,
đưa đến Thiền định.
9) Vị ấy thành tựu bốn pháp này.
10) Và này các Tỷ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc
của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một
phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.
|