|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 13 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,57)
@@@
Bài 3. Kinh Serī (Serīsuttaṃ)
-MÌNH ĂN THÌ HẾT, NGƯỜI ĂN THÌ CÒN
Phàm nhân ai
cũng thích hưởng thụ với những gì mình có. Tuy nhiên, chỉ
biết riêng hưởng những gì có được chỉ hưởng bây giờ mà không
tạo thêm cho mai hậu. Người bố thí với niềm tin và tâm tư
trong sáng là biết tạo thêm phúc phần để tiếp tục có được
sau nầy giống như người buôn bán biết lấy lời làm tăng vốn
thay vì làm bao nhiêu tiêu xài hết bấy nhiêu. Người hiểu và
có niềm tin ở nhân quả nghiệp báo sẽ không sống với lòng keo
kiệt ích kỷ mà sống chan hoà. Chia sẻ với người khác cũng là
bồi đắp phước hạnh cho bản thân. Hiểu vậy hoan hỷ với sự bố
thí ngay cả trong lúc bản thân không dồi dào về vật chất.
Ekamantaṃ ṭhito kho serī devaputto bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi
–
Ðứng một bên, Thiên tử Serì nói lên bài kệ với Thế Tôn:
‘‘Annamevābhinandanti, ubhaye devamānusā;
Atha ko nāma so yakkho, yaṃ annaṃ nābhinandatī’’ti.
Cả hai loại Trời, Người,
Bản hiệu đính
Cả chư thiên, nhân loại
(Thế Tôn)
‘‘Ye naṃ dadanti saddhāya, vippasannena cetasā;
"Ai cho với lòng tin,
Bản hiệu đính
Người cho với niềm tin
‘‘Acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Yāvasubhāsitamidaṃ,
bhante, bhagavatā –
-- Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế
Tôn! Thế Tôn đã nói điều khéo nói như vậy:
‘‘Ye naṃ dadanti saddhāya, vippasannena cetasā;
"Ai cho với lòng tin,
‘‘Bhūtapubbāhaṃ, bhante, sirī [serī (sī. syā. kaṃ. pī.)] nāma
rājā ahosiṃ dāyako dānapati dānassa vaṇṇavādī. Tassa mayhaṃ,
bhante, catūsu dvāresu dānaṃ dīyittha
samaṇa-brāhmaṇa-kapaṇaddhika- vanibbakayācakānaṃ.
Bạch Thế Tôn, thuở xưa con là vị vua tên Serì ưa bố thí, là
bậc thí chủ tán thán bố thí. Bạch Thế Tôn, tại bốn cửa
thành, bố thí được phân phát nhân danh con, cho những ai đến
xin, cho các vị Bà-la-môn và Sa-môn, cho các người nghèo đói
và tàn phế, cho các nhà lữ hành và hành khất.
Atha kho maṃ, bhante, itthāgāraṃ upasaṅkamitvā etadavoca
[itthāgārā upasaṅkamitvā etadavocuṃ (ka.)] – ‘devassa kho
[devasseva kho (ka. sī.)] dānaṃ dīyati; amhākaṃ dānaṃ na
dīyati. Sādhu mayampi devaṃ nissāya dānāni dadeyyāma,
puññāni kareyyāmā’ti.
Bạch Thế Tôn, khi con đến các cung phi của con, họ thưa với
con: "Ðại vương thường hay bố thí, còn chúng con chưa bố
thí. Lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để bố
thí và làm các công đức."
Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi – ‘ahaṃ khosmi dāyako dānapati
dānassa vaṇṇavādī. Dānaṃ dassāmāti vadante kinti
vadeyya’nti? So khvāhaṃ, bhante, paṭhamaṃ dvāraṃ
itthāgārassa adāsiṃ. Tattha itthāgārassa dānaṃ dīyittha;
mama dānaṃ paṭikkami.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí,
là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: 'Chúng ta hãy bố thí'?". Bạch Thế Tôn,
con cho các cung phi cửa thành thứ nhất. Ở đây các cung phi
được bố thí, và bố thí của con trở lui lại cho con.
‘‘Atha kho maṃ, bhante, khattiyā anuyantā upasaṅkamitvā
etadavocuṃ – ‘devassa kho dānaṃ dīyati; itthāgārassa dānaṃ
dīyati; amhākaṃ dānaṃ na dīyati. Sādhu mayampi devaṃ nissāya
dānāni dadeyyāma, puññāni kareyyāmā’ti.
Rồi bạch Thế Tôn, các Sát-đế-lỵ (Khattiya) chư hầu của con
đến con và thưa: "Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố
thí. Chúng con chưa bố thí. Lành thay nếu chúng con được
nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức".
Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi – ‘ahaṃ khosmi dāyako dānapati
dānassa vaṇṇavādī. Dānaṃ dassāmāti vadante kinti
vadeyya’nti? So khvāhaṃ, bhante, dutiyaṃ dvāraṃ khattiyānaṃ
anuyantānaṃ adāsiṃ. Tattha khattiyānaṃ anuyantānaṃ dānaṃ
dīyittha, mama dānaṃ paṭikkami.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí,
là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho các chư hầu Khattiya cửa thành thứ hai. Ở đây các
chư hầu Khattiya được bố thí, và bố thí của con được trở lui
lại cho con.
‘‘Atha kho maṃ, bhante, balakāyo upasaṅkamitvā etadavoca –
‘devassa kho dānaṃ dīyati; itthāgārassa dānaṃ dīyati;
khattiyānaṃ anuyantānaṃ dānaṃ dīyati; amhākaṃ dānaṃ na
dīyati. Sādhu mayampi devaṃ nissāya dānāni dadeyyāma,
puññāni kareyyāmā’ti.
Rồi bạch Thế Tôn, quân đội đến con và thưa: "Ðại vương đã bố
thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu Khattiya đã bố thí.
Chúng con chưa bố thí. Tốt lành thay nếu chúng con được
nương tựa Ðại vương để bố thí và làm các công đức".
Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi – ‘ahaṃ khosmi dāyako dānapati
dānassa vaṇṇavādī. Dānaṃ dassāmāti vadante kinti
vadeyya’nti? So khvāhaṃ bhante, tatiyaṃ dvāraṃ balakāyassa
adāsiṃ. Tattha balakāyassa dānaṃ dīyittha, mama dānaṃ
paṭikkami.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí,
là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho quân đội cửa thành thứ ba. Ở đây quân đội được bố
thí và bố thí của con được trở
lui lại cho con.
‘‘Atha kho maṃ, bhante, brāhmaṇagahapatikā upasaṅkamitvā
etadavocuṃ – ‘devassa kho dānaṃ dīyati; itthāgārassa dānaṃ
dīyati; khattiyānaṃ anuyantānaṃ dānaṃ dīyati; balakāyassa
dānaṃ dīyati; amhākaṃ dānaṃ na dīyati. Sādhu mayampi devaṃ
nissāya dānāni dadeyyāma, puññāni kareyyāmā’ti.
8) Rồi bạch Thế Tôn, các Bà-la-môn gia chủ đến con và thưa:
"Ðại vương đã bố thí. Các cung phi đã bố thí. Các chư hầu
Khattiya đã bố thí. Quân đội đã bố thí. Chúng con chưa bố
thí. Tốt lành thay nếu chúng con được nương tựa Ðại vương để
bố thí và làm các công đức!".
Tassa mayhaṃ, bhante, etadahosi – ‘ahaṃ khosmi dāyako
dānapati dānassa vaṇṇavādī. Dānaṃ dassāmāti vadante kinti
vadeyya’nti? So khvāhaṃ, bhante, catutthaṃ dvāraṃ
brāhmaṇagahapatikānaṃ adāsiṃ. Tattha brāhmaṇagahapatikānaṃ
dānaṃ dīyittha, mama dānaṃ paṭikkami.
Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Ta là người ưa bố thí,
là thí chủ tán thán bố thí. Nay ta phải trả lời như thế nào
khi họ đến và thưa: "Chúng ta hãy bố thí"?". Bạch Thế Tôn,
con cho các Bà-la-môn gia chủ cửa thành thứ tư. Ở đây các
Bà-la-môn gia chủ được bố thí và bố thí của con được trở lui
lại cho con.
‘‘Atha kho maṃ, bhante, purisā upasaṅkamitvā etadavocuṃ – ‘na kho
dāni devassa koci dānaṃ dīyatī’ti.
Rồi bạch Thế Tôn, các người của con đến con và thưa: "Nay
Ðại vương không còn bố thí nào để cho nữa".
Evaṃ vuttāhaṃ, bhante, te purise etadavocaṃ – ‘tena hi, bhaṇe, yo
bāhiresu janapadesu āyo sañjāyati tato upaḍḍhaṃ antepure
pavesetha, upaḍḍhaṃ tattheva dānaṃ detha samaṇa-brāhmaṇa-
kapaṇaddhika-vanibbaka-yācakāna’nti.
Khi được nói vậy, bạch Thế Tôn, con nói với các người ấy như
sau: "Này các Ông, các thuế má thâu hoạch được từ các nước
ngoài vào, một nửa hãy gửi vào trong nội thành, một nửa ngay
tại chỗ ấy đem bố thí cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn, các
người nghèo và tàn tật, các nhà lữ hành và hành khất".
So
khvāhaṃ, bhante, evaṃ dīgharattaṃ katānaṃ puññānaṃ evaṃ
dīgharattaṃ katānaṃ kusalānaṃ dhammānaṃ pariyantaṃ
nādhigacchāmi – ettakaṃ puññanti vā ettako puññavipākoti vā
ettakaṃ sagge ṭhātabbanti vāti.
Như vậy, bạch Thế Tôn, con không chấm dứt trong một thời
gian dài các việc làm công đức, trong một thời gian dài các
việc làm thiện, những việc làm được con xem như là công đức,
hay như là công đức quả hay như là những điều kiện được sanh
thiên giới.
Acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Yāvasubhāsitamidaṃ, bhante,
bhagavatā –
Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn!
Thế Tôn đã nói lên điều khéo nói như vầy:
‘‘Ye naṃ dadanti saddhāya, vippasannena cetasā;
"Ai cho với lòng tin,
Annamevābhinandanti = Họ luôn thích thú với thực phẩm
Hai câu cuối của Phật ngôn cần ghép chung một câu để chuyển
ngữ. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |