BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 21 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Ngự Uyển- SN 55.12
Bài 671. TÀ TÍN VÀ CHÁNH TÍN -

Kinh Các Bà La Môn (Brāhmaṇasuttaṃ) .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-671.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Có những con đường nhìn bề ngoài tưởng như rất cao thượng, rất thiêng liêng, nhưng thật ra chỉ dẫn con người đi sâu hơn vào mê lộ của vô minh. Những vị Bà-la-môn dạy đệ tử bước đi về phía mặt trời mọc, không tránh hố sâu, gai nhọn hay vực thẳm, rồi xem cái chết như chiếc cầu đưa đến thiên giới. Hình ảnh ấy làm liên tưởng đến biết bao con người trong cuộc đời này: cứ lao đi trong niềm tin cuồng nhiệt, tưởng rằng đau khổ càng lớn thì cứu cánh càng gần, tưởng rằng tự hành hạ thân xác là biểu hiện của đạo hạnh, tưởng rằng chỉ cần hy sinh thân mạng là đủ để chạm đến cõi thiêng. Nhưng Đức Phật đã phủ nhận tất cả bằng một lời giản dị mà sâu thẳm: đó chỉ là “con đường ngu si”. Thật vậy, giác ngộ không nằm ở đôi chân đi về hướng đông hay hướng tây, mà nằm ở hướng đi của tâm thức. Một người có thể đi ngàn dặm nhưng vẫn chìm sâu trong tham ái; cũng có người ngồi yên dưới bóng cây mà tâm đã vượt khỏi ba cõi. Ngoại đạo tìm sự “đi lên” bằng chuyển động của thân xác; Đức Phật chỉ ra sự siêu thăng chân thật là sự vượt lên của nội tâm — vượt lên khỏi tham lam, sân hận và si mê. Không phải cái chết làm con người thanh tịnh, mà chính trí tuệ mới thanh lọc được phiền não nội tại.

Kinh Văn

1008. sāvatthinidānaṃ. “brāhmaṇā, bhikkhave, udayagāminiṃ nāma paṭipadaṃ paññapenti. te sāvakaṃ evaṃ samādapenti — ‘ehi tvaṃ, ambho purisa, kālasseva uṭṭhāya pācīnamukho yāhi. so tvaṃ mā sobbhaṃ parivajjehi, mā papātaṃ, mā khāṇuṃ, mā kaṇḍakaṭhānaṃ {kaṇḍakaṃ ṭhānaṃ (pī. ka.)}, mā candaniyaṃ, mā oḷigallaṃ. yattha {yattheva (syā. kaṃ.), yāni vā (sī.)} papateyyāsi tattheva maraṇaṃ āgameyyāsi. evaṃ tvaṃ, ambho purisa, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjissasī’”ti.
“taṃ kho panetaṃ, bhikkhave, brāhmaṇānaṃ bālagamanametaṃ {bālānaṃ gamanametaṃ (sī.)} mūḷhagamanametaṃ na nibbidāya na virāgāya na nirodhāya na upasamāya na abhiññāya na sambodhāya na nibbānāya saṃvattati. ahañca kho, bhikkhave, ariyassa vinaye udayagāminiṃ paṭipadaṃ paññapemi; yā ekantanibbidāya virāgāya nirodhāya upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
“katamā ca sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā; yā ekantanibbidāya ... pe ... nibbānāya saṃvattati? idha, bhikkhave, ariyasāvako buddhe aveccappasādena samannāgato hoti — itipi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti; dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgato hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ayaṃ kho sā, bhikkhave, udayagāminī paṭipadā ekantanibbidāya ... pe ... nibbānāya saṃvattatī”ti. dutiyaṃ.

Tại Sāvatthī.

“Này các Tỳ khưu, các vị Bà-la-môn chủ trương một con đường gọi là ‘con đường đi lên’. Họ dạy đệ tử như sau:

‘Này thiện nam tử, hãy thức dậy thật sớm và đi về hướng đông. Đừng tránh hố sâu, vực thẳm, gốc cây, bụi gai, ao làng hay hầm phân. Dù ngã xuống ở đâu, ngươi cũng nên chấp nhận cái chết tại đó. Như vậy, này thiện nam tử, sau khi thân hoại mạng chung, ngươi sẽ được tái sanh vào cõi lành, vào thiên giới.’

“Này các Tỳ khưu, pháp hành ấy của các Bà-la-môn là con đường thiểu trí, con đường mê muội;  không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ hay Niết-bàn.

“Nhưng này các Tỳ khưu, trong Giáo Pháp của bậc Thánh, Ta tuyên thuyết con đường đi lên - con đường đưa đến hoàn toàn yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.

“Và này các Tỳ khưu, thế nào là con đường đi lên - con đường đưa đến hoàn toàn yểm ly… cho đến Niết-bàn?

Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu tín tâm kiên cố nơi Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’

Có tín tâm kiên cố nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Có tín tâm kiên cố nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của thế gian.’

Có giới được các bậc Thánh trân trọng - không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.

“Này các Tỳ khưu, đó gọi là con đường đi lên — con đường đưa đến hoàn toàn yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.”

Chú Thích

“Con đường đi lên” của các Bà-la-môn là cách hành trì theo tín ngưỡng dân gian tương tự như phong tục “xuầt hành đầu năm” của người Việt. Các Bà-la-môn dạy đệ tử dậy sớm, đi về hướng Đông (hướng mặt trời mọc – biểu tượng của sự thiêng liêng trong Ấn Độ cổ)

“Không được tránh: hố sâu, vực thẳm, gốc cây, gai góc, ao làng, hố xí…”  Đây là lối tu khổ hạnh cực đoan và mê tín, coi việc chịu đựng nguy hiểm và sẵn sàng chết như một “hiến tế” để được sinh lên cõi trời. Đức Phật dạy rõ: Đây là con đường ngu si, đần độn (bālā paṭipadā, mūḷhā paṭipadā). Nó không dẫn đến: nhàm chán (nibbidā), ly tham (virāga), tịch tịnh (nirodha), an tịnh (upasama), thắng trí (abhiññā), viên giác (sambodhi), niết-bàn (nibbāna)

Con đường “đi lên” trong Thánh Giới Luật (Ariya Vinaye) Đức Phật dạy con đường đi lên chân chính chỉ gồm bốn pháp (catuhi dhammehi), chính là bốn yếu tố làm thành bậc Dự Lưu (Sotāpanna):

1.    Tín kiên cố đối với Phật (Buddhe aveccappasāda)

2.    Tín kiên cố đối với Pháp (Dhamme aveccappasāda)

3.    Tín kiên cố đối với Tăng (Saṅghe aveccappasāda)

4.    Giới hạnh được bậc Thánh ái mộ (Ariyakantehi sīlehi samannāgato)

Ai hội đủ bốn pháp này được gọi là bậc Dự Lưu (Sotāpanna không còn bị đọa vào bốn ác đạo (địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, a-tu-la). Định tánh (niyato) chắc chắn sẽ chứng ngộ Niết-bàn.

Sớ Giải

1008-9. dutiye udayagāmininti attano samaye vaḍḍhigāminiṃ. maraṇaṃ āgameyyāsīti maraṇaṃ iccheyyāsi, pattheyyāsi vā. tatiyaṃ uttānameva.

1008–9. Trong kinh thứ hai:

udayagāminiṃ: “đi đến sự tăng trưởng”, nghĩa là dẫn đến sự phát triển, thịnh vượng đúng thời của mình (attano samaye vaḍḍhigāminiṃ).

maraṇaṃ āgameyyāsīti: “ngươi nên chờ đợi cái chết”, nghĩa là ngươi sẽ mong muốn cái chết, hoặc cầu mong cái chết (maraṇaṃ iccheyyāsi, pattheyyāsi vā).

Kinh thứ ba thì nghĩa khá rõ ràng, dễ hiểu (tatiyaṃ uttānameva).

***************

BÀI 670. MỘT SỐ BÀI KINH LIÊN QUAN CÁC BẬC DỰ LƯU

Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Phẩm Cổng Tre - SN 55.8 -11

Bốn bài kinh dưới đây ý nghĩa rõ ràng và có phần trùng lập với những bài kinh trước về bốn dự lưu phần nên chỉ dịch để tham khảo.

Kinh Văn

Kinh Nhà Gạch I

Tôi nghe như vầy. Một thời, Thế Tôn đang trú tại Ñātika, trong Nhà Gạch (Giác Sảnh). Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi ngồi xuống một bên, và bạch rằng:

“Bạch Thế Tôn, vị tỳ-khưu tên là Sāḷha đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Vị tỳ-khưu-ni tên là Nandā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nam cư sĩ tên là Sudatta đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nữ cư sĩ tên là Sujātā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào?”

“Này Ānanda, tỳ-khưu Sāḷha sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại đã tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc. Tỳ-khưu-ni Nandā sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó chứng đắc Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy nữa. Nam cư sĩ Sudatta sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử, làm giảm nhẹ tham, sân, si, đã trở thành bậc Nhất lai (Tư-đà-hàm), sau khi trở lại thế giới này chỉ một lần nữa sẽ chấm dứt khổ đau. Nữ cư sĩ Sujātā sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử, đã trở thành bậc Dự lưu (Tu-đà-hoàn), không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.

Này Ānanda, chuyện con người phải mệnh chung là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu cứ mỗi khi có người mệnh chung, Thầy lại đến hỏi Ta về việc này, thì điều đó sẽ làm phiền Như Lai. Do đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng cho ông một pháp môn gọi là 'Tấm Gương Chánh Pháp' (Pháp Kính). Nhờ trang bị pháp môn này, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục, chấm dứt loài bàng sanh, chấm dứt cõi ngạ quỷ, chấm dứt các ác xứ, đọa xứ, địa ngục. Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.’

Và này Ānanda, pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp ấy là gì, mà nhờ trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình như vậy? Ở đây, này Ānanda, vị thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật, là Thế Tôn.’ Vị ấy có lòng tin bất động đối với Chánh Pháp… đối với Tăng chúng… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bị phá vỡ… đưa đến định tâm.

Đây chính là pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp, này Ānanda, mà nhờ trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục… Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.’”

Kinh Nhà Gạch II

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, vị tỳ-khưu tên là Asoka đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Vị tỳ-khưu-ni tên là Asokā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nam cư sĩ tên là Asoka đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Nữ cư sĩ tên là Asokā đã mệnh chung. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào?”

“Này Ānanda, tỳ-khưu Asoka sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận các lậu hoặc, ngay trong hiện tại đã tự mình chứng tri với thượng trí, chứng đạt và an trú vào tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn lậu hoặc… (tất cả phần còn lại giống như kinh trước)…

Đây chính là pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp, này Ānanda, mà nhờ trang bị nó, một vị thánh đệ tử, nếu muốn, có thể tự mình tuyên bố về chính mình rằng: ‘Ta đã chấm dứt địa ngục… Ta là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.’”

Kinh Nhà Gạch III

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ānanda bạch với Thế Tôn:

“Bạch Thế Tôn, nam cư sĩ tên là Kakkaṭa đã mệnh chung tại Ñātika. Sanh xứ của vị ấy ra sao, hướng đi tương lai thế nào? Các nam cư sĩ tên là Kāḷiṅga… Nikata… Kaṭissaha… Tuṭṭha… Santuṭṭha… Bhadda… Subhadda đã mệnh chung tại Ñātika. Sanh xứ của họ ra sao, hướng đi tương lai thế nào?”

“Này Ānanda, nam cư sĩ Kakkaṭa sau khi mệnh chung, nhờ đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó chứng đắc Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy nữa. Các nam cư sĩ Kāḷiṅga, Nikata, Kaṭissaha, Tuṭṭha, Santuṭṭha, Bhadda, và Subhadda cũng như vậy.

Hơn năm mươi nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ đoạn tận hoàn toàn năm hạ phần kiết sử, đã được hóa sanh, từ đó chứng đắc Niết-bàn, không còn trở lại đời đời từ thế giới ấy nữa. Hơn chín mươi nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử và làm giảm nhẹ tham, sân, si, đã trở thành bậc Nhất lai, sau khi trở lại thế giới này chỉ một lần nữa sẽ chấm dứt khổ đau. Năm trăm lẻ sáu nam cư sĩ đã mệnh chung tại Ñātika, nhờ đoạn tận hoàn toàn ba kiết sử, đã trở thành bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.

Này Ānanda, chuyện con người phải mệnh chung là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Nhưng nếu cứ mỗi khi có người mệnh chung, Thầy lại đến hỏi Ta về việc này, thì điều đó sẽ làm phiền Như Lai. Do đó, này Ānanda, Ta sẽ giảng cho Thầy một pháp môn gọi là Tấm Gương Chánh Pháp…

Và này Ānanda, pháp môn Tấm Gương Chánh Pháp ấy là gì…?”

(Phần còn lại của kinh giống như đoạn số 8.)

II. PHẨM THIÊN (HOẶC NGỰ UYỂN)

Kinh Một Ngàn

Một thời, Thế Tôn đang trú tại Sāvatthī (Xá-vệ), trong Vườn Hoàng gia (Hoàng Lâm). Lúc bấy giờ, một giáo đoàn gồm một ngàn vị tỳ-khưu-ni đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ ngài rồi đứng qua một bên. Thế Tôn nói với các tỳ-khưu-ni ấy:

“Này các tỳ-khưu-ni, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ. Bốn pháp ấy là gì? Ở đây, này các tỳ-khưu-ni, vị thánh đệ tử có lòng tin bất động đối với Đức Phật rằng: ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là Phật, là Thế Tôn.’ Vị ấy có lòng tin bất động đối với Chánh Pháp… đối với Tăng chúng… Vị ấy thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, không bị phá vỡ… đưa đến định tâm.

Này các tỳ-khưu-ni, một vị thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này chính là bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, được định sẵn con đường chân chánh, hướng đến giác ngộ.”

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Veludvàra

12. II. Các Bà La Môn (S.v,361)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi.

3) -- Này các Tỷ-kheo, các Bà-la-môn trình bày một đạo lộ hướng thượng (udayagàminim). Họ khuyến khích các đệ tử như sau: "Hãy đến, này các Ông! Sáng sớm dậy, hãy đi hướng mặt về phía Ðông. Chớ có tránh những lỗ hổng, lỗ trũng, khúc cây, chỗ có gai, hố nước nhớp, chớ có tránh đường mương. Nếu có rơi vào các chỗ ấy và đi đến chết, như vậy, này các Ông, sau khi thân hoại mạng chung, các Ông sẽ sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này".

4) Nhưng này các Tỷ-kheo, con đường ấy của các Bà-la-môn là con đường của kẻ ngu, con đường của kẻ si, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỷ-kheo, nay Ta trình bày một đạo lộ hướng thượng trong luật của bậc Thánh, và con đường ấy nhứt hướng đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Và này các Tỷ-kheo, đạo lộ hướng thượng ấy là gì, đạo lộ đưa đến nhứt hướng yếm ly... Niết-bàn?

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu lòng tin bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng, ...".... đối với pháp... đối với chúng Tăng... Vị ấy thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

6) Ðây là đạo lộ đưa đến hướng thượng, này các Tỷ-kheo,... nhứt hướng yếm ly... đưa đến Niết-bàn.