|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 21 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 671. TÀ TÍN VÀ CHÁNH TÍN - Kinh Các Bà La Môn (Brāhmaṇasuttaṃ) . ![]()
Có những con đường nhìn bề ngoài tưởng như rất cao thượng, rất
thiêng liêng, nhưng thật ra chỉ dẫn con người đi sâu hơn vào mê
lộ của vô minh. Những vị Bà-la-môn dạy đệ tử bước đi về phía mặt trời mọc, không tránh hố
sâu, gai nhọn hay vực thẳm, rồi xem cái chết như chiếc cầu đưa
đến thiên giới. Hình ảnh ấy làm liên tưởng đến biết bao con
người trong cuộc đời này: cứ lao đi trong niềm tin cuồng nhiệt,
tưởng rằng đau khổ càng lớn thì cứu cánh càng gần, tưởng rằng tự
hành hạ thân xác là biểu hiện của đạo hạnh, tưởng rằng chỉ cần
hy sinh thân mạng là đủ để chạm đến cõi thiêng. Nhưng Đức Phật
đã phủ nhận tất cả bằng một lời giản dị mà sâu thẳm: đó chỉ là
“con đường ngu si”. Thật vậy, giác ngộ không nằm ở đôi chân đi
về hướng đông hay hướng tây, mà nằm ở hướng đi của tâm thức. Một
người có thể đi ngàn dặm nhưng vẫn chìm sâu trong tham ái; cũng
có người ngồi yên dưới bóng cây mà tâm đã vượt khỏi ba cõi.
Ngoại đạo tìm sự “đi lên” bằng chuyển động của thân xác; Đức
Phật chỉ ra sự siêu thăng chân thật là sự vượt lên của nội tâm —
vượt lên khỏi tham lam, sân hận và si mê. Không phải cái chết
làm con người thanh tịnh, mà chính trí tuệ mới thanh lọc được
phiền não nội tại.
Kinh Văn
1008. sāvatthinidānaṃ. “brāhmaṇā,
bhikkhave, udayagāminiṃ nāma paṭipadaṃ paññapenti. te sāvakaṃ
evaṃ samādapenti — ‘ehi tvaṃ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhāya
pācīnamukho yāhi. so tvaṃ mā sobbhaṃ parivajjehi, mā papātaṃ, mā
khāṇuṃ, mā kaṇḍakaṭhānaṃ {kaṇḍakaṃ ṭhānaṃ (pī. ka.)}, mā
candaniyaṃ, mā oḷigallaṃ. yattha {yattheva (syā. kaṃ.), yāni vā
(sī.)} papateyyāsi tattheva maraṇaṃ āgameyyāsi. evaṃ tvaṃ, ambho
purisa, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ
upapajjissasī’”ti.
Tại Sāvatthī.
“Này các Tỳ khưu, các vị Bà-la-môn chủ trương một con đường gọi là ‘con
đường đi lên’. Họ dạy đệ tử như sau:
‘Này thiện nam tử, hãy thức dậy thật sớm và đi về hướng đông. Đừng tránh
hố sâu, vực thẳm, gốc cây, bụi gai, ao làng hay hầm phân. Dù ngã
xuống ở đâu, ngươi cũng nên chấp nhận cái chết tại đó. Như vậy,
này thiện nam tử, sau khi thân hoại mạng chung, ngươi sẽ được
tái sanh vào cõi lành, vào thiên giới.’
“Này các Tỳ khưu, pháp hành ấy của các Bà-la-môn là con đường thiểu trí,
con đường mê muội;
không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí,
giác ngộ hay Niết-bàn.
“Nhưng này các Tỳ khưu, trong Giáo Pháp của bậc Thánh, Ta tuyên thuyết con
đường đi lên - con đường đưa đến hoàn toàn yểm ly, ly tham, đoạn
diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.
“Và này các Tỳ khưu, thế nào là con đường đi lên - con đường đưa đến hoàn
toàn yểm ly… cho đến Niết-bàn?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu tín tâm kiên cố nơi Phật
như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân
Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’
Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết,
thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu,
hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’
Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là
những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là
bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng
được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng
được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của thế gian.’
Có giới được các bậc Thánh trân trọng - không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ,
không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí
khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.
“Này các Tỳ khưu, đó gọi là con đường đi lên — con đường đưa đến hoàn toàn
yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và
Niết-bàn.”
Chú Thích
“Con đường đi lên” của các Bà-la-môn là cách hành trì theo tín ngưỡng dân
gian tương tự như phong tục “xuầt hành đầu năm” của người Việt.
Các Bà-la-môn dạy đệ tử dậy sớm, đi về hướng Đông (hướng mặt
trời mọc – biểu tượng của sự thiêng liêng trong Ấn Độ cổ)
“Không được tránh: hố sâu, vực thẳm, gốc cây, gai góc, ao
làng, hố xí…”
Đây là lối tu khổ hạnh cực đoan và
mê tín, coi việc chịu đựng nguy hiểm và sẵn sàng chết như một
“hiến tế” để được sinh lên cõi trời. Đức Phật dạy rõ: Đây là con
đường ngu si, đần độn (bālā paṭipadā, mūḷhā paṭipadā). Nó không
dẫn đến: nhàm chán (nibbidā), ly tham (virāga), tịch tịnh
(nirodha), an tịnh (upasama), thắng trí (abhiññā), viên giác
(sambodhi), niết-bàn (nibbāna)
Con đường “đi lên” trong Thánh Giới Luật (Ariya Vinaye) Đức Phật dạy con đường đi lên chân chính chỉ gồm bốn pháp (catuhi
dhammehi), chính là bốn yếu tố làm thành bậc Dự Lưu (Sotāpanna):
1.
Tín kiên cố đối với Phật (Buddhe
aveccappasāda)
2.
Tín kiên cố đối với Pháp (Dhamme
aveccappasāda)
3.
Tín kiên cố đối với Tăng (Saṅghe
aveccappasāda)
4.
Giới hạnh được bậc Thánh ái mộ
(Ariyakantehi sīlehi samannāgato)
Ai hội đủ bốn pháp này được gọi là bậc Dự Lưu (Sotāpanna không còn bị đọa
vào bốn ác đạo (địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, a-tu-la). Định tánh
(niyato) chắc chắn sẽ chứng ngộ Niết-bàn.
Sớ Giải
1008-9. dutiye udayagāmininti attano samaye vaḍḍhigāminiṃ.
maraṇaṃ āgameyyāsīti maraṇaṃ iccheyyāsi, pattheyyāsi vā. tatiyaṃ
uttānameva.
1008–9. Trong kinh thứ hai:
udayagāminiṃ: “đi đến sự tăng trưởng”, nghĩa là dẫn
đến sự phát triển, thịnh vượng đúng thời của mình (attano samaye
vaḍḍhigāminiṃ).
maraṇaṃ āgameyyāsīti: “ngươi nên chờ đợi cái chết”, nghĩa là ngươi sẽ mong muốn cái chết, hoặc
cầu mong cái chết (maraṇaṃ iccheyyāsi, pattheyyāsi vā).
Kinh thứ ba thì nghĩa khá rõ ràng, dễ
hiểu (tatiyaṃ uttānameva).
BÀI
670.
MỘT SỐ BÀI KINH LIÊN QUAN CÁC BẬC DỰ LƯU
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu
–
Phẩm Cổng Tre -
SN 55.8 -11
Bốn bài kinh dưới đây ý nghĩa rõ ràng và có phần trùng lập với
những bài kinh trước về bốn dự lưu phần nên chỉ dịch để tham
khảo.
Kinh Văn
Kinh Nhà Gạch I
Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn đang trú tại Ñātika, trong
Nhà Gạch (Giác Sảnh). Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế
Tôn, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên, và bạch rằng:
“Bạch Thế Tôn, vị tỳ-khưu tên là Sāḷha đã mệnh chung. Sanh xứ
của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Vị tỳ-khưu-ni tên
là Nandā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương
lai thế nào? Nam cư sĩ tên là Sudatta đã mệnh chung. Sanh xứ của
vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nữ cư sĩ tên là Sujātā
đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế
nào?”
“Này Ānanda, tỳ-khưu Sāḷha sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận các
lậu hoặc, ngay trong hiện tại đã tự mình chứng tri với thượng
trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ giải thoát
không còn lậu hoặc. Tỳ-khưu-ni Nandā sau khi mệnh chung, nhờ
đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó
chứng đắc Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy
nữa. Nam cư sĩ Sudatta sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận hoàn
toàn ba kiết sử, làm giảm nhẹ tham, sân, si, đã trở thành bậc
Nhất lai (Tư-đà-hàm), sau khi trở lại thế giới này chỉ một lần
nữa sẽ chấm dứt khổ đau. Nữ cư sĩ Sujātā sau khi mệnh chung, nhờ
đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử, đã trở thành bậc Dự lưu
(Tu-đà-hoàn), không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con
đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.
Này Ānanda, chuyện con người phải mệnh chung là điều không có gì
đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu cứ mỗi khi có người mệnh chung, Thầy
lại đến hỏi Ta về việc này, thì điều đó sẽ làm phiền Như Lai. Do
đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng cho ông một pháp môn gọi là 'Tấm
Gương Chánh Pháp' (Pháp Kính). Nhờ trang bị pháp môn này, một vị
thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình
rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục, chấm dứt loài bàng sanh, chấm
dứt cõi ngạ quỷ, chấm dứt các ác xứ, đọa xứ, địa ngục. Ta là bậc
Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường
chân chánh, hướng đến giác ngộ.’
Và này Ānanda, pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp ấy là gì, mà nhờ
trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên
bố về chính mình như vậy? Ở đây, này Ānanda, vị thánh đệ tử có
lòng tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là… bậc
Thầy của chư thiên và loài người, là Phật, là Thế Tôn.’ Vị ấy có
lòng tin bất động đối với Chánh Pháp… đối với Tăng chúng… Vị ấy
thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bị phá
vỡ… đưa đến định tâm.
Đây chính là pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp, này Ānanda, mà nhờ
trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên
bố về chính mình rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục… Ta là bậc Dự
lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân
chánh, hướng đến giác ngộ.’”
Kinh Nhà Gạch II
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, vị tỳ-khưu tên là Asoka đã mệnh chung. Sanh xứ
của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Vị tỳ-khưu-ni tên
là Asokā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương
lai thế nào? Nam cư sĩ tên là Asoka đã mệnh chung. Sanh xứ của
vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nữ cư sĩ tên là Asokā
đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế
nào?”
“Này Ānanda, tỳ-khưu Asoka sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận các
lậu hoặc, ngay trong hiện tại đã tự mình chứng tri với thượng
trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ giải thoát
không còn lậu hoặc… (tất cả phần còn lại giống như kinh
trước)…
Đây chính là pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp, này Ānanda, mà nhờ
trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên
bố về chính mình rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục… Ta là bậc Dự
lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân
chánh, hướng đến giác ngộ.’”
Kinh Nhà Gạch III
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn:
“Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Kakkaṭa đã mệnh chung tại
Ñātika. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào?
Các nam cư sĩ tên là Kāḷiṅga… Nikata… Kaṭissaha… Tuṭṭha…
Santuṭṭha… Bhadda… Subhadda đã mệnh chung tại Ñātika. Sanh xứ
của họ ra sao, hướng đi tương lai thế nào?”
“Này Ānanda, nam cư sĩ Kakkaṭa sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận
hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó chứng đắc
Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy nữa. Các nam
cư sĩ Kāḷiṅga, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và
Subhadda cũng như vậy.
Hơn năm mươi nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ đoạn tận
hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó chứng đắc
Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy nữa. Hơn chín
mươi nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ đoạn tận hoàn toàn
ba kiết sử và làm giảm nhẹ tham, sân, si, đã trở thành bậc Nhất
lai, sau khi trở lại thế giới này chỉ một lần nữa sẽ chấm dứt
khổ đau. Năm trăm lẻ sáu nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ
đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử, đã trở thành bậc Dự lưu, không
còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng
đến giác ngộ.
Này Ānanda, chuyện con người phải mệnh chung là điều không có gì
đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu cứ mỗi khi có người mệnh chung, Thầy
lại đến hỏi Ta về việc này, thì điều đó sẽ làm phiền Như Lai. Do
đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng cho Thầy một pháp môn gọi là Tấm
Gương Chánh Pháp…
Và này Ānanda, pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp ấy là gì…?”
(Phần còn lại của kinh giống như đoạn số 8.)
II. PHẨM THIÊN (HOẶC NGỰ UYỂN)
Kinh Một Ngàn
Một thời, Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn
Hoàng gia (Hoàng Lâm). Lúc bấy giờ, một giáo đoàn gồm một ngàn
vị tỳ-khưu-ni đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi đứng qua một
bên. Thế Tôn nói với các tỳ-khưu-ni ấy:
“Này các tỳ-khưu-ni, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này
là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con
đường chân chánh, hướng đến giác ngộ. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây,
này các tỳ-khưu-ni, vị thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với
Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài
người, là Phật, là Thế Tôn.’ Vị ấy có lòng tin bất động đối với
Chánh Pháp… đối với Tăng chúng… Vị ấy thành tựu các giới đức
được các bậc Thánh ái kính, không bị phá vỡ… đưa đến định tâm.
Này các tỳ-khưu-ni, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này
chính là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn
con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.”
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Veludvàra
12. II. Các Bà La Môn (S.v,361)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi.
3) -- Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn trình bày một đạo lộ hướng
thượng (udayagàminim). Họ khuyến khích các đệ tử như sau: "Hãy
đến, này các Ông! Sáng sớm dậy, hãy đi hướng mặt về phía Ðông.
Chớ có tránh những lỗ hổng, lỗ trũng, khúc cây, chỗ có gai, hố
nước nhớp, chớ có tránh đường mương. Nếu có rơi vào các chỗ ấy
và đi đến chết, như vậy, này các Ông, sau khi thân hoại mạng
chung, các Ông sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này".
4) Nhưng này các Tỷ-kheo, con đường ấy của các Bà-la-môn là con
đường của kẻ ngu, con đường của kẻ si, không đưa đến yếm ly, ly
tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các
Tỷ-kheo, nay Ta trình bày một đạo lộ hướng thượng trong luật của
bậc Thánh, và con đường ấy nhứt hướng đưa đến yếm ly, ly tham,
đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các
Tỷ-kheo, đạo lộ hướng thượng ấy là gì, đạo lộ đưa đến nhứt hướng
yếm ly... Niết-bàn?
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất
động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ...".... đối với
pháp... đối với chúng Tăng... Vị ấy thành tựu các giới được các
bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
6) Ðây là đạo lộ đưa đến hướng thượng, này các Tỷ-kheo,... nhứt
hướng yếm ly... đưa đến Niết-bàn. |