|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 15 tháng 11, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 14. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (III)
Đức Thế Tôn là Phật. Là bậc giác ngộ
và khai ngộ chúng sanh hiểu rõ lẽ thật. Lãnh hội sự thật
không đơn giản như phát khởi lòng tin ở thần linh hay cá
nhân nào đó. Chúng sanh vốn dị biệt về căn cơ, không đồng
đẳng về phúc đức, đa dạng trong khả năng nhận thức. Để
chuyển hoá và khai ngộ cuộc đời, Đức Phật đã phải dùng rất
nhiều phương tiện khác nhau. Bá gia thì bá tánh. Muôn người
thì muôn bệnh. Trăm cái khổ không cái nào giống cái nào. Kho
tàng mênh mông của ba tạng kinh điển đã ghi lại rất nhiều
câu chuyện, mà qua đó, cho chúng ta thấy được tâm đại bi vô
lượng của Đức Thế Tôn trong sự giáo hoá chúng sanh ngộ nhập
tri kiến giải thoát. Cảm hoá nàng dâu ngang bướng Chánh
pháp được Đức Phật giảng giải không phải chỉ có giới, định,
tuệ cho người tu tập mà bao gồm nhiều lãnh vực gần gũi trong
đời sống hằng ngày của người cư sĩ.
Đã là đời sống thì có vật chất, có tinh thần; có đạo, có
đời; có những thứ thiêng liêng đạo vị mà cũng có những điểm
rất bình thường trong cuộc sống cư sĩ thế tục. Nếu đi vào
kho tàng kinh điển sẽ tìm ra rất nhiều lời dạy thoạt nghe
như không liên hệ tới Phật Pháp lại có công năng chuyển hoá
cách suy nghĩ của con người.
Sujātā là em gái út của nữ cư sĩ Visākhā xuất thân giàu có
là xinh đẹp nên tánh tình cao ngạo.
Khi trở thành
con dâu của Ông Cấp Cô Độc, Sujātā dù là dâu con nhưng tánh
khí không được nhu thuận dễ thương. Một lần Đức Thế Tôn đến
nhà ông Cấp Cô Độc tình cờ nghe bên trong có tiếng gắt gỏng
nặng lời to tiếng vốn hiếm khi có trong một gia đình mà
người trên kẻ dưới hầu hết đều thuần thành trong Phật pháp.
Đức Thế Tôn đã hỏi vì sao và được trả lời là do nàng dâu
Sujātā tánh khí không biết kính trên nhường dưới nên thường
to tiếng với người trong nhà không khuyên bảo được. Đức Phật
cho gọi Sujātā đến gặp Ngài. Hình 78
Đức Phật
đã không khiển trách Sujātā mà chỉ nói về bảy hạng vợ và cho
nàng sự lựa chọn.
Sau khi Sujātā đến đảnh lễ Đức Phật, Bậc Đạo Sư đã nói: —Này Sujātā
có bảy loại vợ. Thế nào là bảy? Vợ như người sát nhân, vợ
như người ăn trộm, vợ như người chủ nhân, vợ như người mẹ,
vợ như người chị, vợ như người bạn, vợ như người nữ tỳ. Này
Sujātā, có bảy loại vợ cho người đàn ông. Và con thuộc loại
vợ nào? —Bạch Thế
Tôn, lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn, con không hiểu rõ ý
nghĩa một cách rộng rãi. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế
Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp cho con để con có thể hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi lời dạy tóm tắt này của Thế Tôn. —Vậy này
Sujātā, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói. —Thưa vâng Sujātā vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau: Ai tâm bị uế
nhiễm, Không ưa thích làm việc, Ai như người em gái, Không tức giận, an tịnh, Nếu vợ là
sát nhân, Ở đời các hạng vợ, Này Sujātā, có bảy loại vợ này đối với người đàn ông. Con thuộc
hạng người nào? —Bạch Thế Tôn, bắt đầu từ hôm nay, Thế Tôn hãy xem con là người
vợ đối với chồng như người vợ nữ tỳ. Chăm sóc
cho một tỳ kheo trọng bệnh không người quan tâm Trong đoàn thể nào cũng có những cá
nhân sống bên lề của sự quên lãng ngay cả trong Tăng chúng
thời Đức Phật cũng vậy. Điều nầy thường xẩy ra với những
tỳ kheo thường tịnh tu không đạo bạn hay không được biết
nhiều trong Tăng chúng.
Hơn thế nữa Tăng chúng là cộng đồng của những tu sĩ
mà thường là mỗi cá nhân phải biết tự lo bản thân không làm
gánh nặng cho người khác. Từ xưa đến giờ sự chăm sóc những
tu sĩ già hay bệnh hoạn là vấn đề không đơn giản trong chùa
chiền. Có một tỳ kheo bị bệnh không ai chăm
sóc được Đức Thế Tôn chăm sóc. Lần ấy Đức Phật đi quanh
tịnh xá để xem xét sinh hoạt của Tăng chúng có thị giả
Ananda đi theo. Khi đi ngang qua một am thất có mùi hôi bay
ra. Đó chính là chỗ ở của một tỳ kheo bị bệnh nặng không
người chăm sóc đang nằm trên phân và nước tiểu. Đức Phật dạy
tôn giả Ananda đi lấy nước rồi Ngài và vị thị giả đã lau
sạch cho vị tỳ kheo bệnh và đặt vị ấy trên chiếc giường
sạch. Hình 73
Sau khi
cắt đặt việc chăm sóc cho vị tỳ kheo bị bệnh Đức Phật đã cho
triệu tập chư tăng trong chùa để huấn thị.
Ngài hỏi chư tỳ
kheo có biết một vị đồng tu bị bệnh nặng không người chăm
sóc? Chư tăng trả lời do vị ấy không qua lại với ai trong
Tăng chúng nên không người quan tâm. Đức Phật đã dạy ba
điều: “Nầy chư tỳ
kheo, các con không sống với cha, với mẹ nếu không chăm sóc
nhau thì ai sẽ chăm sóc các con? Những ai thật sự thương
kính Như Lai sẽ chăm sóc những pháp lữ bị đau bệnh”. Rồi Đấng Đại
Bi cũng ban hành giới luật: “Đối với
thầy tế độ, thầy giáo thọ, học Tăng, sa di khi bị bệnh thì
Tăng chúng phải chăm sóc. Nếu không làm vậy (toàn thể Tăng
chúng trong chùa) phạm điều luật dukkata (điều vụng về trong
hành xử đáng khiển trách – có bản dịch là “tác ác”)
Kèm
theo điều luật nầy Đức Phật cũng dạy thế nào là một người
bệnh khó chăm sóc: Không chịu làm theo sự chỉ dẫn thích hợp
để chữa trị, không chịu uống thuốc, không chịu uống thuốc,
không chịu nói rõ bệnh trạng,
không có đủ kham nhẫn đối với sự đau nhức khó chịu
của thân bệnh. Đức Phật
cũng dạy thêm thế nào là một nhân tuyển thích hợp để chăm
sóc người bệnh: Có hiểu biết về y dược; biết cái gì thích
hợp hay không thích hợp cho người bệnh; biết đem đến cái gì
cần và mang đi cái gì không cần cho bệnh nhân; không nặng
lòng với danh lợi; không ngại những dơ bẩn của người bệnh;
có khả năng trợ duyên tinh thần với pháp thoại. Độ người
mang nặng định kiến Trong
giới tôn giáo, người ta thường hành xử với những quan niệm
cố hữu về cái gì đúng, cái gì sai dựa trên tín ngưỡng.
Điều nầy đặc biệt nổi bật trong văn hoá Ấn Độ, một xã hội
nặng niềm tin ở hình thức cúng kiếng và rất khó mở lòng để
nghe những đạo lý không mang màu sắc thờ phượng lễ nghi.
Bà-la-môn Sundarika Bharadvāja là một thầy cúng nổi tiếng có
lần làm lễ tế lửa trên bờ sông đã gặp Đức Phật.
Như thường lệ, sau tế đàn vị nầy tìm người để cho những thực
phẩm cúng tế.
Nhìn thấy Đức Phật ngồi gần đó, dù vị thầy cúng nầy không ưa
những sa môn tịnh tu nhưng nẩy sanh ý đến hỏi là tu kiểu vậy
sau khi chết sanh về đâu nếu không thờ phượng thần linh
thượng đế.
Hình 84
Những gì
bà la môn Sundarika thấy và nghe ở Đức Phật hoàn toàn bất
ngờ và chính ông cũng có quyết định bất ngờ.
Câu chuyện được ghi lại như sau: Bà-la-môn
Sundarika Bhāradvāja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới gốc
cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món ăn cúng
tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế Tôn. Và Thế Tôn
nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja
liền tháo đồ trùm ở đầu. Và
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja nghĩ: “Ðầu vị này trọc, vị
này là người trọc đầu”, nghĩ vậy, muốn trở lui. Rồi
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja lại suy nghĩ: “Trọc đầu
ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến và hỏi
vấn đề thọ sanh”. Rồi
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, nói với Thế Tôn: —Thọ sanh
Tôn giả là gì? (Thế Tôn) Chớ hỏi về
thọ sanh, Sundarika: Vật cúng
này của con, (Thế Tôn): Ta không có
hưởng thọ, —Vậy thưa
Tôn giả Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại này? —Này
Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm
thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới
chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng
còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay đệ
tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng vật
cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận chìm
xuống nước, nơi không có loài hữu tình. Rồi
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja nhận chìm vật cúng còn
lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình. Vật cúng ấy
khi được quăng vào trong nước liền xì lên, sôi lên, phun hơi
và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt nóng cả ngày, khi bỏ
vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói
lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy khi được quăng vào trong
nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Rồi
Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja hoảng hốt, lông tóc
dựng ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên. Thế Tôn nói
lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja đang đứng một
bên: Này
Bà-la-môn kia, Khi được
nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhāradvāja bạch Thế Tôn: —Thật vi
diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn
giả Gotama! … Và Tôn
giả Bhāradvāja trở thành một vị A-la-hán nữa.
Điều đã nói và
điều sắp nói: Bài
đã học: Bài 13. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (II)
(Còn tiếp) Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |