|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 18 tháng 11, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương VI. TOÁT YẾU TƯƠNG TẬP (Samuccayasaṅgaha) Bài 38. TỔNG QUAN
Tương tập là sự liệt kê các pháp thành từng thể loại do có
cùng đặc tính. Sau khi đã đi qua các chương nói về tâm, tâm
sở, sắc pháp, níp bàn thì chương tương tập sẽ cho thấy rõ
hơn về vai trò, tác động và sự liên hệ của từng pháp đối với
các pháp khác. Điều nầy giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các
pháp tương tự như khi nói về một người nào đó không phải chỉ
nói về tên họ, chiều cao, màu tóc
…v.v… mà có nói về
giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, lợi tức
…v.v…
như vậy có thể hình
dung chính xác hơn về người đó.
Liệt kê để hiểu phân loại
Không có sự phân loại nào nói lên đầy đủ mọi ý nghĩa mà cần
rất nhiều bảng liệt kê khác nhau. Thí dụ:
tâm sở cần có thể là chi pháp của tà tinh tấn mà cũng là chi
pháp của chánh tinh tấn, cần giác chi
…v.v…
Điều nầy cho thấy rõ hơn bản chất “tợ tha”. Điều nầy
tương tự như cách người ta làm thống kê dân số. Sự phân loại
về tuổi tác, giới tính, lợi tức của dân chúng giúp chính
quyền cũng như các công ty thương mại có định hướng chính
xác hơn để phù hợp với tương lai.
Từ vĩ mô đến quy mô
Có lẽ một trong những khái niệm khó hiểu nhất của Thắng Pháp
đối người mới học là sự trình bày vĩ mô của các pháp
thí dụ như những tâm sở tín, niệm, tàm, quý, vô tham, vô sân …v.v…
trong cách nói đại loại thì là những trạng thái riêng
biệt nhưng trong cách nói vĩ mô thì lại có hỗn hợp cùng có
mặt trong một sát na tâm tịnh hảo. Trong chương tương tập
các pháp được trình bày với vai trò đặc biệt cho thấy ý
nghĩa liên hệ giữa khái niệm vĩ mô và quy mô như tâm sở định
trong bát chi đạo chính là chánh định.
Đề pháp và chi pháp
Một trong những lợi ích lớn nhất của việc học Thắng Pháp là
nêu rõ chi pháp của đề pháp. Thí dụ như khi nói về dục ái
tiềm miên hay hữu ái tiềm miên mặc dù là hai thứ ái có
ý nghĩa rất khác biệt khi nói về thất tiềm miên nhưng chi
pháp đều là tâm sở tham. Tương tự như một dược sĩ khi nói về
thuốc không phải chỉ nói về hiệu thuốc mà xem dược tánh của
thứ thuốc đó để biết đích xác về công năng hay phản ứng nếu
có.
Nhịp cầu giữa Kinh Tạng và Thắng Pháp Tạng
Khi học những chương đầu của giáo trình nầy người học có thể
cảm thấy đang đi vào một thế giới xa lạ với những từ vựng
không quen, khái niệm chưa từng nghe. Nhưng trong chương
nầy khi đề cập đến những đề tài như năm uẩn, tứ thủ, thất
tiềm miên thì là những đề tài quen thuộc được nói nhiều ở
Kinh Tạng mà ở đây được trình bày với chi pháp cụ thể. Có
thể nói chương Tương Tập bắc nhịp cầu giữa Kinh Tạng và
Thắng Pháp Tạng. Chính điểm nầy cho thấy sự lợi ích đặc biệt
của việc học Thắng Pháp khi nghiên cứu Phật học.
Thắng Pháp và đời sống hằng ngày
Một cảm giác mà người mới học Thắng Pháp thường có là môn
học nầy dường như nói đến những điều không có liên hệ thực
dụng trong đời sống hằng ngày. Trên thực tế thì những nơi
Thắng Pháp được nghiên cứu sâu rộng thì thiền quán tứ niệm
xứ cũng thịnh hành. Lý do dễ hiểu là Thắng Pháp có những
phân tích rõ ràng về cảm thọ; về uẩn, xứ, giới, đế là những
lãnh vực thiết yếu cho người tu tập thiền quán. Ngay cả với
người bình thường nếu học kỹ chương tương tập nầy sẽ hiểu
được vai trò của các pháp trong đời sống hằng ngày ra sao.
Những gì được đề cập trong phần Tương Tập
Tổng cộng 28 chủ đề phân thành bốn nhóm như
sau:
A.
Toát yếu bất thiện (Akusalasaṅgaha)
B.
Toát yếu hổn hợp (Missakasaṅgaha)
C.
Toát yếu giác phần (Bodhipakkhiyasaṅgaha)
D.
Toát yếu hàm tận (Sabbasaṅgaha)
1.
Tứ lậu (cattāro āsavā)
2.
Tứ bộc (cattāro oghā)
3.
Tứ phối (cattāro yogā)
4.
Tứ phược (cattāro ganthā)
5.
Tứ thủ (cattāro upādānā)
6.
Lục cái (cha nīvaraṇāni)
7.
Thất tiềm miên (satta anusayā)
8.
Thập triền (dasa saṃyojanā)
9.
Thập phiền não (dasa kilesā)
1. Lục nhân (cha hetu)
C. Toát yếu giác phần
(Bodhipakkhiyasaṅgaha)
1.
Tứ niệm xứ (cattāro satipaṭṭhānā)
2.
Tứ chánh cần (cattāri sammappadhānāni)
3.
Tứ như ý túc (cattāro iddhipādā)
4.
Ngũ quyền (pañc' indriyāni)
5.
Ngũ lực (pañca balāni)
6.
Thất giác chi (satta bojjhaṅgā) 7. Bát chi đạo (aṭṭha maggaṅgāni) D. Toát yếu hàm tận (Sabbasaṅgaha)
1.
Ngũ uẩn (pañcakkhandhā)
2.
Ngũ thủ uẩn (pañcupādānakkhandhā)
3.
Thập nhị xứ (dvādas'āyatanāni)
4.
Thập bát giới (aṭṭhārasa dhātuyo)
5.
Tứ thánh đế (cattāri ariyasaccāni)
Biên soạn giáo trình: Tỳ
kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |