BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Sáu, ngày 22 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Ngự Uyển- SN 55. 16, 17
Bài 673. MÓN QUÀ TỐT NHẤT CHO NGƯỜI THÂN -

Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân I (Paṭhamamittāmaccasuttaṃ), Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân II (Dutiyamittāmaccasuttaṃ) . .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-673.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Giữa cuộc đời đầy đổi thay và bất trắc, con người thường lo xây dựng những điều bảo đảm bên ngoài: tiền tài, danh vọng, địa vị, thân quyến hay những mối quan hệ xã hội. Nhưng theo lời Phật dạy món quà lớn nhất dành cho người mình thương không phải là vật chất, mà là giúp họ bước vào dòng Thánh pháp. Đức Phật không bảo các Tỳ khưu phải chinh phục người khác bằng tranh luận hay quyền uy. Ngài chỉ dạy rất nhẹ nhàng: hãy “khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú” những người hữu duyên trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu. Đó là lòng tịnh tín nơi Phật, Pháp, Tăng và giới đức thanh tịnh. Hình ảnh sâu sắc nhất: bốn đại — đất, nước, lửa, gió — còn có thể đổi thay, nhưng hướng đi của vị Thánh đệ tử thì không còn đổi khác nữa. Núi non có thể tan thành biển cả; thân này có thể già nua, bệnh hoạn rồi hoại diệt; lòng người thế gian có thể đổi thay như mây trời buổi sớm. Nhưng một khi Chánh tín chân thật đã sanh khởi trong tâm, thì dòng đời của người ấy đã quay về hướng giác ngộ. Dù còn trôi giữa sinh tử, họ không còn chìm xuống vực sâu của đọa lạc.

Kinh Văn

Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân I (Paṭhamamittāmaccasuttaṃ)

1012. “ye te, bhikkhave, anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, catūsu sotāpattiyaṅgesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā. katamesu catūsu? buddhe aveccappasāde samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantesu sīlesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā akhaṇḍesu ... pe ... samādhisaṃvattanikesu. ye te, bhikkhave, anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, imesu catūsu sotāpattiyaṅgesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā”ti. chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng và những người xem lời các Thầy là đáng lắng nghe — dù là bạn bè hay đồng sự, bà con hay quyến thuộc — các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu.

Bốn yếu tố ấy là gì?

Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật như sau:

‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’

Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với Tăng… trong những giới đức được các bậc Thánh yêu quý, khThầy bị sứt mẻ… đưa đến định tâm.

Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng… các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu này.”

Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân II (Dutiyamittāmaccasuttaṃ)

1013. “ye te, bhikkhave, anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, catūsu sotāpattiyaṅgesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā. katamesu catūsu? buddhe aveccappasāde samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavā”ti.
“siyā, bhikkhave, catunnaṃ mahābhūtānaṃ aññathattaṃ — pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā — na tveva buddhe aveccappasādena samannāgatassa ariyasāvakassa siyā aññathattaṃ. tatridaṃ aññathattaṃ — so vata buddhe aveccappasādena samannāgato ariyasāvako nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā pettivisayaṃ vā upapajjissatī”ti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati. “dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantesu sīlesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā akhaṇḍesu ... pe ... samādhisaṃvattanikesu. siyā, bhikkhave, catunnaṃ mahābhūtānaṃ aññathattaṃ — pathavīdhātuyā, āpodhātuyā, tejodhātuyā, vāyodhātuyā — na tveva ariyakantehi sīlehi samannāgatassa ariyasāvakassa siyā aññathattaṃ. tatridaṃ aññathattaṃ — so vata ariyakantehi sīlehi samannāgato ariyasāvako nirayaṃ vā tiracchānayoniṃ vā pettivisayaṃ vā upapajjissatīti — netaṃ ṭhānaṃ vijjati. ye te, bhikkhave, anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, imesu catūsu sotāpattiyaṅgesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā”ti. sattamaṃ.

“Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng và những người xem lời các Thầy là đáng lắng nghe — dù là bạn bè hay đồng nghiệp, bà con hay quyến thuộc — các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu.

Bốn yếu tố ấy là gì?

Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất động đối với  Phật như sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’

Có lòng tịnh tín bất động nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’

Có lòng tịnh tín bất động nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh; tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường, đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của thế gian.’

Có giới được các bậc Thánh trân trọng - không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ, không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.

“Này các Tỳ khưu, bốn đại chủng có thể biến đổi — địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại — nhưng không thể có sự biến đổi nơi vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật.

Ở đây, điều được gọi là ‘biến đổi’ là việc vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật có thể tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh hay cảnh giới ngạ quỷ. Điều ấy là không thể xảy ra.

Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với Tăng… trong những giới đức được các bậc Thánh yêu quý… đưa đến định tâm.

“Này các Tỳ khưu, bốn đại chủng có thể biến đổi… nhưng khThầy thể có sự biến đổi nơi vị Thánh đệ tử thành tựu những giới đức được các bậc Thánh yêu quý.

Ở đây, điều được gọi là ‘biến đổi’ là việc vị Thánh đệ tử thành tựu những giới đức được các bậc Thánh yêu quý có thể tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh hay cảnh giới ngạ quỷ. Điều ấy là không thể xảy ra.

Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng… các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu này.”

Chú Thích

Hai bài kinh Mittāmacca Sutta (Bạn bè và Đồng nghiệp) thuộc Tương Ưng Dự Lưu (Sotāpatti Saṃyutta), Saṃyutta Nikāya (SN 55). Đây là phần tiếp nối chuỗi kinh nói về bốn yếu tố của bậc Dự Lưu (sotāpattiyaṅga) – bốn phẩm chất làm cho một người trở thành Dự Lưu (Stream-enterer), bậc thánh đầu tiên trong bốn quả vị thánh.

  • SN 55.16 [samyuttanikàya chương 55, kinh số 16]: Nhấn mạnh trách nhiệm khuyên bảo người thân, bạn bè.
  • SN 55.17[samyuttanikàya, chương 55, kinh số 17]: Thêm lập luận logic mạnh mẽ về tính bất khả biến đổi của bốn yếu tố này.

2. Bốn yếu tố của bậc Dự Lưu (Tứ Dự Lưu Chi)

Đức Phật dạy rằng một người được gọi là Dự Lưu khi:

1.    Tín tâm kiên cố nơi Đức Phật (Buddhe aveccappasāda)  Tin tưởng tuyệt đối vào Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Thiên Nhân Sư...

2.    Tín tâm kiên cố nơi Pháp (Dhamme aveccappasāda)  Tin Pháp được khéo thuyết, hiện tại có thể chứng nghiệm, dẫn đến Niết-bàn.

3.    Tín tâm kiên cố nơi Tăng (Saṅghe aveccappasāda)  Tin Tăng là ruộng phước vô thượng, đang thực hành chánh đạo.

4.    Giới đức được bậc Thánh ái mộ (Ariyakantehi sīlehi samannāgato)  Giữ giới trong sạch, khThầy đứt đoạn, được các bậc Thánh khen ngợi, dẫn đến thiền định.

Đây chính là “bốn chân” của bậc Dự Lưu. Khi đầy đủ, người ấy không còn rơi vào ác đạo (địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ), chắc chắn sẽ chứng ngộ trong tối đa 7 kiếp.

SN 55.16 – Paṭhama Mittāmacca Sutta Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo: Với những người mà mình có lòng từ bi ), và họ sẵn lòng lắng nghe , hãy khuyên bảo, an trú, thiết lập họ vào bốn yếu tố Dự Lưu.

Đây là bài kinh nhấn mạnh tình thương chân thật đúng nghĩ trong Phật pháp: Không phải chỉ lo tu cho mình, mà phải giúp người thân, bạn bè tiếp cận con đường giải thoát. Đây là cách thực hành từ bi và trí tuệ song hành.

SN 55.17 – Dutiya Mittāmacca Sutta Phần này sâu sắc hơn với lập luận so sánh:

  • Bốn đại chủng (đất, nước, lửa, gió) có thể thay đổi, tan rã.
  • Nhưng bốn yếu tố Dự Lưu thì không thể thay đổi theo hướng xấu: Một người đã có tín tâm kiên cố nơi Phật, Pháp, Tăng và giữ giới Thánh thì không thể tái sinh vào ác đạo.

Đây là lời khẳng định mạnh mẽ về sức mạnh bảo vệ của bốn yếu tố. Ngay cả khi vũ trụ thay đổi, phẩm chất thánh này vẫn giữ cho hành giả an toàn trên dòng chảy đi đến Niết-bàn.

Sớ Giải

1012. chaṭṭhe mittāti aññamaññassa gehe āmisaparibhogavasena vohāramittā. amaccāti āmantanapaṭimantanairiyāpathādīsu ekato pavattakiccā. ñātīti sassusasurapakkhikā. sālohitāti samānalohitā bhātibhaginimātulādayo.

1012. Trong bài kinh thứ  sáu:

  • Bạn bè (mittā): Ý chỉ những người là bạn hữu trên danh nghĩa (về mặt xã giao), thông qua việc thọ nhận, chia sẻ vật thực hay các vật dụng tại nhà của nhau.
  • Đồng nghiệp/Đồng bạn (amaccā): Ý chỉ những người cùng thực hiện các hoạt động chung với nhau, như trong việc thưa hỏi, phản hồi (giao tiếp) hay trong các oai nghi (sinh hoạt, đi lại hàng ngày).
  • Bà con (ñātī): Ý chỉ những người thuộc bên phía gia đình chồng hoặc gia đình vợ (họ hàng bên ngoại/bên nội của người hôn phối).
  • Huyết thống (sālohitā): Ý chỉ những người có cùng dòng máu, như anh, em trai, chị, em gái, cậu, chú, bác, v.v.

1013. sattame aññathattaṃ nāma pasādaññathattaṃ bhāvaññathattaṃ gatiaññathattaṃ lakkhaṇaññathattaṃ vipariṇāmaññathattanti anekavidhaṃ. tattha mahābhūtesu bhāvaññathattaṃ adhippetaṃ. suvaṇṇādibhāvena hi ghanasaṇṭhitāya pathavidhātuyā vilīyitvā udakabhāvaṃ āpajjamānāya purimabhāvo vigacchati, bhāvaññathattaṃ paññāyati. lakkhaṇaṃ pana na vigacchati, kakkhaḷalakkhaṇāva hoti.
ucchurasādibhāvena ca yūsākārasaṇṭhitāya āpodhātuyā sussitvā ghanapathavibhāvaṃ āpajjamānāya purimabhāvo vigacchati, bhāvaññathattaṃ paññāyati. lakkhaṇaṃ pana na vigacchati, ābandhanalakkhaṇāva hoti. tatridaṃ aññathattanti ettha pana gatiaññathattaṃ adhippetaṃ, tañhi ariyasāvakassa natthi. pasādaññathattampi natthiyeva, idha pana pasādaphalaṃ pakāsetuṃ gatiaññathattameva dassitaṃ. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.

1013. Trong bài kinh thứ bảy:

Cái gọi là “sự biến đổi” (aññathattaṃ) có nhiều loại, bao gồm: sự biến đổi về lòng tịnh tín (pasāda-aññathatta), sự biến đổi về trạng thái/hình thức bên ngoài (bhāva-aññathatta), sự biến đổi về nơi tái sanh/sự luân chuyển cảnh giới (gati-aññathatta), sự biến đổi về đặc tính cốt lõi (lakkhaṇa-aññathatta), và sự biến đổi do biến dị (vipariṇāma-aññathatta).

  • Đối với Bốn đại chủng (Tứ đại): "Sự biến đổi" được đề cập ở đây mang ý nghĩa là sự biến đổi về trạng thái/hình thức bên ngoài (bhāva-aññathatta).
    • Ví dụ: Khi địa đại (thành phần đất) tồn tại dưới dạng khối rắn như vàng chẳng hạn, nếu bị nung chảy và chuyển sang thể lỏng (trạng thái như nước), thì hình thức rắn ban đầu biến mất, khi ấy "sự biến đổi về trạng thái bên ngoài" được hiển hiện. Tuy nhiên, đặc tính cốt lõi (lakkhaṇa) của nó thì không hề mất đi — nó vẫn giữ nguyên đặc tính cứng (kakkhaḷa-lakkhaṇa - bản chất nội tại của đất).
    • Ví dụ khác: Khi thủy đại (thành phần nước) tồn tại dưới dạng chất lỏng như nước mía chẳng hạn, nếu bị cô đặc/khô lại và chuyển sang thể rắn (trạng thái như đất), thì hình thức lỏng ban đầu biến mất, khi ấy "sự biến đổi về trạng thái bên ngoài" được hiển hiện. Tuy nhiên, đặc tính cốt lõi của nó thì không hề mất đi — nó vẫn giữ nguyên đặc tính kết dính (ābandhana-lakkhaṇa - bản chất nội tại của nước).
  • Đối với cụm từ “Ở đây, sự biến đổi có nghĩa là…” trong kinh: "Sự biến đổi" ở ngữ cảnh này lại mang ý nghĩa là sự biến đổi về nơi tái sanh (gati-aññathatta). Sự biến đổi này tuyệt đối không tồn tại đối với một bậc Thánh đệ tử.

Ngay cả "sự biến đổi về lòng tịnh tín" (pasāda-aññathatta) cũng hoàn toàn không có nơi bậc Thánh (tức là niềm tin của họ không bao giờ lay chuyển). Tuy nhiên, ở đoạn kinh này, để làm sáng tỏ quả báu cao dày của lòng tịnh tín ấy, Đức Phật đã đặc biệt nhấn mạnh vào sự biến đổi về nơi tái sanh (gati-aññathatta) (để khẳng định bậc Thánh vĩnh viễn không bao giờ bị đọa vào ba ác đạo: địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ).

Những phần còn lại trong bài kinh đều đã rõ ràng.

***************

BÀI 672. THÊM MỘT SỐ BÀI KINH LIÊN QUAN CÁC BẬC DỰ LƯU

Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu – Phẩm Ngự Uyển - SN 55.13 -15

Ba bài kinh dưới đây ý nghĩa rõ ràng và có phần trùng lập với những bài kinh trước về bốn dự lưu phần nên chỉ dịch để tham khảo.

Kinh Văn

13 (3) Ānanda

Một thời, Tôn giả Ānanda và Tôn giả Sāriputta trú tại Sāvatthī, trong Kỳ Viên, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ chỗ độc cư đi ra, đến gặp Tôn giả Ānanda, sau khi chào hỏi thân thiện, nói lời xã giao rồi ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Ānanda:

“Hiền giả Ānanda, do từ bỏ bao nhiêu pháp và do thành tựu bao nhiêu pháp mà một người được Thế Tôn tuyên bố như sau:
‘Vị này là bậc Nhập Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, đã được xác định hướng đi, lấy giác ngộ làm cứu cánh’?”

“Hiền giả, do từ bỏ bốn pháp và do thành tựu bốn pháp mà một người được Thế Tôn tuyên bố như vậy. Bốn pháp ấy là gì?

“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Đức Phật như kẻ phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi trời:

‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’

“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Pháp như kẻ phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Pháp như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi trời:

‘Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng… người trí tự mình giác hiểu.’

“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Tăng như kẻ phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi trời:

‘Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc hành trì chánh đạo… là ruộng phước vô thượng ở đời.’

“Hiền giả, người ấy không còn có giới hạnh ô nhiễm như kẻ phàm phu không được nghe pháp vốn có; do giới hạnh ô nhiễm ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và người ấy có những giới đức được các bậc Thánh yêu quý như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do những giới đức ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi trời:
những giới được các bậc Thánh yêu quý… đưa đến định tâm.

“Hiền giả, chính do từ bỏ bốn pháp này và do thành tựu bốn pháp này mà một người được Thế Tôn tuyên bố như sau:
‘Vị này là bậc Nhập Lưu, không còn bị rơi vào đọa xứ, đã được xác định hướng đi, lấy giác ngộ làm cứu cánh.’”

14 (4) Ác Thú (1)

“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì đã vượt qua mọi sợ hãi về ác thú. Bốn pháp ấy là gì?

Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật như sau:

‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’

Vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với Tăng…

Vị ấy có những giới đức được các bậc Thánh yêu quý, không bị sứt mẻ… đưa đến định tâm.

Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này đã vượt qua mọi sợ hãi về ác thú.”

15 (5) Ác Thú (2)

“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì đã vượt qua mọi sợ hãi về ác thú, về đọa xứ. Bốn pháp ấy là gì?”

(Phần còn lại đầy đủ giống như bài kinh trước.)

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Veludvàra

16. VI. Thân Hữu (1) (S.v,364)

1-2) ...

3) -- Tất cả những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất cả những vị ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?

4) Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với Tăng... đối với các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

5) Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo, những ai mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong bốn Dự lưu phần này.

17. VII. Bạn Bè Thân Hữu (2) (S.v,365)

1-2) ...

3) -- Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?

4) Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú trong tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn". Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác, nhưng nhất định không có thay đổi trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là: Một Thánh đệ tử thành tựu tịnh tín bất động như vậy sẽ sanh vào địa ngục, hay vào loài bàng sanh, hay vào hàng ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra.

5-6) ... đối với Pháp... đối với Tăng.

7) Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú vào các giới được các bậc Thánh ái kính. Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác; nhưng nhất định không có sự đổi khác trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối với các giới được các bậc Thánh ái kính. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là vị Thánh đệ tử thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, sẽ sanh vào địa ngục, hay các loài bàng sanh, hay các ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy ra.

8) Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo,... an trú trong bốn Dự lưu phần.