|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 06 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CẤP CÔ ĐỘC (S.i,55) Bài 9. Kinh Uttara (Uttarasuttaṃ) Nội dung kinh nầy giống như kinh số 3 phẩm cây lau @@@
Bài 10. Kinh Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc)
(Anāthapiṇḍikasuttaṃ)
RA ĐI CÓ NGHĨA TRỞ VỀ
Cấp Cô Độc là một cư sĩ hộ pháp vĩ đại. Trong giờ phút lâm
chung, ông không muốn làm phiền Đức Phật nên đã cho người
nhà đến cung thỉnh tôn giả Sāriputta để được nghe giáo giới.
Kinh Giáo Giới Cấp Cô Độc, Trung Bộ, ghi lại cuộc hội kiến
đầy xúc động và lợi lạc giữa vị cư sĩ khả kính nầy với bậc
thượng thủ thinh văn đệ tử Phật. Ngay sau khi mệnh chung
sanh vào cõi Tusita (Đâu suất), thiên tử Cấp Cô Độc lập tức
trở lại cõi người đãnh lễ Đức Phật và bày tỏ lòng tri ân với
tôn giả Sāriputta. Thành tựu tín tâm bất thối, thân cận bậc
chân nhân, nghe diệu pháp là đặc điểm mà các bậc thánh tu đà
huờn luôn thể hiện cho dù sanh ở bất cứ cảnh giới nào. Theo
Sớ giải thì thiên tử Cấp Cô Độc, thiên nữ Visākā, thiên chủ
Sakka là ba vị thánh đệ tử Phật với nhiều công đức hộ pháp
có thời gian rất dài sống với quả phúc hiệp thế trước khi
viên tịch niết bàn.
Ekamantaṃ ṭhito kho anāthapiṇḍiko devaputto bhagavato
santike imā gāthāyo abhāsi –
Ðứng một bên, Thiên tử Cấp Cô Ðộc nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
‘‘Idañhi taṃ jetavanaṃ, isisaṅghanisevitaṃ;
Ðây là rừng Kỳ Viên,
‘‘Kammaṃ vijjā ca dhammo ca, sīlaṃ jīvitamuttamaṃ;
Nghiệp, minh và tâm pháp,
‘‘Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Do vậy bậc Hiền giả,
‘‘Sāriputtova paññāya, sīlena upasamena ca;
Như ngài Xá-lợi-phất,
Bản hiệu đính:
Đây Kỳ Viên Tịnh Xá
Idamavoca anāthapiṇḍiko devaputto. Idaṃ vatvā bhagavantaṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyīti.
Thiên tử Anāthapiṇḍika nói như vậy, nói vậy xong, đảnh lễ
Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi biến mất tại chỗ
ấy.
Atha kho bhagavā tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi –
Rồi Thế Tôn sau khi đêm ấy đã qua, liền gọi các Tỷ-kheo và
nói:
‘‘imaṃ, bhikkhave, rattiṃ aññataro devaputto abhikkantāya
rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā
yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ abhivādetvā
ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho, bhikkhave, so
devaputto mama santike imā gāthāyo abhāsi –
-- Này các Tỷ-kheo, đêm nay có Thiên tử, sau khi đêm đã gần
mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana,
đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên. Ðứng
một bên, này các Tỷ-kheo, vị Thiên tử ấy nói lên bài lệ này
trước mặt Ta:
‘‘Idañhi taṃ jetavanaṃ, isisaṅghanisevitaṃ;
"Ðây là rừng Kỳ Viên,
‘‘Kammaṃ vijjā ca dhammo ca, sīlaṃ jīvitamuttamaṃ;
Nghiệp, minh và tâm pháp,
‘‘Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Do vậy bậc Hiền giả,
‘‘Sāriputtova paññāya, sīlena upasamena ca;
Như ngài Xá-lợi-phất,
‘‘Idamavoca, bhikkhave, so devaputto. Idaṃ vatvā maṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyī’’ti.
Này các Tỷ-kheo, Thiên tử ấy nói như vậy, nói vậy xong, đảnh
lễ Ta, thân phía hữu hướng về Ta rồi biến mất tại chỗ.
Evaṃ vutte, āyasmā ānando bhagavantaṃ etadavoca –
Ðược nghe nói như vậy, Tôn giả Ānanda bạch Thế Tôn:
‘‘so hi nūna, bhante, anāthapiṇḍiko devaputto bhavissati.
Anāthapiṇḍiko gahapati āyasmante sāriputte abhippasanno
ahosī’’ti.
-- Bạch Thế Tôn, có phải vị Thiên tử ấy là Anāthapiṇḍika?
Gia chủ Anāthapiṇḍika hết dạ tín thành đối với Tôn giả
Sāriputta?
‘‘Sādhu sādhu, ānanda, yāvatakaṃ kho, ānanda, takkāya
pattabbaṃ anuppattaṃ taṃ tayā. Anāthapiṇḍiko hi so, ānanda,
devaputto’’ti.
-- Lành thay! Lành thay! Này Ānanda, cho đến những gì có thể
đạt được nhờ suy diễn, này Ānanda, Ông đã đạt được. Này
Ānanda, Anāthapiṇḍika là vị Thiên tử ấy.
Idañhi taṃ jetavanaṃ, = Đây chính là Kỳ Viên Tịnh Xá
Hai câu sau cùng: Cho dù bất cứ vị tỳ kheo nào đạt
đến đích điểm giải thoát cao nhất cũng chỉ có thể đồng đằng
không hơn được (Yopi pāraṅgato bhikkhu,
etāvaparamo siyā) là
một cách nói xưng tán. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |