BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 26 tháng 05, 2026

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 55. Tương Ưng Dự Lưu- Phẩm Ngự Uyển- SN 55. 18, 19, 20
Bài 674. SIÊU THOÁT VÀ GIẢI THOÁT -

Kinh Thăm Thiên Giới I (Paṭhamadevacārikasuttaṃ), Kinh Thăm Thiên Giới II (Dutiyadevacārikasuttaṃ), Kinh Thăm Thiên Giới III (Tatiyadevacārikasuttaṃ). .
 
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-674.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Đối với dòng sinh tử vốn kéo dài từ vô lượng kiếp siêu đoạ, đoạ siêu thì hai pháp tín tâm kiên cố (saddhā) và giới hạnh được bậc Thánh ái mộ khẳng định khúc qua quan trọng là không còn sanh vào khổ cảnh và chắc chắn đạt được giải thoát.

Tôn giả Mahāmoggallāna nhắc nhở chư Thiên rằng, nhờ niềm tin trong sáng nơi Đức Phật, Pháp, Tăng và nhờ giữ gìn giới hạnh cao thượng, nhiều chúng sinh đã hoặc sẽ được tái sinh vào thiện thú, cõi trời. Lời dạy mang tính khích lệ, như một dòng suối mát giữa cõi trời đầy dục lạc, nhắc nhở rằng ngay cả chư Thiên cũng cần nuôi dưỡng nền tảng đạo đức và niềm tin để không bị sa sút. Chính Đức Phật hiện ra, thông điệp được nâng lên một tầng cao hơn. Không còn dừng lại ở thiện thú hay cõi trời, Đức Phật khẳng định rằng nhờ tín tâm và giới hạnh, một số chúng sinh đã trở thành Dự Lưu (Sotāpanna) – bậc Thánh đầu tiên trên Thánh đạo, “không còn bị trói buộc vào thế giới thấp hơn, nhất hướng giác ngộ là đích đến”. Đây là bước chuyển quan trọng: từ sự an vui tạm thời của cõi trời sang sự an toàn tuyệt đối .

Kinh Văn

Kinh Thăm Thiên Giới I (Paṭhamadevacārikasuttaṃ)

1014. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā mahāmoggallāno — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva — jetavane antarahito devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho sambahulā tāvatiṃsakāyikā devatāyo yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo āyasmā mahāmoggallāno etadavoca — “sādhu kho, āvuso, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti. sādhu kho, āvuso, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... sādhu kho, āvuso, ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantī”ti.
“sādhu kho, mārisa moggallāna, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, mārisa moggallāna, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjanti. sādhu kho, mārisa moggallāna, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, mārisa moggallāna, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjantī”ti. aṭṭhamaṃ.

Tại Sāvatthī (Xá-vệ).

Bấy giờ Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục-kiền-liên nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra,  biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ Viên và hiện ra giữa các vị thiên Tāvatiṃsa (Đao-lợi). Khi ấy, một số đông chư thiên thuộc cõi trời Tāvatiṃsa đi đến chỗ Tôn giả Mahāmoggallāna, đảnh lễ ngài rồi đứng sang một bên. Tôn giả Mahāmoggallāna liền nói với các vị thiên ấy rằng:

“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Phật : ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ Nhờ có lòng tin bất động vào Đức Phật, một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được tái sinh vào cõi an lạc, thiên giới.

“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng  … thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính… đưa đến định.  Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được tái sinh vào cõi an lạc, thiên giới.”

“Thưa Tôn giả Moggallāna, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây, sau khi thân hoại mạng chung, được tái sinh vào cõi an lạc, thiên giới.”

Kinh Thăm Thiên Giới II (Dutiyadevacārikasuttaṃ)

1015. sāvatthinidānaṃ. atha kho āyasmā mahāmoggallāno — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva — jetavane antarahito devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho sambahulā tāvatiṃsakāyikā devatāyo yenāyasmā mahāmoggallāno tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā āyasmantaṃ mahāmoggallānaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo āyasmā mahāmoggallāno etadavoca — “sādhu kho, āvuso, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti.
buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā. sādhu kho, āvuso, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā”ti.
“sādhu kho, mārisa moggallāna, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, mārisa moggallāna, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā. sādhu kho, mārisa moggallāna, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, mārisa moggallāna, evamidhekacce sattā kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapannā”ti. navamaṃ.

(Kinh văn này giống hệt kinh văn trước, ngoại trừ bất cứ chỗ nào ở mục §18 ghi là “được tái sinh vào thiện thú”, thì bài kinh văn này ghi là “đã được tái sinh vào thiện thú” .)

Kinh Thăm Thiên Giới III (Tatiyadevacārikasuttaṃ)

1016. atha kho bhagavā — seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya, evameva — jetavane antarahito devesu tāvatiṃsesu pāturahosi. atha kho sambahulā tāvatiṃsakāyikā devatāyo yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu. ekamantaṃ ṭhitā kho tā devatāyo bhagavā etadavoca — “sādhu kho, āvuso, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. sādhu kho, āvuso, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, āvuso, evamidhekacce sattā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti.
“sādhu kho, mārisa, buddhe aveccappasādena samannāgamanaṃ hoti — itipi so bhagavā ... pe ... satthā devamanussānaṃ buddho bhagavāti. buddhe aveccappasādena samannāgamanahetu kho, mārisa, evamayaṃ pajā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā. sādhu kho, mārisa, dhamme ... pe ... saṅghe ... pe ... ariyakantehi sīlehi samannāgamanaṃ hoti akhaṇḍehi ... pe ... samādhisaṃvattanikehi. ariyakantehi sīlehi samannāgamanahetu kho, mārisa, evamayaṃ pajā sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā”ti. dasamaṃ.

Bấy giờ Đức Thế Tôn nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay đang co lại hoặc co cánh tay đang duỗi ra,  biến mất khỏi Tịnh xá Kỳ Viên và hiện ra giữa các vị thiên Tāvatiṃsa (Đao-lợi). Khi ấy, một số đông chư thiên thuộc cõi trời Tāvatiṃsa đi đến chỗ Đức Thế Tôn , đảnh lễ ngài rồi đứng sang một bên. Đức Thế Tôn  liền nói với các vị thiên ấy rằng:

“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Phật : ‘Đức Thế Tôn là… bậc Thầy của chư thiên và loài người, là bậc Giác Ngộ, là Đức Thế Tôn.’ Nhờ có lòng tin bất động vào Đức Phật, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh giác.

“Này chư thiện tín, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Pháp… vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh giác.”

“Bạch Đức Thế Tôn, thật tốt lành thay khi có lòng tin bất động vào Đức Phật… vào Pháp… vào Tăng chúng… thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính… đưa đến định. Nhờ thành tựu các giới đức được các bậc Thánh ái kính, một số chúng sinh ở đây là những bậc Dự lưu, không còn bị đọa vào ác đạo, nhất hướng đến quả vị chánh giác.”

Chú Thích

Chi tiết "nhanh như một người lực lưỡng duỗi cánh tay..." là một công thức văn bản (cliché) quen thuộc trong kinh điển Pali để mô tả tốc độ phi thường của thần thông di chuyển bằng ý chí (Thần túc thông), vượt qua các tầng không gian mà không tốn thời gian vật lý.

Tāvatiṃsa (Cõi trời Đao-lợi / Tam Thập Tam Thiên): Cõi trời thứ hai trong sáu tầng trời thuộc Dục giới, do Thiên chủ Sakka (Đế Thích) cai quản. Đây là nơi có mối liên hệ mật thiết với nhân gian và là nơi Đức Phật từng lên để thuyết Vi diệu pháp (Abhidhamma) cho thân mẫu.

Kinh Thăm Thiên Giới I nhấn mạnh khía cạnh phước báu sinh thiên. Những chúng sinh (ở cõi người) nhờ thành tựu 4 pháp Dự Lưu này mà sau thân hoại mạng chung được tái sinh lên các cõi trời vui tươi, hạnh phúc

Sự đồng thuận: Đoạn cuối thể hiện sự xác tín của chính các chư thiên, họ đồng thanh khẳng định lời Tôn giả là đúng đắn vì chính họ là nhân chứng sống – những người nhờ tu tập các pháp này mà nay được hưởng phước báo ở cõi Đao-lợi.

Kinh Thăm Thiên Giới II có chút khác biệt về Ngữ pháp (Thì/Thời): Kinh số I dùng thì hiện tại/tương lai: "are reborn" (được tái sinh / sẽ tái sinh) mang tính chất giới thiệu một quy luật tổng quát. Kinh số II đổi sang thì hoàn thành: "have been reborn" (đã được tái sinh). Sự thay đổi này nhằm nhấn mạnh vào thực tế đã xảy ra. Tôn giả chỉ thẳng vào các vị thiên đang đứng trước mặt và khẳng định: Chính nhờ có 4 pháp này mà các bạn đã có mặt và đang hưởng lạc tại đây.

Kinh Thăm Thiên Giới III có sự thay đổi chủ thể: Thay vì Tôn giả Mahāmoggallāna, lần này đích thân Đức Thế Tôn (Đức Phật) dùng thần thông lên cõi trời Đao-lợi. Điểm khác biệt quan trọng nhất về mặt giáo lý giữa kinh II và hai kinh trước là thay vì nói về quả báo Sinh thiên (vẫn còn trong vòng luân hồi, dù là cõi vui). Kinh số II nói về quả vị Dự Lưu : Bậc Thánh đã cắt đứt 3 kiết sử chắc chắn sẽ giác ngộ giải thoát.

Sớ Giải

Không có bản sớ giải riêng cho ba bài kinh trên.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

------------------

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

[55] Chương XI

Tương Ưng Dự Lưu (a)

-ooOoo-

I. Phẩm Ngự Uyển

18. VIII. Du Hành Chư Thiên (S.v,366)

1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Mahà Moggalàna, như nhà lực sĩ duỗi ra cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Tôn giả biến mất ở Jetavana và hiện ra ở cõi trời Ba mươi ba.

3) Rồi một số đông chư Thiên cõi Ba mươi ba đi đến Tôn giả Mohà Moggalàna; sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Mahà Moggalàna rồi đứng một bên. Tôn giả Mahà Moggalàna nói với chư Thiên đang đứng một bên:

4) -- Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn". Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

5-6) Lành thay, chư Hiền, là tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng...

7) Lành thay, chư Hiền, là sự thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, chư Hiền, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

8) -- Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật: "Ðây là bậc Ứng Cúng,... Phật, Thế Tôn". Do nhân thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

9-11) Lành thay, Tôn giả Moggalàna, là sự thành tựu tịnh tín bất động đối với Pháp... đối với chúng Tăng... các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định. Do nhân thành tựu các giới được các bậc Thánh ái kính, thưa Tôn giả Moggalàna, như vậy ở đây, một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

19. IX. Thăm Viếng Chư Thiên (1) (S.v,367)

1) Một thời Tôn giả Mahà Moggalàna trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của ông Anàthapindika.

2-7) Rồi Tôn giả Moggalàna, như người lực sĩ... (như trên) ...

8-11) ... (như trên) ... một số chúng sanh, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh thiện thú, thiên giới, cõi đời này.

20. X. Thăm Viếng Chư Thiên (2) (S,v,357)

(Giống như kinh 18, chỉ khác, đây là Thế Tôn, không phải Mahà Moggalàna) ..