|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 20 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,61) @@@
Bài 6. Kinh Rohitassa (Rohitassasuttaṃ) -KHỔ ĐAU VÀ LỐI THOÁT NẰM Ở ĐÂU?
Người ta thường
quan niệm đau khổ gắn liền với không gian và thời gian. Chỗ
nầy đau khổ thì có nơi khác hết khổ đau. Kiếp nầy phiền muộn
thì chờ kiếp sau sẽ nhẹ bước thang mây. Thiên tử Rohitissa
từ sự nhớ nghĩ về kiếp tiền thân đã hỏi Đức Phật một câu
then chốt của đời sống là đi đến nơi nào để chấm dứt hoàn
toàn đau khổ. Nói cách khác là đi tới đâu trong vũ trụ nầy
để thoát hiện tượng sanh diệt quẩn quanh. Đức Phật dạy đó là
điều bất khả. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là không có
con đường thoát khổ mà phải đặt vấn đề ngược lại. Thế giới
mà thiên tử Rohitissa quan niệm là vũ trụ bao la vô vàn tinh
tú (cakkavālạloka) . Cho dù có sống thật lâu với thần lực
đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng cũng không thể tìm đến điểm
tận cùng của vũ trụ. Thế giới mà Đức Phật dạy là thế giới
của pháp hữu vi (saṅkhāraloka); của năm uẩn; của sự tạo
thành do tương tác giữa căn, cảnh và xúc. Ở tự thân của mỗi
chúng sanh thế giới của năm uẩn, của hữu vi pháp được quán
triệt. Hơn thế nữa là sự tìm thấy chân lý về sự khổ, nhân
sanh khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa tới sự diệt khổ.
Phật ngôn: “ Dù vậy
này hiền giả, Ta nói rằng không đi đên sự tận cùng của thế
giới thì không thể chấm dứt khổ đau. Này hiền giả, chính
trong thân xác cao một sải tay nầy với tưởng, với tâm ý Ta
nói về thế giới, sự sanh khởi của thế giới, sự chấm dứt và
con đường dẫn đến chấm dứt”. Ngài Bodhi khi dịch đoạn
kinh nầy đã chú thích: Lời tuyên bố súc tích nầy của Đức
Phật có thể dễ dàng là lời dạy thâm thuý nhất trong lịch sử
tư tưởng của nhân loại. (This pithy utterance of the Buddha,
which may well be the most profound proposition in the
history of human thought)
Sāvatthinidānaṃ.
1) Tại Sāvatthī (Xá-vệ).
Ekamantaṃ ṭhito kho rohitasso devaputto bhagavantaṃ
etadavoca –
2) Ðứng một bên, Thiên tử Rohitassa bạch Thế Tôn:
‘‘yattha nu kho, bhante, na jāyati na jīyati na mīyati [na
jiyyati na miyyati (syā. kaṃ. ka.)] na cavati na upapajjati,
sakkā nu kho so, bhante, gamanena lokassa anto ñātuṃ vā
daṭṭhuṃ vā pāpuṇituṃ vā’’ti?
-- Bạch Thế Tôn, tại chỗ nào
không có sanh, không có già, không có chết, không có diệt,
không có khởi, làm sao, bạch Thế Tôn, với bộ hành, có thể
biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế
giới?
‘‘Yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati na mīyati na cavati na
upapajjati, nāhaṃ taṃ gamanena lokassa antaṃ ñāteyyaṃ
daṭṭheyyaṃ patteyyanti vadāmī’’ti.
3) -- Này Hiền giả, tại chỗ
nào không có sanh, không có già, không có chết, không có
diệt, không có khởi, Ta nói rằng tại chỗ ấy, không có thể
với bộ hành, biết được, hay thấy được, hay đạt được sự tận
cùng của thế giới.
‘‘Acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Yāvasubhāsitamidaṃ,
bhante, bhagavatā – ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati
na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṃ taṃ gamanena
lokassa antaṃ ñāteyyaṃ daṭṭheyyaṃ patteyyanti vadāmī’ti.
4) -- Thật vi diệu thay,
bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói
lên điều khéo nói như vầy: "Này Hiền giả, tại chỗ nào không
sanh, không già, không chết, không diệt, không khởi, Ta nói
rằng tại chỗ ấy, không có thể với bộ hành biết được, hay
thấy được, hay đạt được sự tận cùng của thế giới".
‘‘Bhūtapubbāhaṃ, bhante, rohitasso nāma isi ahosiṃ bhojaputto
iddhimā vehāsaṅgamo. Tassa mayhaṃ, bhante, evarūpo javo
ahosi; seyyathāpi nāma daḷhadhammā [daḷhadhammo (sabbattha)
ṭīkā ca moggallānabyākaraṇaṃ ca oloketabbaṃ] dhanuggaho
susikkhito katahattho katayoggo katūpāsano lahukena asanena
appakasireneva tiriyaṃ tālacchāyaṃ atipāteyya.
5) Bạch Thế Tôn, thuở trước,
con tên là Rohita con của Bhoja, có thần thông, có thể đi
giữa hư không. Bạch Thế Tôn, tốc lực con mau lẹ cho đến con
có thể bay, như người thợ bắn cung lão luyện, khéo tập, khéo
luyện, thuần thục, thiện xảo, với một cây cung chắc mạnh
không gì khó khăn, có thể bắn một mũi tên nhẹ bay vượt qua
bóng tối của cây tala.
Tassa mayhaṃ, bhante, evarūpo padavītihāro ahosi; seyyathāpi nāma
puratthimā samuddā pacchimo samuddo. Tassa mayhaṃ, bhante,
evarūpaṃ icchāgataṃ uppajji – ‘ahaṃ gamanena lokassa antaṃ
pāpuṇissāmī’ti.
6) Và bạch Thế Tôn, bước đi
của con dài cho đến con có thể bước từ biển phía Ðông qua
biển phía Tây. Và ở nơi con, bạch Thế Tôn, khởi lên sự ước
muốn như sau: "Với bộ hành, ta có thể đạt đến được sự tận
cùng của thế giới".
So
khvāhaṃ, bhante, evarūpena javena samannāgato evarūpena ca
padavītihārena aññatreva asita-pīta-khāyita-sāyitā aññatra
uccāra-passāvakammā aññatra niddākilamathapaṭivinodanā
vassasatāyuko vassasatajīvī vassasataṃ gantvā appatvāva
lokassa antaṃ antarāva kālaṅkato.
7) Và bạch Thế Tôn, dầu cho
tốc lực của con mau đến như vậy, và dầu cho con có bước dài
đến như vậy, và dầu cho con không có dừng để ăn, hay uống,
hay nhai, hay nếm, dầu cho con không có đại tiện, tiểu tiện,
dầu cho con không ngủ, không bị mệt nhọc, không trừ cấu uế,
dầu cho trăm năm là tuổi thọ thường tình, dầu cho trăm năm
là mạng sống thường tình, tuy con đi hơn trăm năm và bị mệnh
chung, con cũng không thể đạt đến sự tận cùng của thế giới.
‘‘Acchariyaṃ, bhante, abbhutaṃ, bhante! Yāvasubhāsitamidaṃ,
bhante, bhagavatā – ‘yattha kho, āvuso, na jāyati na jīyati
na mīyati na cavati na upapajjati, nāhaṃ taṃ gamanena
lokassa antaṃ ñāteyyaṃ daṭṭheyyaṃ patteyyanti vadāmī’’’ti.
8) Thật là vi diệu, bạch Thế
Tôn! Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thế Tôn đã nói lên điều
khéo nói như vầy: "Này Hiền giả, tại chỗ nào không sanh,
không già, không chết, không diệt, không khởi. Ta nói rằng
tại chỗ ấy, không có thể bộ hành, biết được hay thấy được sự
tận cùng của thế giới. Ta nói như vậy".
‘‘Na kho panāhaṃ, āvuso, appatvā lokassa antaṃ dukkhassa
antakiriyaṃ vadāmi. Api ca khvāhaṃ, āvuso, imasmiṃyeva
byāmamatte kaḷevare sasaññimhi samanake lokañca paññapemi
lokasamudayañca lokanirodhañca lokanirodhagāminiñca
paṭipadanti.
9) -- Này Hiền giả, nhưng Ta
cũng không nói rằng không đạt được sự tận cùng của thế giới
thời chấm dứt cuộc khổ đau. Này Hiền giả, chính trong cái
thân thể dài một tầm có tưởng, có ý này, Ta tuyên bố thế
giới, nguyên nhân của thế giới, sự đoạn diệt thế giới và con
đường đưa đến sự đoạn diệt của thế giới.
Hiệu đính:
Dù vậy này hiền
giả, Ta nói rằng không đi đên sự tận cùng của thế giới thì
không thể chấm dứt khổ đau. Này hiền giả, chính trong thân
xác cao một sải tay nầy với tưởng, với tâm ý Ta nói về thế
giới, sự sanh khởi của thế giới, sự chấm dứt và con đường
dẫn đến chấm dứt.
‘‘Gamanena na pattabbo, lokassanto kudācanaṃ;
10)Bộ hành không bao giờ
Bản hiệu
đính:
Không thể bằng du hành
Gamanena na pattabbo = Không thể đạt được bằng du hành
Theo Sớ giải thì thế giới mà thiên tử Rohitassa nói là thiên
hà vũ trụ (cakkavālạloka) . Thế giới mà Đức Phật dạy là
thế giới của pháp hữu vi (saṅkhāraloka).
Trong một đoạn kinh khác cũng thuộc Tương Ưng Bộ, Tôn giả
Ananda giải thích thế giới mà Đức Phật dạy được các bậc
thánh đệ tử lãnh hội là thế giới trãi nghiệm của căn, cảnh
và thức. Nói cách khác đó là sự hiện hữu của năm uẩn. Chính
ở đây được nhận diện sự khổ, nhân sanh khổ, sự diệt khổ, và
con đường dẫn tới diệt khổ. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |