|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 22 tháng 11, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 15. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (IV)
Đức Thế Tôn là Phật. Là bậc giác ngộ và khai ngộ chúng sanh
hiểu rõ lẽ thật. Lãnh hội sự thật không đơn giản như phát
khởi lòng tin ở thần linh hay cá nhân nào đó. Chúng sanh vốn
dị biệt về căn cơ, không đồng đẳng về phúc đức, đa dạng
trong khả năng nhận thức. Để chuyển hoá và khai ngộ cuộc
đời, Đức Phật đã phải dùng rất nhiều phương tiện khác nhau.
Bá gia thì bá tánh. Muôn người thì muôn bệnh. Trăm cái khổ
không cái nào giống cái nào. Kho tàng mênh mông của ba tạng
kinh điển đã ghi lại rất nhiều câu chuyện, mà qua đó, cho
chúng ta thấy được tâm đại bi vô lượng của Đức Thế Tôn trong
sự giáo hoá chúng sanh ngộ nhập tri kiến giải thoát.
Độ người cuồng sát
Không phải bất cứ ai trước khi bước vào ngưỡng cửa giác ngộ
giải thoát đều là những người hiền thiện, minh mẫn .
Tam tạng kinh điển ghi lại có những người trước khi giác ngộ
là người ác, thậm chí cực ác. Trong lúc sự đánh giá của
người đời chỉ dựa trên cách suy nghĩ rất bình thường là chỉ
có người tốt mới trở nên thánh nhân. Phải nhận rằng chỉ có
Đức Phật hay những bậc có trình độ tu chứng rất cao mới nhận
ra tiềm năng giác ngộ ở những người bất hảo. Và dĩ nhiên Đức
Phải dùng phương tiện thích hợp để chuyển hoá.
Ahimsa là tên một công tử con một vi quan thượng thư của xứ
Kosala.
Lúc sanh ra có điềm bất tường nên cha mẹ đặt tên là Ahimsa
(Vô Hại) để mong con mình sau nầy là người hiền lương.
Để yên lòng hơn,
khi tuổi vừa lớn, cha mẹ của Ahimsa gởi con mình sang xứ
Takkasila thụ huấn với một danh sư. Vốn là người có tư chất
thông minh, sức khoẻ tráng kiện nên Ahimsa nhanh chóng trở
thành một học trò ưu tú khiến nhiều bạn học ganh tỵ. Một số
học trò tìm cách vu cáo là Ahimsa tự mãn sau nầy sẽ vượt mặt
thầy dạy. Vị danh sư nghe tin lời siểm nịnh đã nghĩ ra cách
trừ hậu hoạn với việc dạy Ahimsa học tiên thuật mà qua đó
cần một tràng chuỗi kết bằng xương lóng tay của 1000 người
phải do chính Ahim sát hại. Quá tin ở vị thầy, Ahimsa không
lâu sau đó trở thành người cuồng sát với quyết tâm luyện
thành pháp thuật. Người ta gọi Ahimsa bằng hổn danh
Aṅgulimāla nghĩa là người đeo tràng chuỗi bằng ngón tay.
Đức Phật với Phật nhãn biết Ahimsa có đủ tiềm chất giác ngộ
và Ngài đã đến gặp kẻ cuồng sát nầy. Đoạn kinh sau đây kể lại chuyện Đức Phật khai thị Ahimsa
Một thời Thế Tôn trú tại Sāvatthi, Jetavana, ở tinh xá ông
Anthapindika (Cấp cô độc). Lúc bấy giờ, trong lãnh thổ của
quốc vương Pasenadi (Ba-tư-nặc), nước Kosala, có tên cướp
Angulimala một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn, không
có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Vì nó, các làng trở thành
không làng, các thị trấn trở thành không thị trấn, quốc độ
trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người, nó mang
một vòng hoa làm bằng ngón tay người.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào Sāvatthi để
khất thực. Sau khi khất thực ở Sāvatthi, ăn xong, dọn dẹp
sàng tọa, cầm y bát, Ngài quay trở về và đi trên con đường
dẫn đến tên cướp Angulimala. Các người chăn bò, các người
chăn thú, các người làm ruộng, các người bộ hành thấy Thế
Tôn đang đi trên con đường dẫn đến tên cướp Angulimala, thấy
vậy liền bạch Thế Tôn: “Thưa Sa-môn, chớ có đi trên con
đường này. Thưa Sa-môn, trên con đường này có tên cướp
Angulimala, là một thợ săn, tay vấy máu, sát hại, bạo tàn,
không có lòng từ mẫn đối với chúng sanh. Vì nó, các làng trở
thành không làng, các thị trấn trở thành không thị trấn, các
quốc độ trở thành không quốc độ. Do nó luôn luôn giết người,
nó mang một vòng hoa làm bằng ngón tay người. Thưa Sa-môn,
trên đường này, có mười người, hai mươi người, ba mươi
người, bốn mươi người tụ họp lại, tụ họp lại rồi cùng đi.
Tuy vậy, họ vẫn rơi vào tay của tên cướp Angulimala”. Ðược
nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi.
Lần thứ hai, các người chăn bò, các người chăn thú, các
người làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: “Thưa
Sa-môn, chớ có đi con đường ấy … rơi vào tay của tên cướp
Angulimala”. Lần thứ hai, Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục
đi.
Lần thứ ba, các người chăn bò, các người chăn thú, các người
làm ruộng, các người đi đường bạch Thế Tôn: “Thưa Sa-môn,
chớ có đi con đường ấy … rơi vào tay của tên cướp
Angulimala”. Thế Tôn giữ im lặng, vẫn tiếp tục đi.
Tên cướp
Angulimala thấy Thế Tôn từ xa đi lại, sau khi thấy liền
nghĩ: “Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Con đường này,
cho đến mười người, hai mươi người, ba mươi người, bốn mươi
người, năm mươi người tụ họp lại, tụ họp lại rồi cùng đi;
tuy vậy, chúng vẫn rơi vào tay của ta. Nay người Sa-môn này,
chỉ có một mình, không có người thứ hai, lại đi đến, hình
như do một sức mạnh gì? Vậy ta giết hại mạng sống của người
Sa-môn này! ” Rồi tên cướp Angulimala lấy kiếm và tấm khiên,
đeo cung và tên vào, và đi theo sau lưng Thế Tôn.
Hình 51
Rồi Thế Tôn hiện thần thông lực một cách làm cho tên cướp
Angulimala, dầu cho đi với tất cả tốc lực của nó cũng không
có thể bắt kịp Thế Tôn đang đi với tốc lực bình thường. Rồi
tên cướp Angulimala suy nghĩ: “Thật vi diệu thay! Thật hy
hữu thay! Ta trước đây đuổi theo con voi đang chạy và bắt
kịp nó, đuổi theo con ngựa đang chạy và bắt kịp nó, đuổi
theo chiếc xe đang chạy và bắt kịp nó, đuổi theo con nai
đang chạy và bắt kịp nó. Nay dẫu ta đi với tất cả tốc lực
của ta cũng không thể bắt kịp Sa-môn này đang đi với tốc lực
bình thường”. Nó thưa với Thế Tôn
—Hãy đứng lại, Sa-môn! Hãy đứng lại, Sa-môn!
—Ta đã đứng rồi, này Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại!
Rồi tên cướp Angulimala suy nghĩ: “Những Sa-môn Thích Tử này
là những người nói sự thật và chấp nhận sự thật. Và Sa-môn
này dẫu cho đang đi lại nói: “Ta đã đứng rồi, này
Angulimala! Và ngươi hãy đứng lại”. Vậy ta hãy hỏi vị Sa-môn
này”. Rồi tên cướp Angulimala với bài kệ nói với Thế Tôn
—Người đi lại nói: “Ta đã đứng rồi”,
Nói xong tên cướp liền quăng bỏ kiếm, quăng bỏ khí giới
xuống vực thâm sâu đảnh lễ dưới chân Thiện Thệ, ngay tại chỗ
ấy, xin được xuất gia.
Ðức Phật từ bi, bậc Ðại Tiên Nhân, Ðạo Sư Nhân giới, cùng
với Thiên giới, Ngài đã trả lời: “Thiện lai Tỷ-kheo”. Pháp
tánh Tỷ-kheo được Ngài xác chứng.
Trích Trung Bộ, kinh 86 Bản dịch của Hoà Thượng Thích Minh
Châu
Khai thị cho người tuyệt vọng
Những người mang tâm trạng tuyệt vọng thường khó tiếp nhận ánh
sáng của chánh pháp.
Có những
hoàn cảnh mà con người dùng có nhiêu quyền lực hay tiền bạc
cũng không thể làm gì khác như cái chết của một người thân
yêu trong đời. Khi bất lực hoàn toàn nhiều người hoá thành
tuyệt vọng và hoàn toàn không thể tiếp nhận bất cứ lời
khuyên can nào.
Kisāgotamī là một người mẹ tuyệt vọng khi đứa con yếu dấu bị
bạo bệnh chết đi.
Với nàng, đứa con là tất cả. Nhờ đứa con mà nàng được nhà
chồng đối xử tốt hơn so với khi mới về làm dâu. Nhờ đứa con
mà nàng tìm thấy lẽ sống giữa đời sống tẻ nhạt bên nhà
chồng. Nhờ đứa con mà nàng thấy mình tìm được địa vị quan
trọng trong ánh mắt người chung quanh. Cái chết bất ngờ của
đứa con trai duy nhất khiến nàng thấy cả bầu trời sụp đổ.
Nàng không muốn tin mình đã vĩnh viễn mất con. Nàng từ chối
không cho ai chôn cất thi thể hài nhi mà nàng bồng xác con
trai đi khắp nơi tìm danh y cứu sống con mình. Không ai cứu
được một bé trai đã chết. Một lương y thương xót nàng chỉ
điểm hãy đến Kỳ Viên Tịnh Xá cầu Phật giúp đỡ.
Nghe lời chỉ dẫn như tìm thấy ánh sáng le lói sau
cùng trong cơn tuyệt vọng Kisā Gotamī tìm đến Đức Phật với
lời cầu khẩn: 'Hãy cho con trai của con thuốc'. Bậc Ðạo Sư thấy được hy
vọng tu chứng nơi nàng bèn nói: 'Hãy đi đến nhà nào không có
người chết, và đem lại một hột cải!'
Nàng vâng lời, đi vào nhà đầu tiên và yêu cầu như vậy, nhưng
bị từ chối, vì trong nhà có người chết. Nàng đi vào nhiều
nhà khác, được trả lời như vậy và nàng nghĩ: 'Ðây có thể là
bậc Ðạo Sư dạy khéo cho ta', nên nàng đem
đặt con nàng ở nghĩa địa và nói:
Hình 59
Pháp này không riêng làng,
Rồi nàng đi đến bậc Ðạo Sư, và khi ngài hỏi có tìm được hột
cải không, nàng trả lời: 'Việc làm đã làm xong về hột cải.
Hãy xác nhận cho con'.
Thế Tôn nói:
Tâm còn bị đắm say,
Khi đức Phật nói xong, nàng chứng được Sơ quả (quả Dự lưu) và
xin được xuất gia. Ðức Phật chấp nhận và nàng được các
Tỷ-kheo-ni cho thọ giới. Sau đó, không bao lâu nàng nghiên
cứu về nguyên nhân của sự vật và khiến thiền quán tăng
trưởng. Rồi bậc Ðạo Sư nói lên bài kệ:
Người sống một trăm năm,
Trích Trưởng Lão Ni Kệ kinh 143. Bản dịch của HT Thích Minh
Châu
Thuyết pháp cho người mang nặng tín ngưỡng dân gian
Có một
thứ tôn giáo rất phổ biến dù ít khi có cơ sở hay giới tu sĩ
đó là tín ngưỡng dân gian.
Từ những quan niệm rất bản năng của con người như sợ hãi
trước thiên nhiên hay đối diện với những điều vượt tầm hiểu
biết người ta thường tự tạo ra linh thần rồi cầu nguyện khấn
vái mong được ban phước tha tội. Những niềm tin nầy ăn sâu
vào tâm khảm của con người trong nhiều nền văn hoá thậm chí
kể cả trong các tôn giáo chính thống.
Thôn
trưởng Asibandhakaputta có lần gặp Đức Phật bạch hỏi về sự
cúng tế cầu siêu cho người đã chết .
Vị nầy đã nêu lên nghi vấn trong lòng: Bạch Thế Tôn, Những
người thờ lửa đối với người trực vãng tây phương (người đã
chết), đã mệnh chung các vị Bà-la-môn
mang theo bình nước, đeo vòng hoa huệ (sevàla), nhờ
nước được thanh tịnh, họ nhắc bổng thi hài và mang vị ấy ra
ngoài (uyyàpenti), kêu tên vị ấy lên, và dẫn vị ấy vào Thiên
giới. Còn Thế Tôn, bạch Thế Tôn, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác, Thế Tôn có thể làm như thế nào cho toàn thể thế giới,
sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên
giới, cõi đời này?
Hình 52
Đức Phật đã trả lời bằng những câu hỏi mà qua đó
Ngài dạy về lý nhân quả.
“—Vậy, này Thôn trưởng, ở đây, Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham
nhẫn hãy trả lời.
Này Thôn trưởng, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, một người sát
sanh, lấy của không cho, sống theo tà hạnh trong các dục,
nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm,
tham lam, sân hận, theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông
đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi
cùng khắp và nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại
mạng chung, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời
này!” Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân
cầu khẩn của đại quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay
do nhân chấp tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung,
người ấy được sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Thôn trưởng, có người lấy một tảng đá lớn ném
xuống một hồ nước sâu. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập,
tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và
nói rằng: “Hãy đứng lên, tảng đá lớn! Hãy nổi lên, tảng đá
lớn! Hãy trôi vào bờ, này tảng đá lớn!” Ông nghĩ thế nào,
này Thôn trưởng, tảng đá lớn ấy do nhân cầu khẩn của đại
quần chúng ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp tay
đi cùng khắp, có thể trồi lên, hay nổi lên, hay trôi dạt vào
bờ không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Thôn trưởng, người nào sát sanh, lấy của
không cho, sống theo tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai
lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, tham lam, sân hận,
theo tà kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp
lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói rằng:
“Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên
thiện thú, Thiên giới, cõi đời này!” Nhưng người ấy, sau khi
thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ,
địa ngục.
Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng? Ở đây, có người từ bỏ sát
sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các
dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc
ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham, không có sân
hận, có chánh tri kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập,
tụ họp lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và
nói rằng: “Mong người này, sau khi thân hoại mạng chung,
được sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Ông nghĩ
thế nào, này Thôn trưởng, người ấy do nhân cầu khẩn của quần
chúng đông đảo ấy, hay do nhân tán dương, hay do nhân chấp
tay đi cùng khắp, sau khi thân hoại mạng chung, có thể sanh
vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Ví như, này Thôn trưởng, có người nhận chìm một ghè sữa
đông (sappi) hay một ghè dầu vào trong một hồ nước sâu rồi
đập bể ghè ấy. Ở đây, ghè ấy trở thành từng miếng vụn, hay
từng mảnh vụn và chìm xuống nước. Còn sữa đông hay dầu thời
nổi lên trên. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp
lại, cầu khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Hãy
chìm xuống, này sữa đông và dầu! Hãy chìm sâu xuống, này sữa
đông và dầu. Hãy chìm xuống tận đáy, này sữa đông và dầu!”.
Ông nghĩ thế nào, này Thôn trưởng, sữa đông ấy, dầu ấy, có
do nhân cầu khẩn của đám quần chúng đông đảo ấy, do nhân tán
dương, do nhân chấp tay đi cùng khắp của quần chúng đông đảo
ấy nên bị chìm xuống, hay chìm sâu xuống, hay đi xuống tận
đáy không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Cũng vậy, này Thôn trưởng, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ
lấy của không cho, từ bỏ sống tà hạnh trong các dục, từ bỏ
nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói
lời phù phiếm, không có tham, không có sân, theo chánh tri
kiến. Rồi một quần chúng đông đảo, tụ tập, tụ họp lại, cầu
khẩn, tán dương, chấp tay đi cùng khắp và nói: “Mong rằng
người này, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ sanh vào cõi dữ,
ác thú, đọa xứ, địa ngục!” Nhưng người ấy sau khi thân hoại
mạng chung, sẽ sanh lên thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.
Khi nghe nói vậy, thôn trưởng Asibandhakaputta bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! Thật là vi diệu, bạch Thế
Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ bị
lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có
mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn
dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn,
con nay xin quy y Phật, Pháp và chúng Tăng. Mong Thế Tôn
nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay trở đi cho đến mạng chung,
con trọn đời quy ngưỡng!
Trích Tương Ưng Bộ 42.6. Kinh Người Ðất Phương Tây hay Người Ðã Chết. HT
Thích Minh Châu dịch Việt.
Điều đã nói và
điều sắp nói: Bài
đã học: Bài 14. GIÁO HOÁ VỚI NHIỀU PHƯƠNG TIỆN (III)
(Còn tiếp)
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |