BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 23 tháng 11, 2021

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,63)

@@@

Bài 7. Kinh Nanda (Nandasuttaṃ)

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,62)

Nội dung giống với Kinh Thời Gian Trôi Qua (Accentisuttaṃ)

(S.i,2) (S.i,3) (CHƯƠNG 1. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM CÂY LAU)

Bài 8. Kinh Nandivisāla (Nandivisālasuttaṃ)

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,63)

Nội dung giống với  Kinh Bốn Bánh Xe (Catucakkasuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM (S.i.16)

@@@

Bài 9. Kinh Susima (Susimasuttaṃ) -MỘT NGƯỜI MÀ ĐẤNG ĐẠO SƯ, PHÁP LỮ, CHƯ THIÊN ĐỀU HẾT LỜI TÁN THÁN

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Tôn giả Sāriputta là bậc trí đức kiêm ưu. Ngài là bậc thượng thủ thinh văn đệ nhất trí tuệ của Đức Phật. Không phải chỉ được biết với trí tuệ mà còn qua tư cách ứng xử. Trong tất cả mọi trường hợp Ngài đều thể hiện tánh hạnh cao cả của một bậc long tượng với tất cả sự khiêm cung. Là một bậc thầy của nhiều thế hệ không phải chỉ riêng tri kiến thù diệu mà còn để lại những gương sáng cho đạo, cho đời. Rất ít cá nhân trong cuộc đời  được một pháp lữ đa văn quảng kiến như Tôn giả Ananda không tiếc lời ca ngợi. Chẳng những vậy mà thiên chúng các cõi trời cũng một lòng kính ngưỡng. Và có lẽ khó tưởng tượng được một người học trò được bậc đạo sư, chính là Đức Phật, ca ngợi với những mỹ từ đẹp nhất có thế có đối với trí tuệ và nhân cách của một người từng có mặt trên thế gian nầy.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthinidānaṃ.

1) Nhân duyên ở Sāvatthī.

Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinnaṃ kho āyasmantaṃ ānandaṃ bhagavā etadavoca –

2) Rồi Ðại đức Ānanda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Ðại đức Ānanda đang ngồi một bên:

‘‘tuyhampi no, ānanda, sāriputto ruccatī’’ti?

-- Này Ānanda, Ông có hoan hỷ đối với Sāriputta không?

‘‘Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya? Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto. Mahāpañño, bhante, āyasmā sāriputto. Puthupañño, bhante, āyasmā sāriputto. Hāsapañño [hāsupañño (sī.)], bhante, āyasmā sāriputto. Javanapañño, bhante, āyasmā sāriputto. Tikkhapañño, bhante, āyasmā sāriputto. Nibbedhikapañño, bhante, āyasmā sāriputto. Appiccho, bhante, āyasmā sāriputto. Santuṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto. Pavivitto, bhante, āyasmā sāriputto. Asaṃsaṭṭho, bhante, āyasmā sāriputto. Āraddhavīriyo, bhante, āyasmā sāriputto. Vattā, bhante, āyasmā sāriputto. Vacanakkhamo, bhante, āyasmā sāriputto. Codako, bhante, āyasmā sāriputto. Pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto.

3) -- Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta? Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quảng tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, hỷ tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tiệp tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, lợi tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, quyết trạch tuệ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ít dục là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biết đủ là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, viễn ly là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, bất cộng trú là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, tinh cần, tinh tấn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, biện tài là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, nghe lời trung ngôn là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, cáo tội trung thực là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta.

Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā’’ti?

Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?

‘‘Evametaṃ, ānanda, evametaṃ, ānanda! Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyya? Paṇḍito, ānanda, sāriputto. Mahāpañño, ānanda, sāriputto. Puthupañño, ānanda, sāriputto. Hāsapañño, ānanda, sāriputto. Javanapañño, ānanda, sāriputto. Tikkhapañño, ānanda, sāriputto. Nibbedhikapañño, ānanda, sāriputto. Appiccho, ānanda, sāriputto. Santuṭṭho, ānanda, sāriputto. Pavivitto, ānanda, sāriputto. Asaṃsaṭṭho, ānanda, sāriputto. Āraddhavīriyo, ānanda, sāriputto. Vattā, ānanda, sāriputto. Vacanakkhamo, ānanda, sāriputto. Codako, ānanda, sāriputto. Pāpagarahī, ānanda, sāriputto. Kassa hi nāma, ānanda, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa sāriputto na rucceyyā’’ti?

4) -- Như vậy là phải, này Ananda. Như vậy là phải, này Ananda. Này Ananda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta? Này Ānanda, hiền trí là Sāriputta. Này Ānanda, đại tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quảng tuệ là Sàriputta. Này Ānanda, hỷ tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, tiệp tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, lợi tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, quyết trạch tuệ là Sāriputta. Này Ānanda, ít dục là Sāriputta. Này Ānanda, biết đủ là Sāriputta. Này Ānanda, viễn ly là Sāriputta. Này Ānanda, bất cọng trú là Sāriputta. Này Ānanda, biện tài là Sāriputta. Này Ānanda, nghe lời trung ngôn là Sāriputta. Này Ānanda, cáo tội trung thực là Sāriputta. Này Ānanda, chỉ trích ác pháp là Sāriputta. Này Ānanda, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm, lại có thể không hoan hỷ đối với Sāriputta?

Atha kho susimo [susīmo (sī.)] devaputto āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne mahatiyā devaputtaparisāya parivuto yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi.

5) Rồi Thiên tử Susima, trong khi được nghe lời tán thán về Tôn giả Sāriputta, với đại chúng Thiên tử đoanh vây, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Ekamantaṃ ṭhito kho susimo devaputto bhagavantaṃ etadavoca –

6) Ðứng một bên, Thiên tử Susima bạch Thế Tôn:

‘‘Evametaṃ, bhagavā, evametaṃ, sugata. Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya? Paṇḍito, bhante, āyasmā sāriputto. Mahāpañño, bhante, puthupañño, bhante, hāsapañño, bhante, javanapañño, bhante, tikkhapañño, bhante, nibbedhikapañño, bhante, appiccho, bhante, santuṭṭho, bhante, pavivitto, bhante, asaṃsaṭṭho, bhante, āraddhavīriyo, bhante, vattā, bhante, vacanakkhamo, bhante, codako, bhante, pāpagarahī, bhante, āyasmā sāriputto. Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyya?

-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn. Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?. Bạch Thế Tôn, hiền trí là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, đại tuệ là Tôn giả Sāriputta...... Bạch Thế Tôn, chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Bạch Thế Tôn, ai là người không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?

‘‘Ahampi hi, bhante, yaññadeva devaputtaparisaṃ upasaṅkamiṃ, etadeva bahulaṃ saddaṃ suṇāmi – ‘paṇḍito āyasmā sāriputto; mahāpañño āyasmā, puthupañño āyasmā, hāsapañño āyasmā, javanapañño āyasmā, tikkhapañño āyasmā, nibbedhikapañño āyasmā, appiccho āyasmā, santuṭṭho āyasmā, pavivitto āyasmā, asaṃsaṭṭho āyasmā, āraddhavīriyo āyasmā, vattā āyasmā, vacanakkhamo āyasmā, codako āyasmā, pāpagarahī āyasmā sāriputto’ti. Kassa hi nāma, bhante, abālassa aduṭṭhassa amūḷhassa avipallatthacittassa āyasmā sāriputto na rucceyyā’’ti?

Bạch Thế Tôn, con đi đến chúng Thiên tử nào, con đều được nghe nhiều lần tiếng nói như vậy: "Hiền trí là Tôn giả Sāriputta... ... chỉ trích ác pháp là Tôn giả Sāriputta. Ai không ngu si, không ác tâm, không si ám, không loạn tâm lại có thể không hoan hỷ đối với Tôn giả Sāriputta?"

Atha kho susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṃseti.

7) Rồi chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.

‘‘Seyyathāpi nāma maṇi veḷuriyo subho jātimā aṭṭhaṃso suparikammakato paṇḍukambale nikkhitto bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṃ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṃseti.

8) Ví như một hòn lưu ly bảo châu, đẹp đẽ, trong suốt, có tám mặt, khéo giũa, khéo mài, được đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sāriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.

‘‘Seyyathāpi nāma nikkhaṃ jambonadaṃ dakkhakammāraputtaukkāmukhasukusalasampahaṭṭhaṃ paṇḍukambale nikkhittaṃ bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṃ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṃseti.

9) Ví như một đồ trang sức bằng vàng mịn được một người thợ vàng thiện xảo, khéo đập, khéo mài, đặt trên một tấm màn màu vàng da cam, chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, Thiên tử chúng của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.

‘‘Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve rattiyā paccūsasamayaṃ osadhitārakā bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṃ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṃseti.

10) Ví như trong khi đêm đã gần sáng, sao mai chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima... ... và thân chói sáng màu sắc thù thắng.

‘‘Seyyathāpi nāma saradasamaye viddhe vigatavalāhake deve ādicco nabhaṃ abbhussakkamāno [abbhussukkamāno (sī. syā. kaṃ. pī.), abbhuggamamāno (dī. ni. 2.258)] sabbaṃ ākāsagataṃ tamagataṃ abhivihacca bhāsate ca tapate ca virocati ca; evamevaṃ susimassa devaputtassa devaputtaparisā āyasmato sāriputtassa vaṇṇe bhaññamāne attamanā pamuditā pītisomanassajātā uccāvacā vaṇṇanibhā upadaṃseti.

11) Ví như trong mùa thu, trên trời các vòng mây đã được bay sạch, mặt trời mọc lên giữa trời, đánh tan màn đêm, khắp giữa hư không chói sáng, chiếu sáng và bừng sáng. Cũng vậy, chúng Thiên tử của Thiên tử Susima, trong khi những lời tán thán Tôn giả Sàriputta được lớn tiếng nói lên, họ hoan hỷ, hỷ duyệt, hân hoan và thân chói sáng màu sắc thù thắng.

Atha kho susimo devaputto āyasmantaṃ sāriputtaṃ ārabbha bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

12) Rồi Thiên tử Susima, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Sāriputta:

‘‘Paṇḍitoti samaññāto, sāriputto akodhano;

Appiccho sorato danto, satthuvaṇṇābhato isī’’ti.

Ngài Sāriputta,
Ðược mọi người xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Ðược Ðạo Sư tán thán.

Hiệu đính

Ngài Sāriputta
Được biết là Trí giả
Thiểu dục, tánh hoà nhã
Nhẹ nhàng, khéo tự chế
Được Đạo Sư tán thán

Atha kho bhagavā āyasmantaṃ sāriputtaṃ ārabbha susimaṃ devaputtaṃ gāthāya paccabhāsi –

13) Rồi Thế Tôn nói lên bài kệ về Sāriputta cho Thiên tử Susima:

‘‘Paṇḍitoti samaññāto, sāriputto akodhano;

Appiccho sorato danto, kālaṃ kaṅkhati sudanto’’ [kālaṃ kaṅkhati bhatako sudanto (sī.), kālaṃ kaṅkhati bhāvito sudanto (syā. kaṃ.), kālaṃ kaṅkhati bhatiko sudanto (pī.)] ti.

Về Sāriputta,
Mọi người đều xác nhận,
Là bậc Ðại hiền trí,
Không phẫn hận, ít dục,
Nhu thuận và điều phục,
Như người khéo điều phục,
Chờ đợi thời giờ đến,
Ðể hưởng quả thuần thục.

Hiệu đính

Thầy Sāriputta
Được biết là Trí giả
Thiểu dục, tánh hoà nhã
Nhẹ nhàng, khéo tự chế
An nhiên giòng thời gian.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Paṇḍitoti samaññāto = Vị ấy được nhận biết là bậc trí
sāriputto akodhano = Sāriputta người hoà nhã
Appiccho sorato danto = thiểu dục, nhẹ nhàng, nhu thuận.
satthuvaṇṇābhato isī’’ti = Bậc ẩn sĩ đưọc Đạo Sư tán thán
kālaṃ kaṅkhati sudanto = An nhiên giòng thời gian

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ Giải thì sở dĩ Đức Phật hỏi Tôn giả Ananda về Tôn giả Sāriputta vì biết cả hai là bạn thâm giao và kính trọng nhau về trí tuệ và tánh hạnh. Và Đức Phật cũng biết rõ Tôn giả Ananda sẽ có lời tán thán xứng đáng với Tôn giả Sāriputta.

Theo Sớ giải những lời tán thán mang ý nghĩa đặc trưng. Gọi là Trí giả - Paṇḍita – vì thiện xảo đối với các nguyên tố hay giới; đối với sự hoạt dụng của các căn; đối với duyên khởi; đối với những gì có thể và những gì không thể.  Gọi là bậc Đại Tuệ  - mahāpañña- vì thấu triệt và viên mãn giới, định, tuệ, tâm giải thoát và tuệ giải thoát; cũng là bậc thiệt xảo trong sự tu tập 37 pháp trợ bồ đề. Gọi là bậc Quảng Tuệ - puthupañña – vì liễu tri uẩn, xứ, giới, đế. Gọi là bậc Hỷ Tuệ - hāsapaṇṇa – vì hành trình trên đạo lộ giải thoát với pháp hỷ, khinh an, và tịnh lạc. Gọi bậc Tốc Trí – javanapañña – vì quán triệt các pháp nhậm lẹ. Gọi là bậc Tiệp Tuệ - tikkapañña – vì đoạn trừ các kiết sử nhanh chóng khi chứng đắc. Gọi là bậc Quyết Trạch Tuệ - nibbedhikapañña – vì sắc bén phân biệt đối với thiện và bất thiện. Tất cả những lời tán thán của Tôn giả Ananda cũng được Đức Phật dùng để khen ngọi Tôn giả Sāriputta được ghi nhận trong một số kinh văn khác.

Theo Sớ giải, thiên tử Susīma trước khi sanh thiên cũng là một tỳ kheo học trò của Tôn giả Sāriputta. Và cũng ghi nhận thêm là sau khi Đức Thế Tôn và Tôn giả Ananda cất là tán thán thì vô số chư thiên ở nhiều thế giới cũng đồng ca ngợi.

Câu Phật ngôn cuối cùng: kālaṃ kaṅkhati sudanto rất khó dịch trong một câu năm chữ ở đây chỉ cho thần thái một bậc đã kinh qua hành trình vĩ đại, thành tựu tuệ giác siêu việt, với hạnh đức cao quý ít người sánh được sống an nhiên trước viên tịch niết bàn. Ngài không tham cầu sự sống cũng không tha thiết với sự viên tịch. Tất cả chỉ là thái độ tự tại trước giòng chảy của thời gian.


@@@

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng

-ooOoo-