BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 14 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Cổng Tre- SN 55.1
Bài 665. LÀM VUA THUA LÀM THÁNH-

Kinh Chuyển Luân Vương (Cakkavattirājasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-665.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Bài kinh này là một trong những lời tuyên bố mạnh mẽ và rõ ràng nhất của Đức Phật về giá trị tối thượng của sự tu hành. Ngài đã so sánh hai hình ảnh đối cực: một bên là Chuyển Luân Thánh Vương — biểu tượng của quyền lực và vinh hoa tột đỉnh thế gian — và một bên là bậc Thánh đệ tử chỉ sống bằng khất thực và y phấn tảo. Dù Chuyển Luân Thánh Vương có thể thống trị bốn châu, sinh lên cõi trời Tāvatiṃsa, hưởng thụ dục lạc thiên cung, nhưng vì chưa đoạn trừ tham, sân, si và ba kiết sử hạ phần, vị ấy vẫn chưa thoát khỏi vòng luân hồi khổ đau. Ngược lại, bậc Thánh đệ tử dù sống đời cực kỳ giản dị, nhưng nhờ bốn pháp bất hoại (tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, và giới thanh tịnh), đã thực sự thoát khỏi ác đạo và chắc chắn hướng đến giác ngộ. Đây là một lời nhắc nhở sâu sắc cho chúng ta ngày nay: Quyền lực, giàu sang, danh vọng thế gian không thể mang lại sự giải thoát. Chỉ có tín tâm kiên cố vào Tam Bảo và giới hạnh thanh tịnh mới là tài sản chân thật, mới là thứ đưa con người vượt qua khổ đau đích thực.

Kinh Văn

997. sāvatthinidānaṃ. tatra kho bhagavā ... pe ... etadavoca — “kiñcāpi, bhikkhave, rājā cakkavattī {cakkavatti (syā. kaṃ. pī. ka.)} catunnaṃ dīpānaṃ issariyādhipaccaṃ rajjaṃ kāretvā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjati devānaṃ tāvatiṃsānaṃ sahabyataṃ, so tattha nandane vane accharāsaṅghaparivuto dibbehi ca pañcahi kāmaguṇehi samappito samaṅgībhūto paricāreti, so catūhi dhammehi asamannāgato, atha kho so aparimuttova {aparimutto ca (syā. kaṃ. ka.)} nirayā aparimutto tiracchānayoniyā aparimutto pettivisayā aparimutto apāyaduggativinipātā. kiñcāpi, bhikkhave, ariyasāvako piṇḍiyālopena yāpeti, nantakāni ca dhāreti, so catūhi dhammehi samannāgato, atha kho so parimutto {parimutto ca (syā. kaṃ. ka.)} nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā”.
“katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti. dhamme aveccappasādena samannāgato hoti — ‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti. saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti — ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti.
ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi acchiddehi asabalehi akammāsehi bhujissehi viññuppasatthehi aparāmaṭṭhehi samādhisaṃvattanikehi. imehi catūhi dhammehi samannāgato hoti. yo ca, bhikkhave, catunnaṃ dīpānaṃ paṭilābho, yo catunnaṃ dhammānaṃ paṭilābho catunnaṃ dīpānaṃ paṭilābho catunnaṃ dhammānaṃ paṭilābhassa kalaṃ nāgghati soḷasin”ti. paṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī.

Ở đó, Đức Thế Tôn dạy như sau:

«Này các Tỳ khưu, dù một Chuyển Luân Thánh Vương, sau khi thực thi quyền lực tối thượng, thống trị bốn châu thiên hạ, nhưng khi thân hoại mạng chung, được tái sinh vào thiện thú, cõi trời, giữa chư thiên Tam Thập Tam, trong vườn Nandana, được các tiên nữ vây quanh, hưởng thụ năm dục lạc trời, thì vị ấy vẫn chưa thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, chưa thoát khỏi cõi khổ, ác thú, đọa xứ. Vì sao? Vì vị ấy chưa sở hữu bốn pháp.

Nhưng này các Tỳ khưu, dù một Thánh đệ tử chỉ sống bằng thức ăn khất thực và mặc y phấn tảo, nhưng vì sở hữu bốn pháp, nên được giải thoát khỏi địa ngục, cõi súc sinh, cõi ngạ quỷ, thoát khỏi cõi khổ, ác thú, đọa xứ.

Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’

Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, có hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của đời.’

Có giới được các bậc Thánh trân trọng — không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.

Vị ấy sở hữu bốn pháp này.

Này các Tỳ khưu, giữa việc được làm Chuyển Luân Thánh Vương, thống trị bốn châu thiên hạ, và việc được bốn pháp này, thì việc được làm Chuyển Luân Thánh Vương không đáng bằng một phần mười sáu của việc được bốn pháp này.»

Chú Thích

Chuyển Luân Thánh Vương (Cakkavatti): Vị vua tối thượng theo truyền thuyết Ấn Độ, thống trị bốn châu thiên hạ bằng luân báu, hưởng thụ cực lạc thế gian và thiên giới. Bốn châu thiên hạ gồm: Jambudīpa (Nam Thiệm Bộ), Aparagoyāna (Tây Ngưu Hóa), Uttarakuru (Bắc Câu Lô), và Pubbavideha (Đông Thắng Thần), .

Bốn pháp (sotāpattiyaṅga): Đây chính là Tứ Bất Hoại Tịnh (bốn pháp không hư hoại) — là bản chất cố hữu của những bậc chứng đắc Dự Lưu (Sotāpatti).

Tín tâm bất hoại nơi Tam Bảo là niềm tin với sự hiểu biết sâu sắc về những đặc tính của Phật, Pháp, Tăng (Tiratanaguna). Những đặc tính hay ân đức nầy được trì tụng trong các nghi thức lễ Tam Bảo. Tín tâm nầy không bao giờ biến mất ở các bậc thánh hữu học khi còn luân hồi.

Giới được các bậc Thánh yêu mến: Giới thanh tịnh, không bị bẻ gãy, dẫn đến định lực.

Bố cảnh giới địa ngục, cõi súc sinh và cõi ngạ quỷ chính là cõi khổ (apāya), ác thú (duggati) và đọa xứ (vinipāta).

Sớ giải nói rằng các bậc Thánh không vi phạm (na kopenti) ngũ giới ngay cả khi tái sinh sang kiếp khác; do đó những giới hạnh này được các bậc Thánh yêu mến.

Phụ lục: Ân Đức Tam Bảo trong Tam Tạng Pāli là những đặc tính tự nhiên của Phật, Pháp, Tăng trong quá khứ, hiện tại, vị lai (đến đi cùng một cách, với chân thể diệu thường)

Có một số khác biệt giữ Pāli Tạng và Hán Tạng về đặc tính của Tam Bảo cần lưu ý:

Pāli Tạng ghi ân đức Phật có 9 trong lúc theo Hán Tạng thì có 10:

Ân đức Phật bản Pāli

  ‘Itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti. ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’ (Đáng được cúng dường, Chánh giác viên mãn, Đầy đủ trí tuệ và hạnh đức, Thấu hiểu thế gian, Bậc tối thượng điều phục chúng sanh, Thầy của trời và người, Bậc Giác Ngộ, Bậc được đời tôn kính)

Ân đức Phật bản chữ Hán

如來應供等正覺 明行足善逝世間解 無上士調御丈夫 天人師佛世尊 Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác Minh Hạnh Túc Thiện Thệ Thế Gian Giải Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu Thiên Nhân Sư Phật Thế Tôn

Thay vì “Vô thượng điều ngự” thì phân thành hai là “vô thượng sĩ và Điều ngự trượng phu”

Ân đức Pháp bản Pāli

 ‘Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti.

 ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, có hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Ân đức Pháp bản chữ Hán

世尊善說法律,現法、離熾然、不待時節、通達、引導、智者自知。Thế Tôn thiện thuyết pháp luật, hiện pháp, ly sí nhiên, bất đãi thời tiết, thông đạt, dẫn đạo, trí giả tự tri.

Ân đức Tăng bản Pāli

‘Suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ujuppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā, esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā’ti

‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của đời.’

Ân đức Tăng bản chữ Hán

世尊弟子眾,善向、正向、直向、等向。 謂四雙八輩。 是世尊弟子眾,應供養、應恭敬、應尊重,世間無上福田。Thế Tôn đệ tử chúng, thiện hướng, chánh hướng, trực hướng, đẳng hướng. Vị tứ song bát bối. Thị Thế Tôn đệ tử chúng, ưng cúng dường, ưng cung kính, ưng tôn trọng, thế gian vô thượng phước điền.

Phật giáo Bắc Truyền không tụng ân đức Pháp và Tăng trong các nghi thức tụng niệm nên rất ít Phật tử biết đến.

Sớ Giải

997. sotāpattisaṃyuttassa paṭhame kiñcāpīti anuggahagarahaṇesu nipāto. catunnañhi mahādīpānaṃ issariyādhipaccaṃ rajjaṃ anuggaṇhanto catunnañca apāyānaṃ appahīnabhāvaṃ garahanto satthā “kiñcāpi, bhikkhave, rājā cakkavattī”tiādimāha. tattha catunnaṃ dīpānanti dvisahassadīpaparivārānaṃ catunnaṃ mahādīpānaṃ. issariyādhipaccanti issarabhāvo issariyaṃ, adhipatibhāvo ādhipaccaṃ, issariyaṃ ādhipaccaṃ etasmiṃ rajje, na chedanabhedananti issariyādhipaccaṃ.
kāretvāti evarūpaṃ rajjaṃ pavattāpetvā. kiñcāpi, bhikkhave, ariyasāvakoti ettha anuggahapasaṃsāsu nipāto. piṇḍiyālopena hi yāpanaṃ anuggahanto catunnañca apāyānaṃ pahīnabhāvaṃ pasaṃsanto satthā “kiñcāpi, bhikkhave, ariyasāvako”tiādimāha. tattha nantakānīti anantakāni. terasahatthopi hi vatthasāṭako dasacchedanato paṭṭhāya nantakanteva saṅkhaṃ gacchati.
aveccappasādenāti acalappasādena. so panāyaṃ pasādo kiṃ eko, anekoti? ekova, so maggena āgatappasādo. yesu pana vatthūsu apubbaṃ acarimaṃ ruhati, tesaṃ vasena “buddhe aveccappasādenā”tiādinā nayena tidhā vutto. yasmā ca eko, tasmāva ninnānākaraṇo hoti. ariyasāvakassa hi buddheyeva pasādo ca pemañca gāravañca mahantaṃ, na dhamme vā saṅghe vā, dhammeyeva vā mahantaṃ, na buddhe vā saṅghe vā, saṅgheyeva vā mahantaṃ, na buddhe vā dhamme vāti etaṃ natthi. itipi so bhagavātiādīni visuddhimagge vitthāritāneva. ariyakantehīti ariyānaṃ kantehi piyehi manāpehi. pañca hi
sīlāni bhavantaragatāpi ariyā na kopenti, evaṃ tesaṃ piyāni. tāni sandhāyetaṃ vuttaṃ. akhaṇḍehītiādi sadisavasena vuttaṃ. mukhavaṭṭiyañhi chinnekadesā pāti khaṇḍāti vuccati, majjhe bhinnā chiddāti, ekasmiṃ padese visabhāgavaṇṇā gāvī sabalāti, nānābinducittā kammāsāti, evameva paṭipāṭiyā ādimhi vā ante vā bhinnaṃ sīlaṃ khaṇḍaṃ nāma, majjhe bhinnaṃ chiddaṃ, yattha katthaci dvinnaṃ vā tiṇṇaṃ vā paṭipāṭiyā bhinnattā sabalaṃ, ekantaraṃ bhinnaṃ kammāsaṃ. tesaṃ dosānaṃ abhāvena akhaṇḍāditā veditabbā. bhujissehīti bhujissabhāvakarehi. viññuppasatthehīti buddhādīhi viññūhi pasaṃsitehi. aparāmaṭṭhehīti “idaṃ nāma tayā kataṃ, idaṃ vītikkantan”ti evaṃ parāmasituṃ asakkuṇeyyehi. samādhisaṃvattanikehīti appanāsamādhiṃ upacārasamādhiṃ vā saṃvattetuṃ samatthehi.

997. Trong phần đầu của Tương Ưng Dự Lưu, từ “kiñcāpi” là một hư từ được dùng trong ngữ cảnh vừa nâng lên (tán dương) vừa hạ xuống (phê phán). Bậc Đạo Sư nói: “Này các Tỳ-kheo, dù cho một vị Chuyển Luân Thánh Vương...” nhằm mục đích ghi nhận (nâng lên) quyền năng thống trị của vị ấy trên bốn đại châu, nhưng đồng thời cũng phê phán (hạ xuống) sự kiện rằng vị ấy vẫn chưa đoạn tận được bốn ác đạo.

Catunnaṃ dīpānaṃ (Bốn châu lục): Ý chỉ bốn đại châu cùng với hai ngàn tiểu đảo bao quanh.

Issariyādhipaccaṃ (Quyền cai trị tối cao): Issariya là trạng thái của bậc tự chủ (chủ tể), ādhipacca là trạng thái của bậc thống trị. Quyền thống trị này nằm ở vương quyền, chứ không phải ở việc dùng hình phạt hay đao gậy (chém giết, hành hình).

Kāretvā (Thực thi): Nghĩa là vận hành hay thiết lập một vương quốc như thế.

Về cụm từ “Này các Tỳ-khưu, mặc dù một vị Thánh đệ tử...”, ở đây từ kiñcāpi được dùng để nâng đỡ và tán dương. Bậc Đạo Sư nói câu này nhằm nâng đỡ (an ủi) việc vị Thánh đệ tử phải duy trì mạng sống bằng những nắm cơm khất thực, đồng thời tán dương việc vị ấy đã đoạn tận được bốn ác đạo.

Nantakāni (Giẻ rách): Nghĩa là những mảnh vải vụn. Thậm chí một tấm vải dài mười ba hắc tay cũng bị gọi là "giẻ rách" nếu nó được chắp nối từ những mảnh cắt rời.

Về Aveccappasādena (Lòng tin bất động): Có nghĩa là niềm tin không lay chuyển (acalappasāda). Niềm tin này là một hay nhiều? Thực chất chỉ là một, đó là niềm tin phát sinh từ Đạo quả (magga). Tuy nhiên, vì nó khởi lên đối với các đối tượng (Phật, Pháp, Tăng) mà trước đó chưa từng đạt được như vậy, nên được gọi là ba loại: "Lòng tin bất động nơi Phật", vân vân.

Vì bản chất nó là một, nên nó không có sự phân biệt về mức độ. Không có chuyện một vị Thánh đệ tử lại có lòng tin, lòng ái kính và sự tôn trọng nơi Phật rất lớn mà nơi Pháp hay Tăng thì không; hoặc chỉ lớn nơi Pháp mà không lớn nơi Phật hay Tăng. Điều đó không xảy ra. (Các công thức Itipi so bhagavā... đã được giải thích chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo).

Về Ariyakantehi (Các giới đức được bậc Thánh ái kính): Nghĩa là những điều được các bậc Thánh yêu thích, ưa chuộng, hài lòng. Ngay cả khi đã tái sinh sang một kiếp sống khác, các vị Thánh cũng không bao giờ vi phạm Ngũ giới; do đó các giới này rất thân thiết (ái kính) với các vị ấy. Các thuật ngữ như “không bị phá vỡ” (akhaṇḍa), vân vân, được giải thích thông qua phép ẩn dụ:

  • Khaṇḍa (Bị phá vỡ): Giống như một cái chậu bị mẻ ở vành. Nếu giới bị vi phạm ở chặng đầu hoặc chặng cuối của một chuỗi các giới thì gọi là "bị phá vỡ".
  • Chidda (Bị nứt vụn): Giống như cái chậu bị thủng ở giữa. Nếu giới bị vi phạm ở đoạn giữa thì gọi là "nứt vụn".
  • Sabala (Bị tỳ vết): Giống như con bò có những đốm màu khác biệt ở một vài nơi. Nếu vi phạm hai hoặc ba giới cách quãng nhau thì gọi là "tỳ vết".
  • Kammāsa (Bị đốm tạp): Nếu vi phạm xen kẽ từng cái một thì gọi là "đốm tạp".
  • Akhaṇḍāditā (Sự không bị phá vỡ...): Cần được hiểu là sự vắng mặt của các lỗi nêu trên.
  • Bhujissehi (Đưa đến tự do): Có khả năng tạo ra trạng thái tự do (không nô lệ cho tham dục).
  • Viññuppasatthehi (Được người trí tán thán): Được các bậc thông tuệ như Đức Phật tán dương.
  • Aparāmaṭṭhehi (Không bị chấp thủ): Nghĩa là không thể bị châm chọc hay phê phán rằng: "Ngươi đã làm điều này, ngươi đã vi phạm điều kia".
  • Samādhisaṃvattanikehi (Đưa đến định tâm): Có khả năng dẫn đến việc đắc An chỉ định (appanā-samādhi) hoặc Cận định (upacāra-samādhi).

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Veludvàra

1. I. Vua (S.v,342)

1-2) Sàvatthi. Ở đấy... nói như sau:

3) -- Dầu cho, này các Tỷ-kheo, một vị Chuyển luân vương làm chủ tể và cai trị bốn châu, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, thế giới này, cộng trú với chư Thiên ở cõi Ba mươi ba; tại đấy, vị ấy trú trong rừng Nandana, được chúng Thiên nữ đoanh vây, được đầy đủ, được cung cấp, được bao bọc năm thiên dục công đức, nhưng không được đầy đủ bốn pháp; tuy vậy, vị ấy chưa được giải thoát khỏi địa ngục, chưa được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, chưa giải thoát khỏi ngạ quỷ, và chưa thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

4) Nhưng này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử, dầu muốn sống bằng các miếng ăn khất thực, đắp với y nhiều tấm (nantakàni); vị ấy đầy đủ bốn pháp. Và vị ấy được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi sanh vào loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thế nào là bốn?

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn".

6) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với Pháp: "Pháp do Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".

7) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời".

8) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị nhiễm ô, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

9) Vị ấy thành tựu bốn pháp này.

10) Và này các Tỷ-kheo, có sự lợi đắc của bốn châu và sự lợi đắc của bốn pháp. Sự lợi đắc bốn châu không đáng giá (agahati) một phần mười sáu lợi đắc bốn pháp.