|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 03 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CẤP CÔ ĐỘC (S.i,54)
Bài 8. Kinh Kakudha (Kakudhasuttaṃ)
KHÔNG SỐNG VỚI PHẢN ỨNG TÂM LÝ
Nói chính xác thì phiền muộn và vui thích là hai phải ứng
tâm lý trái ngược nhưng lại luôn có mặt như cặp bài trùng.
Giống như quả lắc đồng hồ nếu qua bên nầy thì sẽ qua bên
kia. Có vui thích thì ắt phải có buồn phiền vì đó là lẽ tự
nhiên. Điều nầy còn nói lên bản chất bị động của tâm thiếu
tu tập. Sự tu tập càng kiên cố thì những vui buồn càng tế
nhị và đi đến trạng thái xả niệm thanh tịnh. Vị thiên tử
trong bài khinh nầy vốn không có khả năng hiểu Đức Phật và
cũng không thấu đạt hiện tượng phản ứng của tâm lý. Trong
câu trả lời của Đức Phật cũng nói lên sự vượt thoát đối với
cảm thọ và sự pha trộn tất nhiên của khổ vui, một điều mà
phàm phu rất khó nhận thức.
Evaṃ me sutaṃ
Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ bhagavā sākete viharati añjanavane migadāye.
Atha kho kakudho devaputto abhikkantāya rattiyā
abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ añjanavanaṃ obhāsetvā yena
bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi.
Một thời Thế Tôn ở Sāketa, rừng Añjana, tại vườn Nai. Rồi
Thiên tử Kokudha, sau khi đêm đã gần mãn, với nhan sắc thù
thắng chói sáng toàn khu rừng Añjana, đi đến Thế Tôn, sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
Ekamantaṃ ṭhito kho kakudho devaputto bhagavantaṃ etadavoca
–
Ðứng một bên, Thiên tử Kakudha bạch Thế Tôn:
‘‘nandasi, samaṇā’’ti?
-- Thưa Sa-môn, Ngài có hoan hỷ không?
‘‘Kiṃ laddhā, āvuso’’ti?
-- Ta được cái gì, này Hiền giả, mà Ta hoan hỷ?
‘‘Tena hi, samaṇa, socasī’’ti?
-- Nếu vậy, thưa Sa-môn, có phải Ngài sầu muộn?
‘‘Kiṃ jīyittha, āvuso’’ti?
-- Ta mòn mỏi cái gì, này Hiền giả, mà Ta sầu muộn?
‘‘Tena hi, samaṇa, neva nandasi na ca [neva (sī. syā. kaṃ.)]
socasī’’ti?
-- Vậy thời thưa Sa-môn, Ngài không hoan hỷ và không sầu
muộn?
‘‘Evamāvuso’’ti.
-- Thật như vậy, này Hiền giả.
‘‘Kacci tvaṃ anagho [anigho (sabbattha)] bhikkhu,
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Bản hiệu đính:
Mong Ngài không sầu muộn
‘‘Anagho ve ahaṃ yakkha,
Thật sự, này Dạ-xoa,
Bản hiệu đính:
Ta thật sự không buồn
‘‘Kathaṃ tvaṃ anagho bhikkhu,
Làm sao, này Tỷ-kheo,
Bản hiệu đính:
Cách nào Ngài không buồn
‘‘Aghajātassa ve nandī,
Hoan hỷ chỉ có đến,
Bản hiệu đính:
Có vui ắt có sầu
‘‘Cirassaṃ vata passāmi,
Ðã lâu, con mới thấy,
Bản hiệu đính:
Lâu rồi con mới gặp
Những chữ bhikkhu (tỳ kheo), samaṇa (sa môn), brahmana (phạm
chí) đều chỉ cho những bậc tu hành trong cách nói chung
chung mặc dù tùy ngữ cảnh mang ý nghĩa sai biệt. Mạch văn ở
đây mang tánh cách nhấn mạnh cương vị của một người tu hành
đối với phản ứng tâm lý vui buồn. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |