|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 26 tháng 05, 2026
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 674. SIÊU THOÁT VÀ GIẢI THOÁT - Kinh Thăm Thiên Giới I (Paṭhamadevacārikasuttaṃ), Kinh Thăm Thiên Giới II (Dutiyadevacārikasuttaṃ), Kinh Thăm Thiên Giới III (Tatiyadevacārikasuttaṃ). . ![]()
Đối với dòng sinh tử vốn kéo dài từ vô lượng kiếp siêu đoạ, đoạ
siêu thì hai pháp tín tâm kiên cố (saddhā) và giới hạnh được bậc
Thánh ái mộ khẳng định khúc qua quan trọng là không còn sanh vào
khổ cảnh và chắc chắn đạt được giải thoát.
Tôn giả Mahāmoggallāna nhắc nhở chư Thiên rằng, nhờ niềm tin
trong sáng nơi Đức Phật, Pháp, Tăng và nhờ giữ gìn giới hạnh cao
thượng, nhiều chúng sinh đã hoặc sẽ được tái sinh vào thiện thú,
cõi trời. Lời dạy mang tính khích lệ, như một dòng suối mát giữa
cõi trời đầy dục lạc, nhắc nhở rằng ngay cả chư Thiên cũng cần
nuôi dưỡng nền tảng đạo đức và niềm tin để không bị sa sút.
Chính Đức Phật hiện ra, thông điệp được nâng lên một tầng cao
hơn. Không còn dừng lại ở thiện thú hay cõi trời, Đức Phật khẳng
định rằng nhờ tín tâm và giới hạnh, một số chúng sinh đã trở
thành Dự Lưu (Sotāpanna) – bậc Thánh đầu tiên trên Thánh đạo,
“không còn bị trói buộc vào thế giới thấp hơn, nhất hướng giác
ngộ là đích đến”. Đây là bước chuyển quan trọng: từ sự an vui
tạm thời của cõi trời sang sự an toàn tuyệt đối .
Kinh Văn
Kinh Thăm Thiên Giới
I (Paṭhamadevacārikasuttaṃ)
1014. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā mahāmoggallāno — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ
vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva —
jetavane antarahito devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho
sambahulā tāvatiṃsakāyikā devatāyo yenāyasmā mahāmoggallāno
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo
āyasmā mahāmoggallāno etadavoca — “sādhu kho, āvuso, buddhe
aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe
... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Bấy giờ Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên nhanh như một người lực
lưỡng duỗi cánh tay đang co lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra,
biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ Viên và hiện ra giữa các vị
thiên Tāvatiṃsa (Đao-lợi). Khi ấy, một số đông chư thiên thuộc
cõi trời Tāvatiṃsa đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna, đảnh lễ
ngài rồi đứng sang một bên. Tôn giả Mahāmoggallāna liền nói với
các vị thiên ấy rằng:
“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Phật :
‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc
Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ Nhờ có lòng tin bất động vào Đức
Phật, một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung,
được tái sinh vào cõi an lạc, thiên giới.
“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Pháp…
vào Tăng … thành tựu
các giới đức được các bậc Thánh ái kính… đưa đến định.
Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính,
một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được tái
sinh vào cõi an lạc, thiên giới.”
“Thưa Tôn giả Moggallāna, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào
Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được
các bậc Thánh ái kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức
được các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây, sau khi
thân hoại mạng chung, được tái sinh vào cõi an lạc, thiên giới.”
Kinh Thăm Thiên Giới
II (Dutiyadevacārikasuttaṃ)
1015. sāvatthinidānaṃ. atha kho
āyasmā mahāmoggallāno — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ
vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva —
jetavane antarahito devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho
sambahulā tāvatiṃsakāyikā devatāyo yenāyasmā mahāmoggallāno
tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo
āyasmā mahāmoggallāno etadavoca — “sādhu kho, āvuso, buddhe
aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe
... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
(Kinh văn này giống hệt kinh văn trước, ngoại trừ bất cứ chỗ nào ở mục §18
ghi là “được tái sinh vào thiện thú”, thì bài kinh văn này ghi
là “đã được tái sinh vào thiện thú” .)
Kinh Thăm Thiên Giới
III (Tatiyadevacārikasuttaṃ)
1016. atha kho bhagavā —
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya,
pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva — jetavane antarahito
devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho sambahulā
tāvatiṃsakāyikā devatāyo yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu;
upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu.
ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo bhagavā etadavoca — “sādhu kho,
āvuso, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so
bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, āvuso,
evamidhekacce sattā sotāpannā avinipātadhammā niyatā
sambodhiparāyaṇā. sādhu kho, āvuso, dhamme ... pe ... saṅghe ...
pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe
... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu
kho, āvuso, evamidhekacce sattā sotāpannā avinipātadhammā niyatā
sambodhiparāyaṇā”ti.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co
lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra,
biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ Viên và hiện ra giữa các vị
thiên Tāvatiṃsa (Đao-lợi). Khi ấy, một số đông chư thiên thuộc
cõi trời Tāvatiṃsa đi đến chỗ Đức Thế Tôn , đảnh lễ ngài rồi
đứng sang một bên. Đức Thế Tôn liền
nói với các vị thiên ấy rằng:
“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Phật :
‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc
Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ Nhờ có lòng tin bất động vào Đức
Phật, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự lưu, không còn bị
đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh giác.
“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Pháp…
vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái
kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc
Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự lưu,
không còn bị đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh giác.”
“Bạch Đức Thế Tôn, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Đức
Phật… vào Pháp… vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được các
bậc Thánh ái kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức được
các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự
lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh
giác.”
Chú Thích
Chi tiết "nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay..." là một công thức văn bản (cliché) quen
thuộc trong kinh điển Pali để mô tả tốc độ phi thường của thần
thông di chuyển bằng ý chí (Thần túc thông), vượt qua các tầng
không gian mà không tốn thời gian vật lý.
Tāvatiṃsa (Cõi trời Đao-lợi / Tam Thập Tam Thiên): Cõi trời thứ hai trong sáu tầng trời thuộc Dục giới, do Thiên chủ Sakka
(Đế Thích) cai quản. Đây là nơi có mối liên hệ mật thiết với
nhân gian và là nơi Đức Phật từng lên để thuyết Vi diệu pháp
(Abhidhamma) cho thân mẫu.
Kinh Thăm Thiên Giới I nhấn mạnh khía cạnh phước báu sinh
thiên. Những chúng sinh (ở cõi người) nhờ thành tựu 4 pháp Dự
Lưu này mà sau thân hoại mạng chung được tái sinh lên các cõi
trời vui tươi, hạnh phúc
Sự đồng thuận: Đoạn cuối
thể hiện sự xác tín của chính các chư thiên, họ đồng thanh khẳng
định lời Tôn giả là đúng đắn vì chính họ là nhân chứng sống –
những người nhờ tu tập các pháp này mà nay được hưởng phước báo
ở cõi Đao-lợi.
Kinh Thăm Thiên Giới II có chút khác biệt về Ngữ pháp
(Thì/Thời):
Kinh số I dùng thì hiện tại/tương lai: "are reborn" (được tái sinh / sẽ
tái sinh) mang tính chất giới thiệu một quy luật tổng quát. Kinh
số II đổi sang thì hoàn thành: "have been reborn" (đã được tái
sinh). Sự thay đổi này nhằm nhấn mạnh vào thực tế đã xảy ra. Tôn
giả chỉ thẳng vào các vị thiên đang đứng trước mặt và khẳng
định: Chính nhờ có 4 pháp này mà các bạn đã có mặt và đang hưởng
lạc tại đây.
Kinh Thăm Thiên Giới III có sự thay đổi chủ thể: Thay vì Tôn giả Mahāmoggallāna, lần này đích thân Đức Thế Tôn (Đức Phật)
dùng thần thông lên cõi trời Đao-lợi. Điểm khác biệt quan trọng
nhất về mặt giáo lý giữa kinh II và hai kinh trước là thay vì
nói về quả báo Sinh thiên (vẫn còn trong vòng luân hồi, dù là
cõi vui). Kinh số II nói về quả vị Dự Lưu : Bậc Thánh đã cắt đứt
3 kiết sử chắc chắn sẽ giác ngộ giải thoát.
Sớ Giải
Không có bản sớ giải riêng cho ba bài kinh trên.
------------------
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
[55] Chương XI
Tương Ưng Dự Lưu (a)
-ooOoo- I. Phẩm Ngự Uyển
18. VIII. Du Hành Chư Thiên (S.v,366)
1) Nhân duyên ở Sàvatthi.
2) Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna, như nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay
đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả
biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cõi trời Ba mươi ba.
3) Rồi một số đông chư Thiên cõi Ba mươi ba đi đến Tôn giả Mohà
Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng
một bên. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với chư Thiên đang đứng một
bên:
4) -- Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối
với đức Phật: "Ðây bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn". Do nhân
thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, như vậy ở
đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
5-6) Lành thay, chư Hiền, là tịnh tín bất động đối với Pháp...
đối với chúng Tăng...
7) Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu các giới được các bậc
Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới
được các bậc Thánh ái kính, chư Hiền, như vậy ở đây, một số
chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú,
thiên giới, cõi đời này.
8) -- Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu lòng tịnh
tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật,
Thế Tôn". Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức
Phật, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh,
sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên
giới, cõi đời này.
9-11) Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu tịnh tín bất
động đối với Pháp... đối với chúng Tăng... các giới được các bậc
Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới
được các bậc Thánh ái kính, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở
đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh
lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
19. IX. Thăm Viếng Chư Thiên (1)
(S.v,367)
1) Một thời Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại
khu vườn của ông Anàthapindika.
2-7) Rồi Tôn giả Moggalàna, như người lực sĩ... (như trên) ...
8-11) ... (như trên) ... một số chúng sanh, sau khi thân hoại
mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.
20. X. Thăm Viếng Chư Thiên (2)
(S,v,357) (Giống như kinh 18, chỉ khác, đây là Thế Tôn, không phải Mahà Moggalàna) .. |