|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 22 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 673. MÓN QUÀ TỐT NHẤT CHO NGƯỜI THÂN - Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân I (Paṭhamamittāmaccasuttaṃ), Kinh Bằng Hữu Và Thân Nhân II (Dutiyamittāmaccasuttaṃ) . . ![]()
Giữa cuộc đời đầy đổi thay và bất trắc, con người thường lo xây
dựng những điều bảo đảm bên ngoài: tiền tài, danh vọng, địa vị,
thân quyến hay những mối quan hệ xã hội. Nhưng theo lời Phật dạy
món quà lớn nhất dành cho người mình thương không phải là vật
chất, mà là giúp họ bước vào dòng Thánh pháp. Đức Phật không bảo
các Tỳ khưu phải chinh phục người khác bằng tranh luận hay quyền
uy. Ngài chỉ dạy rất nhẹ nhàng: hãy “khuyên nhủ, hướng dẫn và an
trú” những người hữu duyên trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu. Đó
là lòng tịnh tín nơi Phật, Pháp, Tăng và giới đức thanh tịnh.
Hình ảnh sâu sắc nhất: bốn đại — đất, nước, lửa, gió — còn có
thể đổi thay, nhưng hướng đi của vị Thánh đệ tử thì không còn
đổi khác nữa. Núi non có thể tan thành biển cả; thân này có thể
già nua, bệnh hoạn rồi hoại diệt; lòng người thế gian có thể đổi
thay như mây trời buổi sớm. Nhưng một khi Chánh tín chân thật đã
sanh khởi trong tâm, thì dòng đời của người ấy đã quay về hướng
giác ngộ. Dù còn trôi giữa sinh tử, họ không còn chìm xuống vực
sâu của đọa lạc.
Kinh Văn
Kinh Bằng Hữu Và
Thân Nhân I (Paṭhamamittāmaccasuttaṃ)
1012. “ye te, bhikkhave,
anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā
ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, catūsu sotāpattiyaṅgesu
samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā. katamesu catūsu?
buddhe aveccappasāde samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā
— itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho
bhagavāti. dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantesu
sīlesu samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā akhaṇḍesu ...
pe ... samādhisaṃvattanikesu. ye te, bhikkhave, anukampeyyātha,
ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā ñātī vā sālohitā
vā — te, bhikkhave, imesu catūsu sotāpattiyaṅgesu samādapetabbā,
nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā”ti. chaṭṭhaṃ.
“Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng và
những người xem lời các Thầy là đáng lắng nghe — dù là bạn bè
hay đồng sự, bà con hay quyến thuộc — các Thầy nên khuyên nhủ,
hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu.
Bốn yếu tố ấy là gì?
Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất
động đối với Đức Phật như sau:
‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài người, bậc
Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’
Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất
động đối với Pháp… đối với Tăng… trong những giới đức được các
bậc Thánh yêu quý, khThầy bị sứt mẻ… đưa đến định tâm.
Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng… các
Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của
bậc Nhập Lưu này.”
Kinh Bằng Hữu Và
Thân Nhân II (Dutiyamittāmaccasuttaṃ)
1013. “ye te, bhikkhave,
anukampeyyātha, ye ca sotabbaṃ maññeyyuṃ — mittā vā amaccā vā
ñātī vā sālohitā vā — te, bhikkhave, catūsu sotāpattiyaṅgesu
samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā. katamesu catūsu?
buddhe aveccappasāde samādapetabbā, nivesetabbā, patiṭṭhāpetabbā
— itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho
bhagavā”ti.
“Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng và
những người xem lời các Thầy là đáng lắng nghe — dù là bạn bè
hay đồng nghiệp, bà con hay quyến thuộc — các Thầy nên khuyên
nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của bậc Nhập Lưu.
Bốn yếu tố ấy là gì?
Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất
động đối với Phật như
sau: ‘Đức Thế Tôn là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Vô Thượng, Thiên Nhân
Sư, Phật Đà, Thế Tôn.’
Có lòng tịnh tín bất động nơi Pháp như sau: ‘Pháp được Đức Thế Tôn khéo
thuyết, thiết thực hiện tiền, vượt ngoài thời gian, đến để thấy
hiểu, hiệu năng hướng thượng, được người có trí tự mình tỏ ngộ.’
Có lòng tịnh tín bất động nơi Tăng như sau: ‘Chư Tăng đệ tử của Đức Thế
Tôn là những bậc thiện hạnh, trực hạnh, như hạnh, chánh hạnh;
tức là bốn đôi tám vị — Tăng đoàn đệ tử của Đức Thế Tôn là bậc
đáng được cung kính, đáng được đãi ngộ, đáng được cúng dường,
đáng được chấp tay đảnh lễ, là phước điền vô thượng của thế
gian.’
Có giới được các bậc Thánh trân trọng - không bị bẻ gãy, không bị sứt mẻ,
không bị ô uế, không bị hoen ố, giải thoát, được người có trí
khen ngợi, không bị chấp thủ, dẫn đến định.
“Này các Tỳ khưu, bốn đại chủng có thể biến đổi — địa đại, thủy đại, hỏa
đại và phong đại — nhưng không thể có sự biến đổi nơi vị Thánh
đệ tử có lòng tịnh tín bất động đối với Đức Phật.
Ở đây, điều được gọi là ‘biến đổi’ là việc vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín
bất động đối với Đức Phật có thể tái sanh vào địa ngục, cõi súc
sanh hay cảnh giới ngạ quỷ. Điều ấy là không thể xảy ra.
Các Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong lòng tịnh tín bất
động đối với Pháp… đối với Tăng… trong những giới đức được các
bậc Thánh yêu quý… đưa đến định tâm.
“Này các Tỳ khưu, bốn đại chủng có thể biến đổi… nhưng khThầy thể có sự
biến đổi nơi vị Thánh đệ tử thành tựu những giới đức được các
bậc Thánh yêu quý.
Ở đây, điều được gọi là ‘biến đổi’ là việc vị Thánh đệ tử thành tựu những
giới đức được các bậc Thánh yêu quý có thể tái sanh vào địa
ngục, cõi súc sanh hay cảnh giới ngạ quỷ. Điều ấy là không thể
xảy ra.
Này các Tỳ khưu, đối với những người mà các Thầy có lòng thương tưởng… các
Thầy nên khuyên nhủ, hướng dẫn và an trú họ trong bốn yếu tố của
bậc Nhập Lưu này.”
Chú Thích
Hai bài kinh Mittāmacca Sutta (Bạn bè và Đồng nghiệp) thuộc Tương Ưng Dự
Lưu (Sotāpatti Saṃyutta), Saṃyutta Nikāya (SN 55). Đây là phần
tiếp nối chuỗi kinh nói về bốn yếu tố của bậc Dự Lưu
(sotāpattiyaṅga) – bốn phẩm chất làm cho một người trở thành Dự
Lưu (Stream-enterer), bậc thánh đầu tiên trong bốn quả vị thánh.
2. Bốn yếu tố của bậc Dự Lưu (Tứ Dự Lưu Chi)
Đức Phật dạy rằng một người được gọi là Dự Lưu
khi:
1.
Tín tâm kiên cố nơi Đức Phật (Buddhe aveccappasāda) Tin
tưởng tuyệt đối vào Đức Phật là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác,
Thiên Nhân Sư...
2.
Tín tâm kiên cố nơi Pháp (Dhamme aveccappasāda)
Tin Pháp được khéo thuyết, hiện tại có thể chứng nghiệm,
dẫn đến Niết-bàn.
3.
Tín tâm kiên cố nơi Tăng (Saṅghe aveccappasāda)
Tin Tăng là ruộng phước vô thượng, đang thực hành chánh
đạo.
4.
Giới đức được bậc Thánh ái mộ
(Ariyakantehi sīlehi samannāgato)
Giữ giới trong sạch, khThầy đứt đoạn, được các bậc Thánh
khen ngợi, dẫn đến thiền định.
Đây chính là “bốn chân” của bậc Dự Lưu.
Khi đầy đủ, người ấy không còn rơi
vào ác đạo (địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ), chắc chắn sẽ
chứng ngộ trong tối đa 7 kiếp.
SN 55.16 –
Paṭhama Mittāmacca Sutta
Đức Phật khuyên các Tỳ-kheo: Với những
người mà mình có lòng từ bi ), và họ sẵn lòng lắng nghe
, hãy khuyên bảo, an trú, thiết lập họ vào bốn yếu tố Dự Lưu.
Đây là bài kinh nhấn mạnh tình thương chân thật đúng nghĩ trong Phật pháp:
Không phải chỉ lo tu cho mình, mà phải giúp người thân, bạn bè
tiếp cận con đường giải thoát. Đây là cách thực hành từ bi và
trí tuệ song hành.
SN 55.17 – Dutiya Mittāmacca Sutta Phần này sâu sắc hơn với lập luận so sánh:
Đây là lời khẳng định mạnh mẽ về sức mạnh bảo vệ của bốn yếu tố. Ngay cả
khi vũ trụ thay đổi, phẩm chất thánh này vẫn giữ cho hành giả an
toàn trên dòng chảy đi đến Niết-bàn.
Sớ Giải
1012. chaṭṭhe mittāti aññamaññassa
gehe āmisaparibhogavasena vohāramittā. amaccāti
āmantanapaṭimantanairiyāpathādīsu ekato pavattakiccā. ñātīti
sassusasurapakkhikā. sālohitāti samānalohitā
bhātibhaginimātulādayo.
1012. Trong bài kinh thứ
sáu:
1013. sattame aññathattaṃ nāma pasādaññathattaṃ
bhāvaññathattaṃ gatiaññathattaṃ lakkhaṇaññathattaṃ
vipariṇāmaññathattanti anekavidhaṃ. tattha mahābhūtesu
bhāvaññathattaṃ adhippetaṃ. suvaṇṇādibhāvena hi ghanasaṇṭhitāya
pathavidhātuyā vilīyitvā udakabhāvaṃ āpajjamānāya purimabhāvo
vigacchati, bhāvaññathattaṃ paññāyati. lakkhaṇaṃ pana na
vigacchati, kakkhaḷalakkhaṇāva hoti.
1013. Trong bài kinh thứ
bảy:
Cái gọi là “sự biến đổi” (aññathattaṃ)
có nhiều loại, bao gồm: sự biến đổi về lòng tịnh tín (pasāda-aññathatta),
sự biến đổi về trạng thái/hình thức bên ngoài (bhāva-aññathatta),
sự biến đổi về nơi tái sanh/sự luân chuyển cảnh giới (gati-aññathatta),
sự biến đổi về đặc tính cốt lõi (lakkhaṇa-aññathatta), và
sự biến đổi do biến dị (vipariṇāma-aññathatta).
Ngay cả "sự biến đổi về lòng tịnh tín" (pasāda-aññathatta) cũng
hoàn toàn không có nơi bậc Thánh (tức là niềm tin của họ không
bao giờ lay chuyển). Tuy nhiên, ở đoạn kinh này, để làm sáng tỏ
quả báu cao dày của lòng tịnh tín ấy, Đức Phật đã đặc biệt nhấn
mạnh vào sự biến đổi về nơi tái sanh
(gati-aññathatta) (để khẳng định bậc Thánh vĩnh
viễn không bao giờ bị đọa vào ba ác đạo: địa ngục, súc sanh, ngạ
quỷ).
Những phần còn lại trong bài kinh đều đã rõ ràng.
BÀI 672. THÊM MỘT SỐ BÀI KINH LIÊN QUAN CÁC BẬC DỰ LƯU
Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu
–
Phẩm Ngự Uyển -
SN 55.13 -15
Ba bài kinh dưới đây ý nghĩa rõ ràng và có phần trùng lập với
những bài kinh trước về bốn dự lưu phần nên chỉ dịch để tham
khảo.
Kinh Văn
13 (3) Ānanda
Một thời, Tôn giả Ānanda và Tôn giả Sāriputta trú tại Sāvatthī,
trong Kỳ Viên, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.
Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta từ chỗ độc cư đi ra, đến
gặp Tôn giả Ānanda, sau khi chào hỏi thân thiện, nói lời xã giao
rồi ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Ānanda:
“Hiền giả Ānanda, do từ bỏ bao nhiêu pháp và do thành tựu bao
nhiêu pháp mà một người được Thế Tôn tuyên bố như sau:
“Hiền giả, do từ bỏ bốn pháp và do thành tựu bốn pháp mà một
người được Thế Tôn tuyên bố như vậy. Bốn pháp ấy là gì?
“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Đức Phật như
kẻ phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau
khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Đức
Phật như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh
tín ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện
thú, cõi trời:
‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài
người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’
“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Pháp như kẻ
phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau
khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Pháp
như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh tín ấy
mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi
trời:
‘Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng… người trí tự mình giác
hiểu.’
“Hiền giả, người ấy không còn có sự bất tín đối với Tăng như kẻ
phàm phu không được nghe pháp vốn có; do sự bất tín ấy mà sau
khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Và người ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Tăng
như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do lòng tịnh tín ấy
mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào thiện thú, cõi
trời:
‘Tăng chúng đệ tử của Thế Tôn là bậc hành trì chánh đạo… là
ruộng phước vô thượng ở đời.’
“Hiền giả, người ấy không còn có giới hạnh ô nhiễm như kẻ phàm
phu không được nghe pháp vốn có; do giới hạnh ô nhiễm ấy mà sau
khi thân hoại mạng chung, người kia sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Và người ấy có những giới đức được các bậc Thánh
yêu quý như vị Thánh đệ tử đã được nghe pháp vốn có; do những
giới đức ấy mà sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào
thiện thú, cõi trời:
“Hiền giả, chính do từ bỏ bốn pháp này và do thành tựu bốn pháp
này mà một người được Thế Tôn tuyên bố như sau:
14 (4) Ác Thú (1)
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì đã vượt
qua mọi sợ hãi về ác thú. Bốn pháp ấy là gì?
Ở đây, này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử có lòng tịnh tín bất động
đối với Đức Phật như sau:
‘Thế Tôn là bậc Ứng Cúng… là bậc Đạo Sư của chư Thiên và loài
người, bậc Giác Ngộ, bậc Thế Tôn.’
Vị ấy có lòng tịnh tín bất động đối với Pháp… đối với Tăng…
Vị ấy có những giới đức được các bậc Thánh yêu quý, không bị sứt
mẻ… đưa đến định tâm.
Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp này đã vượt
qua mọi sợ hãi về ác thú.”
15 (5) Ác Thú (2)
“Này các Tỳ khưu, vị Thánh đệ tử thành tựu bốn pháp thì đã vượt
qua mọi sợ hãi về ác thú, về đọa xứ. Bốn pháp ấy là gì?”
(Phần còn lại đầy đủ giống như bài kinh trước.)
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo-
I. Phẩm Veludvàra
16. VI. Thân Hữu (1)
(S.v,364)
1-2) ...
3) -- Tất cả những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn,
và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là
bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất
cả những vị ấy, này các Tỷ-kheo, cần phải được khuyến khích,
phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế
nào là bốn?
4) Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an
trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng
Cúng,... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với Tăng... đối
với các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.
5) Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo, những ai
mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu,
hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được
khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong
bốn Dự lưu phần này.
17. VII. Bạn Bè Thân Hữu (2)
(S.v,365)
1-2) ...
3) -- Những ai, này các Tỷ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, những
ai mà các Ông nghĩ rằng cần phải nghe theo, các bạn bè, thân
hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải
được các Ông khuyến khích, áp đặt, an trú trong bốn Dự lưu phần.
Thế nào là bốn?
4) Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú trong
tịnh tín bất động đối với Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật,
Thế Tôn". Dầu cho, này các Tỷ-kheo, bốn đại chủng địa đại, thủy
đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác, nhưng nhất định không có
thay đổi trong vị Thánh đệ tử đã thành tựu tịnh tín bất động đối
với đức Phật. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là: Một Thánh đệ tử
thành tựu tịnh tín bất động như vậy sẽ sanh vào địa ngục, hay
vào loài bàng sanh, hay vào hàng ngạ quỷ; sự kiện như vậy không
xảy ra.
5-6) ... đối với Pháp... đối với Tăng.
7) Cần phải khuyến khích, cần phải áp đặt, cần phải an trú vào
các giới được các bậc Thánh ái kính. Dầu cho, này các Tỷ-kheo,
bốn đại chủng địa đại, thủy đại, hỏa đại, phong đại có đổi khác;
nhưng nhất định không có sự đổi khác trong vị Thánh đệ tử đã
thành tựu tịnh tín bất động đối với các giới được các bậc Thánh
ái kính. Ở đây, sự đổi khác có nghĩa là vị Thánh đệ tử thành tựu
các giới được các bậc Thánh ái kính, sẽ sanh vào địa ngục, hay
các loài bàng sanh, hay các ngạ quỷ; sự kiện như vậy không xảy
ra.
8) Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỷ-kheo,... an
trú trong bốn Dự lưu phần. |