|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 08 tháng 11, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 13. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (II)
Đức Thế Tôn
là Phật. Là bậc giác ngộ và khai ngộ chúng sanh hiểu rõ lẽ
thật. Lãnh hội sự thật không đơn giản như phát khởi lòng tin
ở thần linh hay cá nhân nào đó. Chúng sanh vốn dị biệt về
căn cơ, không đồng đẳng về phúc đức, đa dạng trong khả năng
nhận thức. Để chuyển hoá và khai ngộ cuộc đời, Đức Phật đã
phải dùng rất nhiều phương tiện khác nhau. Bá gia thì bá
tánh. Muôn người thì muôn bệnh. Trăm cái khổ không cái nào
giống cái nào. Kho tàng mênh mông của ba tạng kinh điển đã
ghi lại rất nhiều câu chuyện, mà qua đó, cho chúng ta thấy
được tâm đại bi vô lượng của Đức Thế Tôn trong sự giáo hoá
chúng sanh ngộ nhập tri kiến giải thoát.
Hoá giải tranh chấp
Tranh chấp
dẫn đến chiến chinh là chuyện muôn thuở của của con người. Đức Phật là bậc sống ngoài những hệ luỵ thế nhân. Thế
nhưng vì lòng đại bi cứu đời mà có lúc Ngài cũng tìm cách
dập tắt ngòi nổ của chiến tranh. Sự việc không dễ dàng trong
cương vị của một sa môn và có thể nói chỉ có bậc Chánh đẳng
chánh giác mới làm được điều đó.
Hai vương
quốc Sakya và Koliya vì tranh chấp nước con sông Rohini đã
điều bình sẳn sàng cho một cuộc chiến đẫm máu.
Vương quốc Sakya là quê nội và vương quốc Koliya là quê
ngoại của Đức Phật. Con sông Rohinī là ranh giới tự nhiên
của hai vương quốc nầy. Vào mùa hè con sông cạn vì thời tiết
khô cằn. Dân chúng hai bên cùng chắt chiu chút ít nước sông
còn lại để tắm giặt và canh tác. Nước ít mà nhu cầu lớn đưa
đến tranh dành. Sự xô xát giữa dân chúng khiến triều đình
hai nước động binh và trong tư thế nghênh chiến để giải
quyết bế tắc.
Hình 41
Đức Thế Tôn
đã xuất hiện đúng lúc khi trận chiến sắp bắt đầu. Ngài đã kêu gọi cả hai bên bình tâm so sánh giữa giá trị của
chút nước sông và sự tồn vong của chính những chiến sĩ sát
đế lỵ. Họ tỉnh ngộ và chấp nhận thoả hiệp để tiếp tục cùng
sống trong hoà bình.
Giúp đỡ người bị ruồng rẫy
Cha mẹ già
nua bị con cái bỏ rơi vốn là chuyện thường tình.
Đức Phật thường dạy con cái nên biết ân sâu của cha mẹ và cảm
kích về những gì cha mẹ làm cho mình. Trong cương vị một vị
Phật độ đời Ngài không áp đặt những điều răn mà người đời
phải tuân giữ mà thay vào đó là thắp sáng sự hiểu biết. Đức
Thế Tôn dạy rất rõ về giá trị của hiếu đạo và quả nghiệp của
sự bất hiếu. Một người Phật tử hiểu biết giáo pháp thật sự
sẽ sống theo hiếu đạo.
Bà la môn
Mahāsāla vốn là phú gia giàu có nhưng về già sau khi chia
tất cả sản nghiệp cho bốn người con thì tất cả không ai chăm
sóc cho người cha lớn tuổi cô đơn.
Do duyên và
nghiệp quá khứ, vị nầy gặp Đức Thế Tôn khi Ngài đang đi khất
thực. Ông lão bà la môn đã sống lang thang trong sự chua
chát về thân phận bị ruồng rẫy bởi những đứa con thân yêu
của mình. Nhờ thiện duyên đưa đẩy ông đã đến gặp Đức Phật và
trình bày về hoàn cảnh đau thương của mình.
Hình 72
Đức Thế Tôn
đã dạy ông một bài kệ để học thuộc lòng và đọc trước đám
đông.
Chúng sinh ra, tôi mừng
Bà-la-môn Mahāsāla
học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi quần chúng
tụ hội tại thính đường và giữa các người con đang ngồi họp,
vị ấy đọc lên bài kệ ngôn trên. Những người con nghe được
hối hận đã rước cha về nhà phụng dưỡng. Rồi vị bà la môn ấy
đã trở lại gặp Đức Phật nói lên lòng tri ân và xin quy y Tam
Bảo.
Hướng dẫn người đời hiểu giá trị của đời sống tinh thần
Đời sống
chánh mạng khất thực của hàng sa môn đôi khi khiến một số
người nghĩ rằng Đức Phật và các đệ tử xuất gia đi tu vì
không thể tự lực sinh nhai.
Với hình ảnh giản dị của một sa môn khất thực Đức Phật
ít khi nhắc cho dân gian biết rằng bản thân của Ngài từng là
một vị quân vương sống trong cung vàng điện ngọc vì hướng
cầu giác ngộ giải thoát nên từ bỏ tất cả. Nhiều người dùng
thước đo của danh lợi để đánh giá cuộc sống bởi vì không
hiểu được giá trị của cuộc sống tinh thần.
Hình 56
Một lần Đức
Thế Tôn ở tại xứ Magadha Ngài gặp Bà la môn Kasi Bhāradvāja
khi đang đi khất thực. Vị Bà la môn đã chất vấn Đức Phật tại
sao không cày bừa canh tác để có miếng ăn mà phải đi khất
thực.
Đức Phật ôn
tồn trả lời là Ngài cũng cày bừa, gieo trồng và sống với
thực phẩm mình làm ra. Câu trả lời của Đức Phật chẳng những
làm ngạc nhiên ông bà la môn mà còn khiến ông nầy gặn hỏi
thêm nếu Đức Phật có canh tác thì nông cụ của Ngài ở đâu?
Đức Phật đã
trả lời bằng một bài kệ nói về sự canh tác của Ngài:
Lòng tin là hạt giống,
Vị bà la môn
lãnh hội được giá trị của đời sống giác ngộ giải thoát liền
đảnh lễ và xin cúng dường thực phẩm. Đức Thế Tôn đã từ chối
và cho biết chư Phật không nhận sự cúng dường do thuyết pháp
hay tụng đọc pháp kệ. Ngay sau đó, Bà la môn Kasi Bharadvāja
đã quy y Tam Bảo.
(Còn tiếp) Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |