|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 17 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,61) @@@
Bài 5. Kinh Jantu (Jantusuttaṃ)
-THANH TỊNH TĂNG ĐÚNG NGHĨA
Định
chế Tăng già cho Đức Phật thiết lập để tạo điều kiện cho
những ai muốn có đời sống tu tập tốt đẹp được tinh tiến. Khi
cộng đồng Tăng chúng mở rộng cho nhiều người có cơ hội được
vào tu thì có nhiều phức tạp. Cốt lõi của vấn đề là lối sống
chứ không phải số lượng hay hình thức. Bài kinh nầy nói về
một vị thiên thấy có những tỳ kheo sống ở Tuyết Sơn với sự
buông lung, đánh mất phẩm chất cao quý của đời sống xuất gia
theo lời Phật dạy. Vị thiên nầy tìm cách cảnh tỉnh với lời
lẽ khẳng khái nhưng vẫn giữ sự tôn kính với đại tăng.
Evaṃ me sutaṃ –
1) Như vầy tôi
nghe.
ekaṃ samayaṃ sambahulā bhikkhū, kosalesu viharanti himavantapasse
araññakuṭikāya uddhatā unnaḷā capalā mukharā vikiṇṇavācā
muṭṭhassatino asampajānā asamāhitā vibbhantacittā
pākatindriyā.
Một thời một số
đông Tỷ-kheo trú ở Kosala (Câu-tát-la), trên sườn núi
Himavanta (Tuyết sơn), tại một cốc nhỏ trong rừng. Họ tự
cao, tự mãn, dao động, lắm mồm lắm miệng, ăn nói huyên
thuyên, thất niệm, không tỉnh giác, không định tĩnh, tâm tư
tán loạn, các căn không chế ngự.
Atha kho jantu devaputto tadahuposathe pannarase yena te bhikkhū
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā te bhikkhū gāthāhi ajjhabhāsi –
2) Rồi Thiên tử Jantu, vào đêm Bố-tát, ngày rằm, đi đến các
Tỷ-kheo ấy, sau khi đến nói lên bài kệ với các Tỷ-kheo ấy:
‘‘Sukhajīvino pure āsuṃ, bhikkhū gotamasāvakā;
Các Tỷ-kheo thuở xưa,
Bản hiệu đính:
Đệ tử Đức Cồ Đàm
Sukhajīvino pure āsuṁ
= trước kia sống an lạc.
Theo Sớ giả đời sống bất hảo (dupposa) của một tỳ kheo được
nhận biết với những điểm sau:
Dao động (uddhatā): sống theo cảm tính không ý thức
cái gì nên làm hay không nên làm theo luật nghi..
Cao mạn (unnalạ̄): đề
cao cá nhân giống như những cây sậy vươn cao nhưng rỗng
tuếch. Nặng hình tướng
(capalā): trau chuốt bề ngoài.
Lắm mồm (Mukharā): Nói nhiều mà không nói chuyện
đáng nói. Thất niệm
(muttḥassatino): sống quên mình, không ý thức cái gì
đang nói hay đang làm. Không
tỉnh thức (asampajānā): vụng về, không sáng suốt
trong hành động. Không định tỉnh
(asamāhitā): Sống thiếu tu tập nội tâm như con
thuyền không lái giữa biển khơi..
Tâm buông lung
(vibbhantacittā): như những con nai ngu ngốc lang
thang ngoài đường tự biến thành con mồi cho thợ săng.
Các căn không phòng hộ
(pākatindriyā) không có sự tự chế, tự chủ khi thấy,
nghe, ngửi, nếm, xúc chạm giống như người thế tục.
Theo Sớ giải thì thiên tử Jantu nghĩ rằng cách tốt nhất để
cảnh tỉnh những tỳ kheo giải đãi là nói giữa Tăng chúng thay
vì trực tiếp với cá nhân nên lựa dịp lễ bố tát có chư tăng
tụ hội.
Cũng theo Sớ giải thì xác chết quăng bỏ trong bãi tha ma bị
cấu xé, đục khoét bởi những loài chim hay côn trùng không có
sự bảo vệ được thí dụ cho những tỳ kheo sống buông thả không
nghe theo huấn thị của thầy tổ. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |