BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 16 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Cổng Tre- SN 55.3
Bài 666. TRÚ NIỆM TỐT LÀNH GIỜ LÂM CHUNG -

Kinh Thiện Nam Dīghāvu (Dīghāvūpāsakasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-666.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Khi đối diện với lằn ranh của sự sống và cái chết, tâm lý thông thường của phàm phu là sự hoảng loạn, bám víu vào thân xác hoặc tiếc nuối những duyên trần chưa dứt. Đức Phật đã mở ra một phương trời hoàn toàn khác biệt: Giường bệnh không phải là nơi để rên rỉ, mà là trú xứ tối hậu của Tuệ quán (Vipassanā) bậc cao. Trong giờ phút cận tử, sự hối hận hay hoang mang về đạo đức là chướng ngại lớn nhất kéo tâm thức đọa vào ác đạo. Bằng cách ấn chứng bốn chi phần này, Đức Phật đã giúp Dīghāvu tái xác nhận "tấm hộ chiếu tâm linh" của mình. Ngài nhắc nhở ông rằng: Thân xác này có thể đang tan rã, nhưng nền tảng thánh tính trong ông là bất động. Hầu hết người bệnh chỉ có thể co cụm tầm nhìn trong cơn đau của thể xác hoặc không gian chật hẹp của căn phòng. Nhưng Đức Phật đã đẩy tầm nhìn của Dīghāvu vượt ra khỏi biên giới của cái tôi nhỏ hẹp để đi vào trục tọa độ của vũ trụ: "Sabbasaṅkhāresūti sabbesu tebhūmakasaṅkhāresu" (Quán chiếu vạn hành trong cả ba cõi). Kinh Dīghāvu là một thông điệp vô giá cho những ai đang học và hành theo Phật pháp. Nội dung kinh nầy xua tan quan niệm cho rằng tu tập là chuyện của lúc khỏe mạnh, còn lúc bệnh tật chỉ biết phó mặc cho số phận hay thuốc men.

Kinh Văn

999. ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe. tena kho pana samayena dīghāvu upāsako ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. atha kho dīghāvu upāsako pitaraṃ jotikaṃ gahapatiṃ āmantesi — “ehi tvaṃ, gahapati, yena bhagavā tenupasaṅkama; upasaṅkamitvā mama vacanena bhagavato pāde sirasā vanda — ‘dīghāvu, bhante, upāsako ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno.
so bhagavato pāde sirasā vandatī’ti. evañca vadehi — ‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena dīghāvussa upāsakassa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti. “evaṃ, tātā”ti kho jotiko gahapati dīghāvussa upāsakassa paṭissutvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho jotiko gahapati bhagavantaṃ etadavoca — “dīghāvu, bhante, upāsako ābādhiko hoti dukkhito bāḷhagilāno. so bhagavato pāde sirasā vandati. evañca vadeti — ‘sādhu kira, bhante, bhagavā yena dīghāvussa upāsakassa nivesanaṃ tenupasaṅkamatu anukampaṃ upādāyā’”ti. adhivāsesi bhagavā tuṇhībhāvena.
atha kho bhagavā nivāsetvā pattacīvaramādāya yena dīghāvussa upāsakassa nivesanaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā paññatte āsane nisīdi. nisajja kho bhagavā dīghāvuṃ upāsakaṃ etadavoca — “kacci te, dīghāvu, khamanīyaṃ, kacci yāpanīyaṃ? kacci dukkhā vedanā paṭikkamanti, no abhikkamanti; paṭikkamosānaṃ paññāyati, no abhikkamo”ti? “na me, bhante, khamanīyaṃ, na yāpanīyaṃ. bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo”ti. “tasmātiha te, dīghāvu, evaṃ sikkhitabbaṃ — ‘buddhe aveccappasādena samannāgato bhavissāmi — itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato bhavissāmi akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi’. evañhi te, dīghāvu, sikkhitabban”ti.
“yānimāni, bhante, bhagavatā cattāri sotāpattiyaṅgāni desitāni, saṃvijjante te dhammā mayi, ahañca tesu dhammesu sandissāmi. ahañhi, bhante, buddhe aveccappasādena samannāgato — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehī”ti. “tasmātiha tvaṃ, dīghāvu, imesu catūsu sotāpattiyaṅgesu patiṭṭhāya cha vijjābhāgiye dhamme uttari bhāveyyāsi. idha tvaṃ, dīghāvu, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī viharāhi, anicce dukkhasaññī, dukkhe anattasaññī pahānasaññī virāgasaññī nirodhasaññīti. evañhi te, dīghāvu, sikkhitabban”ti.
“yeme, bhante, bhagavatā cha vijjābhāgiyā dhammā desitā, saṃvijjante te dhammā mayi, ahañca tesu dhammesu sandissāmi. ahañhi, bhante, sabbasaṅkhāresu aniccānupassī viharāmi, anicce dukkhasaññī, dukkhe anattasaññī pahānasaññī virāgasaññī nirodhasaññī. api ca me, bhante, evaṃ hoti — ‘mā hevāyaṃ jotiko gahapati mamaccayena vighātaṃ āpajjī’”ti {āpajjati (ka.)} . “mā tvaṃ, tāta dīghāvu, evaṃ manasākāsi. iṅgha tvaṃ, tāta dīghāvu, yadeva te bhagavā āha, tadeva tvaṃ sādhukaṃ manasi karohī”ti.
atha kho bhagavā dīghāvuṃ upāsakaṃ iminā ovādena ovaditvā uṭṭhāyāsanā pakkāmi. atha kho dīghāvu upāsako acirapakkantassa bhagavato kālamakāsi. atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṃ etadavocuṃ — “yo so, bhante, dīghāvu nāma upāsako bhagavatā saṃkhittena ovādena ovadito so kālaṅkato. tassa kā gati, ko abhisamparāyo”ti? “paṇḍito, bhikkhave, dīghāvu upāsako, paccapādi {ahosi saccavādī (syā. kaṃ. pī. ka.)} dhammassānudhammaṃ, na ca maṃ dhammādhikaraṇaṃ {na ca dhammādhikaraṇaṃ (syā. kaṃ. pī. ka.)} vihesesi {viheṭhesi (itipi aññattha)} . dīghāvu, bhikkhave, upāsako pañcannaṃ orambhāgiyānaṃ saṃyojanānaṃ parikkhayā opapātiko tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā”ti. tatiyaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Rājagaha, tại Trúc Lâm, trong khu Nuôi Dưỡng Sóc. Lúc bấy giờ, cận sự nam Dīghāvu bị bệnh nặng, đau đớn, trầm trọng.

Ông nhờ tìm cha mình là gia chủ Jotika và nói: “Thưa cha, hãy đến gặp Đức Thế Tôn, thay con đảnh lễ Ngài, đặt đầu sát chân Ngài, và thưa rằng: ‘Bạch Thế Tôn, cận sự nam Dīghāvu đang bị bệnh nặng, đau đớn, trầm trọng; ông ấy đảnh lễ Thế Tôn, đặt đầu sát chân Ngài.’ Sau đó xin thưa: ‘Bạch Thế Tôn, nếu Ngài từ bi hoan hỷ, xin Ngài đến nhà của cận sự nam Dīghāvu.’”

Gia chủ Jotika đáp: “Được, con trai.” Ông đến gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và truyền lời nhắn. Đức Thế Tôn im lặng nhận lời.

Sau đó, Đức Thế Tôn mặc y, cầm bát và y, đi đến nhà của cận sự nam Dīghāvu. Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và nói với Dīghāvu:

«Này Dīghāvu, Ta hy vọng con đang chịu đựng được, hy vọng con đang khá hơn. Hy vọng các cảm thọ đau đớn đang giảm bớt chứ không tăng thêm, và sự giảm bớt chứ không phải sự tăng thêm là điều có thể nhận biết.»

Dīghāvu thưa: «Bạch Thế Tôn, con không chịu đựng được, con không khá hơn. Các cảm thọ đau đớn mạnh mẽ đang tăng lên chứ không giảm, và sự tăng lên chứ không phải sự giảm là điều có thể nhận biết.»

Đức Thế Tôn dạy: «Vì vậy, này Dīghāvu, con hãy tự huấn luyện như sau: ‘Ta sẽ là người có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: “Đức Thế Tôn là bậc A-la-hán…” Ta sẽ là người có tín tâm kiên cố nơi Pháp… nơi Tăng… Ta sẽ là người có giới được các bậc Thánh yêu mến — không bị bẻ gãy… dẫn đến định.’ Con hãy tự huấn luyện như vậy.»

Dīghāvu thưa: «Bạch Thế Tôn, bốn pháp Dự Lưu mà Thế Tôn đã dạy, những pháp ấy con có đầy đủ, và con đang sống phù hợp với những pháp ấy. Vì con có tín tâm kiên cố nơi Phật… nơi Pháp… nơi Tăng… và con có giới được các bậc Thánh yêu mến, không bị bẻ gãy… dẫn đến định.»

Đức Thế Tôn dạy tiếp: «Vì vậy, này Dīghāvu, dựa trên bốn pháp Dự Lưu này, con hãy tu tập thêm sáu pháp dẫn đến chánh tri. Ở đây, này Dīghāvu, con hãy an trú quán vô thường trong tất cả các hành, quán khổ trong cái vô thường, quán vô ngã trong  khổ, quán xả ly, quán ly tham, quán diệt tận. Con hãy tự tu tập như vậy.»

Dīghāvu thưa: «Bạch Thế Tôn, sáu pháp dẫn đến chánh tri mà Thế Tôn đã dạy, những pháp ấy con có đầy đủ, và con đang sống phù hợp với những pháp ấy. Vì con đang an trú quán vô thường trong tất cả các hành, quán khổ trong cái vô thường, quán vô ngã trong cái khổ, quán xả ly, quán ly tham, quán diệt tận. Tuy nhiên, bạch Thế Tôn, con có suy nghĩ: ‘Sau khi con qua đời, mong rằng gia chủ Jotika - cha của con - đừng rơi vào sầu muộn.’»

Gia chủ Jotika nói: «Này Dīghāvu thân mến, con đừng lo lắng về điều đó. Này Dīghāvu, hãy chú tâm lắng nghe những gì Đức Thế Tôn đang nói với con.»

Sau khi khuyên bảo cận sự nam Dīghāvu, Đức Thế Tôn đứng dậy rời khỏi chỗ ngồi. Không bao lâu sau khi Đức Thế Tôn ra về, cận sự nam Dīghāvu qua đời.

Sau đó, một số Tỳ khưu đến gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: «Bạch Thế Tôn, cận sự nam tên Dīghāvu mà Thế Tôn vừa khuyên bảo ngắn gọn đã qua đời. Ông ấy sẽ đi về đâu, tương lai của ông ấy ra sao?»

Đức Thế Tôn đáp: «Này các Tỳ khưu, Dīghāvu là người có trí tuệ. Ông ấy đã thực hành đúng theo Pháp và không làm phiền Ta về Pháp. Này các Tỳ khưu, với sự đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, cận sự nam Dīghāvu đã trở thành bậc hóa sinh,  sẽ chứng Niết-bàn ngay tại cõi ấy, không trở lại từ thế giới đó nữa.»

Chú Thích

Dīghāvu - một gia chủ (cư sĩ) tại thành Rājagaha (Vương Xá) và là con trai của đại phú gia  Jotika (Jotika-gahapati). Ông là một vị thánh dự lưu (Sotāpanna). Theo Sớ Giải, khi ông lâm bệnh nặng, ông đã nhờ cha mình đến gặp Đức Phật để cung thỉnh Ngài đến thăm ông. Đức Phật đã nhận lời thỉnh mời, đến thuyết pháp và an ủi ông. Không lâu sau đó, Dīghāvu qua đời trong quả vi thánh Bất Lai (Anāgāmī).

Theo Sớ giải, Đức Phật đề cập tới bốn chi phần dự lưu để ấn chứng và nhắc nhở Dīghāvu về nền tảng nội tại vững chắc mà ông đã có (niềm tin bất động nơi Phật, Pháp, Tăng và Giới thanh tịnh), làm nền tảng cho các tầng thiền quán cao hơn.

Từ "thuộc về minh phần" (vijjābhāgiye) chỉ cho các trạng thái tâm thức hoặc các pháp trợ duyên trực tiếp dẫn đến sự bừng sáng của đạo quả, đoạn trừ vô minh.

Sabbasaṅkhāresū - cụm từ "trong tất cả các hành" (sabbasaṅkhāresū)  nhấn mạnh đối tượng của tuệ quán (Vipassanā). Hành giả phải nhìn thấy tính chất vô thường, khổ, vô ngã của mọi hiện tượng trong toàn bộ tam giới.

Vì cư sĩ Dīghāvu đã là bậc Dự Lưu (Sotāpanna - tầng Thánh thứ nhất), nên Đức Phật không giảng lại căn bản nữa mà hướng dẫn thẳng vào lộ trình tu quán cao cấp để đắc ba tầng đạo quả tiếp theo: Nhất Lai (Sakadāgāmī), Bất Lai (Anāgāmī), và A-la-hán (Arahant). Nhờ thực hành theo lời dạy này trước khi lâm chung, Dīghāvu đã chứng đắc quả vị Bất Lai (Anāgāmī).

Cụm từ Vighātanti dukkhaṃ - sự tổn hại / khổ đau -  ngắn gọn mang tính từ vựng, xác định các trạng thái xung đột nội tâm, bức bách của thân tâm đều đồng nghĩa với bản chất khổ đau (Dukkha).

Sớ Giải

999. tatiye tasmāti yasmā catūsu sotāpattiyaṅgesu sandissasi, tasmā. vijjābhāgiyeti vijjākoṭṭhāsike. sabbasaṅkhāresūti sabbesu tebhūmakasaṅkhāresu. evamassa upari tiṇṇaṃ maggānaṃ vipassanā kathitā. vighātanti dukkhaṃ.

Trong (bài kinh) thứ ba, từ "do vậy" (tasmā) có nghĩa là: vì lý do ngươi đã hiển lộ, đã thành tựu trọn vẹn bốn chi phần Dự Lưu (catūsu sotāpattiyaṅgesu), do vậy.

Vijjābhāgiyeti vijjākoṭṭhāsike. Từ "thuộc về minh phần" (vijjābhāgiye) có nghĩa là thuộc về các phần của minh trí, dự phần vào tuệ giác tự chứng (vijjākoṭṭhāsike).

Sabbasaṅkhāresūti sabbesu tebhūmakasaṅkhāresu. Từ "trong tất cả các hành" (sabbasaṅkhāresū) có nghĩa là trong toàn bộ các pháp hữu vi thuộc ba cõi (tebhūmakasaṅkhāresu - gồm Cõi Dục, Cõi Sắc và Cõi Vô Sắc).

Evamassa upari tiṇṇaṃ maggānaṃ vipassanā kathitā. Như vậy, phương pháp thực hành thiền quán (Vipassanā) dẫn đến ba tầng Thánh đạo cấp trên (upari tiṇṇaṃ maggānaṃ) đã được thuyết giảng cho vị ấy.

Vighātanti dukkhaṃ. Từ "sự tổn hại/khổ hại" (vighātaṃ) có nghĩa là Khổ đau (dukkhaṃ).

*******************

Bài 665. B KHI SỰ TU TẬP THẬT SỰ BÁM RỄ

Kinh Phạm Hạnh Vững Chắc (brahmacariyogadhasuttaṃ)

Bài kinh nầy mang ý nghĩa trùng lập với kinh trước, Kinh Chuyển Luân Vương, nên chỉ dịch để tham khảo,

Kinh Văn

998. “catūhi, bhikkhave, dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo. “katamehi catūhi? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā’ti.
dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. imehi kho, bhikkhave, catūhi dhammehi samannāgato ariyasāvako sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
idamavoca bhagavā. idaṃ vatvāna {vatvā (sī. pī.) evamīdisesu ṭhānesu} sugato athāparaṃ etadavoca satthā — “yesaṃ saddhā ca sīlañca, pasādo dhammadassanaṃ. te ve kālena paccenti, brahmacariyogadhaṃ sukhan”ti. dutiyaṃ.
«Này các Tỳ khưu, Thánh đệ tử nào sở hữu bốn pháp thì là bậc Dự Lưu, không còn bị ràng buộc vào đọa xứ, đã định hướng, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ.

Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, Thánh đệ tử có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Điều Ngự, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’

Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của đời.’

Này các Tỳ khưu, Thánh đệ tử nào sở hữu bốn pháp này thì là bậc Dự Lưu, không còn bị ràng buộc vào đọa xứ, đã định hướng, chắc chắn sẽ hướng đến giác ngộ.

Đức Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, lại nói thêm bài kệ sau:

Người có tín và giới
Tịnh tín và thấy pháp
Tất sẽ được an lạc
Với nền tảng phạm hạnh

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Veludvàra

2. II. Thể Nhập (S.v,343)

1-2) ...

3) -- Thành tựu bốn pháp, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không có thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Thế nào là bốn?

4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng cúng,... Phật, Thế Tôn".

5-6) Ðối với Pháp... Ðối với Tăng...

7) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

8) Thành tựu bốn pháp này, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ.

9) Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Ai có tín và giới,
Tịnh tín và thấy pháp,
Ðến thời chúng chín muồi,
Nhập Phạm hạnh, được lạc.

3. III. Dìghàvu (S.v,344)

1) Một thời, Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

2) Lúc bấy giờ, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

3) Rồi cư sĩ Dìghàvu thưa với cha là Jotika:

-- Hãy đi, thưa Cha, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nhân danh con, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa: "Cư sĩ Dìghàvu, bạch Thế Tôn, bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh, xin cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn". Rồi Cha hãy thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến nhà cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!"

-- Ðược, này Con.

Gia chủ Jotika nghe lời cư sĩ Dìghàvu, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.

4) Ngồi một bên, gia chủ Jotika bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, cư sĩ Dìghàvu bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh. Vị ấy cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn và thưa như sau: "Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu vì lòng từ mẫn!"

Thế Tôn im lặng nhận lời.

5) Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát đi đến trú xứ cư sĩ Dìghàvu; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Ngồi xuống rồi, Thế Tôn nói với cư sĩ Dìghàvu:

-- Này Dìghàvu, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có dấu hiệu giảm thiểu, không tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không có thể kham nhẫn, con không có thể chịu đựng. Ðau đớn kịch liệt nơi con không có giảm thiểu, chúng tăng trưởng. Chúng có dấu hiệu tăng trưởng, không có dấu hiệu giảm thiểu.

6) -- Do vậy, này Dìghàvu, Ông hãy học tập như sau: "Ta sẽ thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn. Ðối với Pháp... Ðối với chúng Tăng... Tôi sẽ thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định"". Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập.

7) -- Bạch Thế Tôn, đối với bốn Dự lưu phần do Thế Tôn thuyết giảng, tất cả các pháp ấy đều có ở trong con. Con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con thành tựu lòng tin bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn... Ðối với Pháp... đối với chúng Tăng... Tôi thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định".

-- Do vậy, này Dìghàvu, sau khi Ông đã an trú trong bốn Dự lưu phần này, Ông hãy tu tập thêm sáu minh phần pháp (chavijjà-bhàgiye dhamme).

8) Ở đây, này Dìghàvu, Ông hãy trú, quán vô thường trong tất cả hành, quán khổ tưởng trong vô thường, quán vô ngã tưởng trong khổ, quán tưởng đoạn tận, quán tưởng ly tham, quán tưởng đoạn diệt. Như vậy, này Dìghàvu, Ông cần phải học tập.

-- Bạch Thế Tôn, đối với sáu minh phần pháp được Thế Tôn thuyết giảng này, chúng đều có ở trong con và con thực hiện chúng đầy đủ. Bạch Thế Tôn, con trú, quán vô thường trong tất cả hành, quán khổ tưởng trong vô thường, quán vô ngã tưởng trong khổ, quán tưởng đoạn tận, quán tưởng ly tham, quán tưởng đoạn diệt.

9) Nhưng, bạch Thế Tôn, con có ý nghĩ sau đây: "Ta không có muốn gia chủ Jotika, ở đây khi ta chết phải rơi vào khốn khổ (vighàta)".

-- Này Dìghàvu, chớ có tác ý như vậy! Hãy nhìn, này Dighàvu! Những gì Thế Tôn đang nói cho con, con hãy khéo tác ý.

10) Rồi Thế Tôn sau khi giáo giới cho cư sĩ Dìghàvu với lời giáo giới, từ chỗ ngồi đứng dậy, và ra đi.

11) Cư sĩ Dìghàvu, sau khi Thế Tôn ra đi không bao lâu liền mệnh chung.

12) Rồi nhiều Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, người cư sĩ tên là Dìghàvu; sau khi được nghe Thế Tôn giáo giới một cách tóm tắt, đã mệnh chung. Sanh thú cư sĩ ấy thế nào? Sanh xứ cư sĩ ấy chỗ nào?

-- Hiền minh, này các Tỷ-kheo, là cư sĩ Dìghàvu! Cư sĩ Dìghàvu thực hiện các pháp và tùy pháp, không làm phiền nhiễu Ta với những kiện tụng về pháp.

13) Cư sĩ Dìghàvu, sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh nhập diệt ở tại đấy, không còn trở lui thế giới này nữa.