BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 20 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Cổng Tre- SN 55.7
Bài 669. KỶ SỞ BẤT DỤC VẬT THI Ư NHÂN-

Kinh Dân Làng Trúc Môn (Veḷudvāreyyasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-669.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Giữa cuộc đời đầy tranh chấp và vị kỷ, Đức Phật dạy một điều vô cùng giản dị mà sâu thẳm : ai cũng sợ đau khổ, ai cũng yêu quý mạng sống và mong cầu hạnh phúc. Từ một sự thật rất người ấy, Ngài dựng lên cả nền tảng đạo đức của bậc Thánh. “Điều gì mình không muốn nhận, người khác cũng không muốn nhận” — chỉ một quán niệm ấy thôi đã đủ ngăn bàn tay khỏi sát hại, ngăn lòng tham khỏi trộm cắp, ngăn dục vọng khỏi phản bội, và ngăn miệng lưỡi khỏi làm tổn thương thế gian. Đức Phật không dạy con người sống đạo đức vì sợ hãi hình phạt, mà vì hiểu biết và đồng cảm. Khi đặt mình vào nỗi đau của kẻ khác, lòng từ bi tự nhiên sinh khởi. Đạo đức lúc ấy không còn là sự ép buộc, mà trở thành biểu hiện tự nhiên của trí tuệ. Một người không sát sinh không phải chỉ vì đó là điều răn theo tín lý tôn giáo mà vì thấy sinh mạng nào cũng run rẩy trước đau đớn như chính mình. Một người không nói lời thô ác không phải vì muốn được khen là hiền lành, mà vì hiểu lời nói cũng có thể làm trái tim người khác rướm máu. Trong ý nghĩa ấy, bài kinh nầy không chỉ là lời dạy cho người xưa ở một ngôi làng nhỏ xứ Kosala, mà còn là ánh đèn cho cả nhân loại hôm nay — một thế giới đang rất cần học lại nghệ thuật đặt mình vào nỗi đau của nhau.

Kinh Văn

1003. evaṃ me sutaṃ — ekaṃ samayaṃ bhagavā kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ yena veḷudvāraṃ nāma kosalānaṃ brāhmaṇagāmo tadavasari. assosuṃ kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā — “samaṇo khalu, bho, gotamo sakyaputto sakyakulā pabbajito kosalesu cārikaṃ caramāno mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṃ veḷudvāraṃ anuppatto. taṃ kho pana bhavantaṃ gotamaṃ evaṃ kalyāṇo kittisaddo abbhuggato — ‘itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā {bhagavāti (sī. syā. kaṃ. pī.)} .
so imaṃ lokaṃ sadevakaṃ samārakaṃ sabrahmakaṃ sassamaṇabrāhmaṇiṃ pajaṃ sadevamanussaṃ sayaṃ abhiññā sacchikatvā pavedeti. so dhammaṃ deseti ādikalyāṇaṃ majjhekalyāṇaṃ pariyosānakalyāṇaṃ sātthaṃ sabyañjanaṃ, kevalaparipuṇṇaṃ parisuddhaṃ brahmacariyaṃ pakāseti’. sādhu kho pana tathārūpānaṃ arahataṃ dassanaṃ hotī”ti. atha kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā appekacce bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce bhagavatā saddhiṃ sammodiṃsu; sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdiṃsu.
appekacce yena bhagavā tenañjaliṃ paṇāmetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce bhagavato santike nāmagottaṃ sāvetvā ekamantaṃ nisīdiṃsu. appekacce tuṇhībhūtā ekamantaṃ nisīdiṃsu. ekamantaṃ nisinnā kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṃ etadavocuṃ — “mayaṃ, bho gotama, evaṃkāmā evaṃchandā evaṃadhippāyā — puttasambādhasayanaṃ ajjhāvaseyyāma, kāsikacandanaṃ paccanubhaveyyāma, mālāgandhavilepanaṃ dhāreyyāma, jātarūparajataṃ sādiyeyyāma, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyāma. tesaṃ no bhavaṃ gotamo amhākaṃ evaṃkāmānaṃ evaṃchandānaṃ evaṃadhippāyānaṃ tathā dhammaṃ desetu yathā mayaṃ puttasambādhasayanaṃ ajjhāvaseyyāma ... pe ... sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyāmā”ti.
“attūpanāyikaṃ vo, gahapatayo, dhammapariyāyaṃ desessāmi. taṃ suṇātha, sādhukaṃ manasi karotha; bhāsissāmī”ti. “evaṃ, bho”ti kho te veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavato paccassosuṃ. bhagavā etadavoca —“katamo ca, gahapatayo, attupanāyiko dhammapariyāyo? idha, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘ahaṃ khosmi jīvitukāmo amaritukāmo sukhakāmo dukkhappaṭikūlo. yo kho maṃ jīvitukāmaṃ amaritukāmaṃ sukhakāmaṃ dukkhappaṭikūlaṃ jīvitā voropeyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana paraṃ jīvitukāmaṃ amaritukāmaṃ sukhakāmaṃ dukkhappaṭikūlaṃ jīvitā voropeyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ.
yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṃ paraṃ tena saṃyojeyyan’ti! so iti paṭisaṅkhāya attanā ca pāṇātipātā paṭivirato hoti, parañca pāṇātipātā veramaṇiyā samādapeti, pāṇātipātā veramaṇiyā ca vaṇṇaṃ bhāsati. evamassāyaṃ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti. “puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘yo kho me adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādiyeyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana parassa adinnaṃ theyyasaṅkhātaṃ ādiyeyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṃ paraṃ tena saṃyojeyyan’ti! so iti paṭisaṅkhāya attanā ca adinnādānā paṭivirato hoti, parañca adinnādānā veramaṇiyā samādapeti, adinnādānā veramaṇiyā ca vaṇṇaṃ bhāsati. evamassāyaṃ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘yo kho me dāresu cārittaṃ āpajjeyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana parassa dāresu cārittaṃ āpajjeyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṃ paraṃ tena saṃyojeyyan’ti! so iti paṭisaṅkhāya attanā ca kāmesumicchācārā paṭivirato hoti, parañca kāmesumicchācārā veramaṇiyā samādapeti, kāmesumicchācārā veramaṇiyā ca vaṇṇaṃ bhāsati. evamassāyaṃ kāyasamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘yo kho me musāvādena atthaṃ bhañjeyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana parassa musāvādena atthaṃ bhañjeyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṃ paraṃ tena saṃyojeyyan’ti! so iti paṭisaṅkhāya attanā ca musāvādā paṭivirato hoti, parañca musāvādā veramaṇiyā samādapeti, musāvādā veramaṇiyā ca vaṇṇaṃ bhāsati. evamassāyaṃ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — yo kho maṃ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyya {mittehi bhedeyya (syā. kaṃ. pī. ka.)}, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana paraṃ pisuṇāya vācāya mitte bhindeyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ ... pe ... evamassāyaṃ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — yo kho maṃ pharusāya vācāya samudācareyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana paraṃ pharusāya vācāya samudācareyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ. yo kho myāyaṃ dhammo ... pe ... evamassāyaṃ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti. “puna caparaṃ, gahapatayo, ariyasāvako iti paṭisañcikkhati — ‘yo kho maṃ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyya, na metaṃ assa piyaṃ manāpaṃ. ahañceva kho pana paraṃ samphabhāsena samphappalāpabhāsena samudācareyyaṃ, parassapi taṃ assa appiyaṃ amanāpaṃ. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, parassa peso dhammo appiyo amanāpo. yo kho myāyaṃ dhammo appiyo amanāpo, kathāhaṃ paraṃ tena saṃyojeyyan’ti! so iti paṭisaṅkhāya attanā ca samphappalāpā paṭivirato hoti, parañca samphappalāpā veramaṇiyā samādapeti, samphappalāpā veramaṇiyā ca vaṇṇaṃ bhāsati. evamassāyaṃ vacīsamācāro tikoṭiparisuddho hoti.
“so buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti; dhamme ... pe ... saṅghe aveccappasādena samannāgato hoti suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... pe ... anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassāti. ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. yato kho, gahapatayo, ariyasāvako imehi sattahi saddhammehi {dhammehi (sī.)} samannāgato hoti imehi catūhi ākaṅkhiyehi ṭhānehi, so ākaṅkhamāno attanāva attānaṃ byākareyya — ‘khīṇanirayomhi khīṇatiracchānayoni {khīṇatiracchānayoniyo (sī. syā. kaṃ. pī.), khīṇatiracchānayoniko (ka.)} khīṇapettivisayo khīṇāpāyaduggativinipāto, sotāpannohamasmi avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’”ti.
evaṃ vutte veḷudvāreyyakā brāhmaṇagahapatikā bhagavantaṃ etadavocuṃ “abhikkantaṃ, bho gotama ... pe ... ete mayaṃ bhavantaṃ gotamaṃ saraṇaṃ gacchāma dhammañca bhikkhusaṅghañca. upāsake no bhavaṃ gotamo dhāretu ajjatagge pāṇupete {pāṇupetaṃ (ka.)} saraṇaṃ gate”ti. sattamaṃ.

Tôi được nghe như vầy.

Một thời, Thế Tôn du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ-kheo, và đi đến một làng Bà-la-môn của xứ Kosala tên là Veḷudvāra (Cổng Tre).

Bấy giờ các gia chủ Bà-la-môn ở Veḷudvāra nghe rằng:

“Thưa chư vị, Sa-môn Gotama, người con của dòng họ Sakya đã xuất gia từ gia tộc Sakya, đang du hành trong xứ Kosala cùng với đại chúng Tỳ-kheo và đã đến Cổng Tre. Tiếng tốt đẹp này được truyền bá về Tôn giả Gotama như sau: ‘Thế Tôn ấy là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’. Sau khi tự mình chứng ngộ bằng thắng trí thế giới này cùng với chư thiên, Māra, Phạm thiên, cùng thế hệ này với các Sa-môn, Bà-la-môn, chư thiên và loài người, Ngài tuyên thuyết lại cho người khác biết. Ngài thuyết pháp thiện diệu ở phần đầu, thiện diệu ở phần giữa, thiện diệu ở phần cuối, đầy đủ ý nghĩa và văn cú; Ngài chỉ bày đời sống phạm hạnh hoàn toàn viên mãn và thanh tịnh.’ Thật tốt lành khi được diện kiến những bậc A-la-hán như vậy.”

Rồi các gia chủ Bà-la-môn ở Veḷudvāra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến có người đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người chào hỏi Thế Tôn, sau khi thăm hỏi thân tình rồi ngồi xuống một bên; có người chắp tay cung kính hướng về Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người xưng tên họ với Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; có người im lặng rồi ngồi xuống một bên.

Khi đã ngồi xuống một bên, các gia chủ Bà-la-môn ở Cổng Tre bạch với Thế Tôn:

“Bạch Tôn giả Gotama, chúng tôi có những mong muốn, ước vọng và hy vọng như sau: ‘Mong rằng chúng tôi được sống trong gia đình đông con cháu! Mong được hưởng gỗ chiên-đàn Kāsi! Mong được dùng vòng hoa, hương thơm và mỹ phẩm! Mong được vàng bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong được sinh vào cõi lành, cõi trời!’ Vì chúng tôi có những mong muốn, ước vọng và hy vọng như vậy, xin Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi theo cách mà chúng tôi có thể sống trong gia đình đông con cháu … và sau khi thân hoại mạng chung được sinh vào cõi lành, cõi trời.”

“Các gia chủ, Ta sẽ giảng cho các ông một pháp môn lấy tự thân làm ví dụ (attūpanāyika dhammapariyāya). Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.”

“Thưa vâng,” các gia chủ Bà-la-môn đáp lời Thế Tôn.

Thế Tôn nói:

“Và này các gia chủ, thế nào là pháp môn lấy mình làm ví dụ?

Ở đây, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau:

‘Ta là người muốn sống, không muốn chết; mong cầu hạnh phúc và chán ghét khổ đau. Nếu có ai đoạt mạng sống của ta, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta đoạt mạng sống của người khác - của một người cũng muốn sống, không muốn chết, mong cầu hạnh phúc và chán ghét khổ đau - điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy. Điều gì không đáng yêu, không đáng thích đối với ta thì cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người khác. Vậy làm sao ta có thể gây cho người khác điều mà chính ta không ưa không thích?’ Sau khi suy nghĩ như vậy người ấy tự mình từ bỏ sát sinh, khuyên người khác từ bỏ sát sinh, và tán thán sự từ bỏ sát sinh. Như vậy thân nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.”

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ: ‘Nếu có ai lấy của không cho nơi ta, tức là trộm cắp, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta lấy của không cho nơi người khác, tức là trộm cắp, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy. Điều gì không đáng yêu, không đáng thích đối với ta thì cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người khác. Vậy làm sao ta có thể gây cho người khác điều mà chính ta không ưa không thích?’ Sau khi suy nghĩ như vậy: tự mình từ bỏ lấy của không cho, khuyên người khác từ bỏ lấy của không cho, và tán thán sự từ bỏ lấy của không cho. Như vậy thân nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ: ‘Nếu có ai ngoại tình với vợ của ta, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta ngoại tình với vợ của người khác, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy. Điều gì không đáng yêu, không đáng thích đối với ta thì cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người khác. Vậy làm sao ta có thể gây cho người khác điều mà chính ta không ưa không thích?’ Sau khi suy nghĩ như vậy người ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong dục, khuyên người khác từ bỏ tà hạnh trong dục, và tán thán sự từ bỏ tà hạnh trong dục. Như vậy thân nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ:‘Nếu có ai dùng lời nói dối làm tổn hại lợi ích của ta, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta dùng lời nói dối làm tổn hại lợi ích của người khác, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy. Điều gì không đáng yêu, không đáng thích đối với ta thì cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người khác. Vậy làm sao ta có thể gây cho người khác điều mà chính ta không ưa không thích?’Sau khi suy nghĩ như vậy người ấy tự mình từ bỏ nói dối, khuyên người khác từ bỏ nói dối, và tán thán sự từ bỏ nói dối. Như vậy khẩu nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ: ‘Nếu có ai dùng lời nói chia rẽ khiến ta lìa xa bạn hữu, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta dùng lời nói chia rẽ khiến người khác lìa xa bạn hữu, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy…’ Như vậy khẩu nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ: ‘Nếu có ai dùng lời thô ác nói với ta, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta. Nay nếu ta dùng lời thô ác nói với người khác, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy…’ Như vậy khẩu nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Lại nữa, này các gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ: ‘Nếu có ai nói lời phù phiếm, tán gẫu vô ích với ta, điều ấy sẽ không đáng yêu, không đáng thích đối với ta.nNay nếu ta nói lời phù phiếm, tán gẫu vô ích với người khác, điều ấy cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người ấy.Điều gì không đáng yêu, không đáng thích đối với ta thì cũng không đáng yêu, không đáng thích đối với người khác. Vậy làm sao ta có thể gây cho người khác điều mà chính ta không ưa không thích?’ Sau khi suy nghĩ như vậy người ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyên người khác từ bỏ lời nói phù phiếm, và tán thán sự từ bỏ lời nói phù phiếm. Như vậy khẩu nghiệp của vị ấy được thanh tịnh theo ba phương diện.

“Vị ấy có tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’

Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của thế gian.’

Có giới được các bậc Thánh trân trọng - không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.

“Này các gia chủ, khi vị Thánh đệ tử thành tựu bảy thiện pháp này cùng bốn trạng thái đáng mong cầu này, nếu muốn, vị ấy có thể tự tuyên bố về mình rằng:

‘Ta đã chấm dứt địa ngục, chấm dứt cõi bàng sinh, chấm dứt cảnh giới ngạ quỷ, chấm dứt các cõi khổ, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Nhập Lưu, không còn bị đọa vào cõi dữ, đã được quyết định hướng đi, lấy giác ngộ làm cứu cánh.’”

Khi được nói như vậy, các gia chủ Bà-la-môn ở Veḷudvāra thưa:

“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!…Chúng con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và quy y chúng Tăng. Từ hôm nay, xin Thế Tôn ghi nhận chúng con là những cư sĩ đã quy y trọn đời.”

Top of Form

Bottom of Form

Chú Thích

Veḷudvāra là một ngôi làng Bà-la-môn của xứ Kosala, nơi Đức Phật từng lưu trú và thuyết bài kinh Veḷudvāreyya Sutta (S.v.352).Theo ngài Buddhaghosa (SA.iii.217), địa danh này được gọi như vậy vì truyền thống kể rằng nơi cổng vào ngôi làng có một bụi tre mọc um tùm

“Pháp môn lấy mình làm ví dụ” (attūpanāyika dhammapariyāya) Đây là cốt lõi của toàn bài kinh. Đức Phật không bắt đầu bằng giáo điều hay mệnh lệnh đạo đức, mà khởi đi từ kinh nghiệm phổ quát nhất của con người:

“Ta muốn sống, không muốn chết;
ta muốn hạnh phúc, ghét khổ đau.”

Từ chính cảm thọ của mình, hành giả suy ra cảm thọ của người khác. Đây là nền tảng của lòng từ bi và đạo đức Phật giáo. Không sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh… không phải vì sợ hình phạt, mà vì hiểu rằng:

“Điều gì mình không muốn nhận,
người khác cũng không muốn nhận.”

Đạo đức trong Phật giáo phát sinh từ trí tuệ. Đức Phật không nói: “Ngươi không được làm điều ác.” Ngài dạy:“Hãy quán chiếu hậu quả nơi chính mình.” Vì thế giới luật ở đây không mang tính áp đặt, mà là kết quả của: sự đồng cảm, trí tuệ, và khả năng đặt mình vào vị thế người khác.  Đây là hình thức đạo đức rất sâu sắc, vì nó phát sinh từ nội tâm chứ không do cưỡng ép từ bên ngoài.

“Thanh tịnh theo ba phương diện” Mỗi thiện hành được trình bày qua ba cấp độ:

1.    tự mình tránh điều ác,

2.    khuyên người khác tránh điều ác,

3.    tán thán sự từ bỏ điều ác.

Điều này cho thấy thiện pháp không dừng ở hành vi cá nhân, mà còn lan tỏa thành ảnh hưởng đạo đức trong xã hội. Một người chân chính không chỉ sống tốt cho riêng mình, mà còn trở thành nguồn sáng cho người khác.

Bảy thiện pháp và bốn dự lưu phần. Bài kinh kết hợp bảy thiện pháp thuộc thân và khẩu, với bốn dự lưu phần (tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, thánh giới). Điều này cho thấy đạo đức và tâm linh không tách rời nhau. Không thể có giác ngộ thật sự nếu đời sống hằng ngày còn nói dối, chia rẽ, thô ác, hay tổn hại người khác.

“Ta đã chấm dứt địa ngục, chấm dứt cõi bàng sinh, chấm dứt cảnh giới ngạ quỷ, chấm dứt các cõi khổ, ác thú, đọa xứ.  ” Đây không phải lời tuyên bố kiêu mạn, mà là sự xác chứng nội tâm của bậc Nhập Lưu. Khi tà kiến bị phá vỡ, tín tâm trở nên bất động, đời sống được xây dựng trên từ bi và giới đức, thì dòng tâm đã đổi hướng.Người ấy tuy chưa giải thoát hoàn toàn, nhưng không còn có thể rơi xuống những cảnh giới đen tối của tâm thức nữa.

Sớ Giải

1003. sattame veḷudvāranti gāmadvāre paveṇiāgatassa veḷugacchassa atthitāya evaṃladdhanāmo gāmo. attupanāyikanti attani upanetabbaṃ. samphabhāsenāti amantabhāsena. samphappalāpabhāsenāti samphappalāpasambhāsena niratthakena aññāṇavacanenāti attho.

1003. Trong kinh thứ bảy, “Veḷudvāra”: Làng được gọi là Veḷudvāra (Cổng Tre) vì tại cổng làng có một bụi tre cổ thụ đã tồn tại từ nhiều đời trước (truyền nối qua các thế hệ), nên mới có tên gọi ấy.

“attupanāyika”: Chỉ pháp  “lấy bản thân làm thí dụ”, tức là pháp cần được đem áp dụng trực tiếp vào bản thân, soi xét lấy mình làm trung tâm.

“samphabhāsenā”: Là lời nói không mang lại lợi ích, tức là cách nói chuyện vô ích, không có mục đích.

“samphappalāpabhāsenā”: Là lời nói phù phiếm, nhảm nhí, vô nghĩa, toàn những câu chuyện tầm phào, vô bổ, thuộc loại lời nói của kẻ thiếu trí tuệ.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Veludvàra

7. VII. Những Người Ở Veludvàra (S.v,352)

1) Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn đang đi du hành giữa Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đi đến một làng Bà-la-môn của dân chúng Kosala tên là Veludvàra.

2) Các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra được nghe: "Sa-môn Gotama là Thích tử, đã xuất gia từ gia tộc họ Thích, đang đi du hành giữa dân chúng Kosala cùng với đại chúng Tỷ-kheo và đã đến Veludvàra". Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được truyền đi về Thế Tôn Gotama: "Ðây là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Với thắng trí, Ngài tự thân chứng ngộ thế giới này cùng với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Sau khi chứng ngộ, Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện có nghĩa, có văn. Ngài truyền dạy Phạm hạnh hoàn toàn, đầy đủ, trong sạch. Tốt lành thay, sự chiêm ngưỡng một vị A-la-hán như vậy!"

3) Rồi các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra đi đến Thế Tôn. Sau khi đến, một số đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên; một số chấp tay vái chào Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên; một số nói lên với Thế Tôn tên và dòng họ rồi ngồi xuống một bên; một số im lặng ngồi xuống một bên.

4) Ngồi một bên, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi có ước vọng như thế này, có ước muốn như thế này, có chú tâm (adhippàya) như thế này: "Mong rằng chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con! Mong chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kàsi! Mong rằng chúng tôi được trang sức bằng vòng hoa và phấn sáp! Mong rằng chúng tôi được sử dụng vàng và bạc! Sau khi thân hoại mạng chung, mong rằng chúng tôi được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này!" Mong rằng Tôn giả Gotama hãy thuyết pháp cho chúng tôi, những người có ước vọng như vậy, có ước muốn như vậy, có chú tâm như vậy. Hãy thuyết pháp như thế nào để chúng tôi được sống trong một nhà chật đầy trẻ con, để chúng tôi được sử dụng các hương chiên đàn từ Kàsi... để chúng tôi, khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

5) -- Vậy này các Gia chủ, Ta sẽ thuyết cho các Ông một pháp môn đưa đến lợi ích (tự lợi cho tự ngã) (attuupanàyikam). Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Các Bà-la-môn ở Veludvàra vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Gia chủ, thế nào là pháp môn đưa đến lợi ích cho tự ngã?

6) Ở đây, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Ta muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Nếu có ai đến đoạt mạng sống của ta, một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với ta. Nhưng nếu ta đoạt mạng sống một người muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý đối với người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ sát sanh, khuyến khích người khác từ bỏ sát sanh, nói lời tán thán từ bỏ sát sanh. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh (kotiparisuddham).

7) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai lấy của không cho của ta, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta lấy của không cho của người khác, gọi là ăn trộm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp ấy cũng không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy từ bỏ lấy của không cho, khuyến khích người khác từ bỏ lấy của không cho, nói lời tán thán từ bỏ lấy của không cho. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

8) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu ai có tà hạnh với vợ của ta, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta có tà hạnh với vợ của người khác, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ tà hạnh trong các dục, khuyến khích người khác từ bỏ tà hạnh trong các dục, nói lời tán thán từ bỏ tà hạnh trong các dục. Như vậy, về thân hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

9) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Nếu có ai làm tổn hại lợi ích ta với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng làm tổn hại lợi ích người khác với lời nói láo, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói láo, khuyến khích người khác từ bỏ nói láo, nói lời tán thán từ bỏ nói láo. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

10) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai chia rẽ bạn bè ta bằng lời nói hai lưỡi,như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta chia rẽ bạn bè người khác bằng lời nói hai lưỡi, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ nói hai lưỡi, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời hai lưỡi, nói lời tán thán từ bỏ nói lời hai lưỡi. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

11) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác bằng thô ác ngữ, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ thô ác ngữ, khuyến khích người khác từ bỏ thô ác ngữ, nói lời tán thán từ bỏ thô ác ngữ. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

12) Lại nữa, này các Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy tư như sau: "Nếu có ai đối xử với ta với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho ta. Nhưng nếu ta cũng đối xử với người khác với lời tạp ngữ, với lời phù phiếm, như vậy là một việc không khả ái, không khả ý cho người ấy. Một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời pháp này không khả ái, không khả ý cho người khác. Và một pháp này không khả ái, không khả ý cho ta, thời sao ta lại đem cột pháp ấy cho người khác?" Do suy tư như vậy, vị ấy tự mình từ bỏ lời nói phù phiếm, khuyến khích người khác từ bỏ nói lời phù phiếm, tán thán từ bỏ nói lời phù phiếm. Như vậy, về khẩu hành, vị ấy được hoàn toàn thanh tịnh.

13) Vị ấy thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc A-la-hán... Phật, Thế Tôn".

14) ... đối với Pháp...

15) ... đối với chúng Tăng...

16) Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, không bị phá hoại, không bị đâm cắt, không bị điểm ố, không bị uế nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đưa đến Thiền định.

17) Này các Gia chủ, khi nào vị Thánh đệ tử thành tựu bảy pháp này và bốn lời nguyện xứ này, nếu vị ấy muốn, vị ấy có thể tuyên bố về mình: "Ta đã đoạn tận địa ngục, đoạn tận khỏi sanh vào loại bàng sanh, đoạn tận cõi ngạ quỷ, đoạn tận ác sanh, ác thú, đọa xứ. Ta là bậc Dự lưu, không có bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ".

18) Ðược nói vậy, các Bà-la-môn gia chủ ở Veludvàra bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn... từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!