BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 24 tháng 11, 2021

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM CÁC NGOẠI ĐẠO (S.i,65)

@@@

Bài 10. Kinh Nānātitthiyasāvaka (Nānātitthiyasāvakasuttaṃ) -BIẾT CÁI TỐT CỦA NHAU ĐÃ KHÓ, HIỂU PHẬT CÀNG KHÓ HƠN

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Đây là bài kinh không dễ để hiểu. Có những con người ở nhân gian biết làm thiện nhưng đặt lòng tin ở ngoại đạo tà giáo. Sau khi chết, nhờ thiện nghiệp đã làm nhưng sanh thiên. Dù vậy sự sùng bái đối với các vị thầy ở nhân gian vẫn không thay đổi. Một số các vị thiên nầy vẫn biết đến diện kiến và đảnh lễ Phật nhưng nói lên lời tán thán đối với với các giáo chủ ngoại đạo. Đức Phật chỉ lắng nghe mà không trả lời. Rồi Ác Ma nhập vào một vị thiên nói lên điều sai quấy trước Đấng Thiên Nhân Sư. Bấy giờ thì Đức Phật lên tiếng nghiêm huấn ác ma. Cuối cùng có một vị thiên hiểu được giá trị thật sự của Phật Bảo đã nói lên lời xưng tán.

Bài kinh cũng cho biết một số giáo thuyết ngoại đạo thịnh hành thời Đức Phật. (Xem phụ chú trong phần thích nghĩa)

Điểm thú vị là vì chuyện đã xẩy ra nên Tôn giả Ananda kết tập vào Kinh Điển. Nếu là sự lựa chọn bình thường thì những bài kinh mang nội dung đã không được ghi lại. Điều nầy nói lên giá trị của sự trung thực của kinh điển Nguyên Thuỷ.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ –

1) Như vầy tôi nghe.

ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.

Một thời Thế Tôn ở thành Vương Xá, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Atha kho sambahulā nānātitthiyasāvakā devaputtā asamo ca sahali [sahalī (sī. syā. kaṃ. pī.)] ca nīko [niṅko (sī. pī.), niko (syā. kaṃ.)] ca ākoṭako ca vegabbhari ca [veṭambarī ca (sī. syā. kaṃ. pī.)] māṇavagāmiyo ca abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇā kevalakappaṃ veḷuvanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkamiṃsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhaṃsu.

2) Rồi rất đông Thiên tử, là đệ tử của nhiều ngoại đạo sư Asama, Sahalī, Ninka, Akotaka, Vetambarī và Mānava Gāmiya, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Hiệu đính:

2) Rồi rất đông Thiên tử trong đó có Asama, Sahalī, Ninka, Akotaka, Vetambarī và Mānava Gāmiya nguyên là đệ tử của nhiều ngoại đạo sư , khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.

Ekamantaṃ ṭhito kho asamo devaputto pūraṇaṃ kassapaṃ ārabbha bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

3) Ðứng một bên, Thiên tử Asama nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Pūrana Kassapa:

‘‘Idha chinditamārite, hatajānīsu kassapo;
Na pāpaṃ samanupassati, puññaṃ vā pana attano;
Sa ve vissāsamācikkhi, satthā arahati mānana’’nti.

Ở đây nếu có người,
Chém giết hay hại người,
Kassapa không thấy,
Qua các hành động ấy,
Là ác nghiệp cho mình,
Hay công đức cho mình.
Ngài tuyên bố như vậy,
Làm căn bản đức tin,
Ngài thật bậc Ðạo sư,
Ðáng được tôn kính, lễ.

Bản hiệu đính

Ở đây sự giết chóc,
Đả thương, hay làm hại
Đối với Kassapa
Không xem là có tội
Hoặc phước cho bản thân
Dạy điều đáng tin tưởng
Vị ấy là đạo sư
Đáng tôn kính đảnh lễ

Atha kho sahali devaputto makkhaliṃ gosālaṃ ārabbha bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

4) Rồi Thiên tử Sahali nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Makkhali Gosāla:

‘‘Tapojigucchāya susaṃvutatto,
Vācaṃ pahāya kalahaṃ janena;
Samosavajjā virato saccavādī,
Na hi nūna tādisaṃ karoti [na ha nuna tādī pakaroti (sī. syā. kaṃ.)] pāpa’’nti.

Khổ hạnh và yếm ly,
Khéo điều phục, tự chế,
Từ bỏ các lời nói,
Gây đấu tranh với người,
Thăng bằng, tránh phạm tội,
Nói những lời thực ngữ,
Ngài không bao giờ làm,
Các tội phạm như vậy.

Bản hiệu đính

Khổ hạnh và kỷ tính
Sống hoàn toàn tự chế
Không gây gổ với ai
Nói thật, không nói dối
Vị ấy không bao giờ
Làm những điều sai quấy

Atha kho nīko devaputto nigaṇṭhaṃ nāṭaputtaṃ [nāthaputtaṃ (sī.)] ārabbha bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

5) Rồi Thiên tử Ninka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Nigantha Nātaputta:

‘‘Jegucchī nipako bhikkhu, cātuyāmasusaṃvuto;
Diṭṭhaṃ sutañca ācikkhaṃ, na hi nūna kibbisī siyā’’ti.

Vị Tỷ-kheo yếm ly,
Sáng suốt theo tế hạnh,
Khéo theo bốn tự chế,
Chỉ nói điều nghe thấy,
Không phạm điều lỗi lầm.

Bản hiệu đính

Tu sĩ sống nghiêm cẩn
Tự chế với bốn pháp
Chỉ nói điều thấy, nghe
Là bậc vô khuyết phạm

Atha kho ākoṭako devaputto nānātitthiye ārabbha bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

6) Rồi Thiên tử Akotaka nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về các ngoại đạo sư:

‘‘Pakudhako kātiyāno nigaṇṭho, Ye cāpime makkhalipūraṇāse;
Gaṇassa satthāro sāmaññappattā, Na hi nūna te sappurisehi dūre’’ti.

Các ngoại đạo sư này,
Như Pakudhaka,
Và Kātiyāna,
Cùng với Nigantha,
Kể cả Makkhali,
Và cả Purana,
Mỗi vị là Ðạo sư,
Chúng đệ tử của mình,
Ðã đạt Sa-môn quả,
Không xa bậc Chân nhân.

Bản hiệu đính

Những bậc đạo sư nầy
Gồm Pakudhaka,
Với Kātiyāna,
Kể luôn Nigantha,
Cùng với Makkhali,
Và cả Purana,
Có đồ chúng riêng mình
Thành tựu sa môn hạnh
Có khác gì Chân Nhân

Atha kho vegabbhari devaputto ākoṭakaṃ devaputtaṃ gāthāya paccabhāsi –

7) Rồi Thiên tử Vetambarī nói lên bài kệ này với Thiên tử Akotaka:

‘‘Sahācaritena [sahāravenāpi (ka. sī.), sagāravenāpi (pī.)] chavo sigālo [siṅgālo (ka.)],
Na kotthuko sīhasamo kadāci;
Naggo musāvādī gaṇassa satthā,
Saṅkassarācāro na sataṃ sarikkho’’ti.

Con giả can ghê tởm,
Có tru sủa thế nào,
Làm sao sánh bằng được,
Tiếng rống con sư tử.
Lõa thể, nói vọng ngôn,
Lãnh đạo môn đồ chúng,
Làm các hạnh tà vạy,
Làm sao sanh thiện nhân?

Bản hiệu đính

Loài giả can gớm ghiếc
Có tru sủa thế nào
Không sánh sư tử hống
Loã thể, nói vọng ngữ
Hành vi đáng nghi ngờ
Sao lại giống Chân Nhân?

Atha kho māro pāpimā begabbhariṃ devaputtaṃ anvāvisitvā bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi

8) Rồi Ác ma nhập vào Thiên tử Vetambarī nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

‘‘Tapojigucchāya āyuttā, pālayaṃ pavivekiyaṃ;
Rūpe ca ye niviṭṭhāse, devalokābhinandino;
Te ve sammānusāsanti, paralokāya mātiyā’’ti.

Tu khổ hạnh yếm ly,
Sống viễn ly hành xác,
Ðắm say trong sắc pháp,
Hoan lạc, mê Thiên giới.
Dầu họ bị tử vong,
Chắc chắn họ giảng dạy,
Hướng dẫn thật chơn chánh,
Ðưa đến đời về sau.

Bản hiệu đính

Người khổ hạnh thúc liễm
Giữ gìn hạnh độc cư
Bám chặt với sắc tướng
Hoan hỷ với thiên giới
Họ giảng đúng chánh pháp
Về cánh giới tái sanh

Atha kho bhagavā, ‘māro ayaṃ pāpimā’ iti viditvā, māraṃ pāpimantaṃ gāthāya paccabhāsi –

9) Rồi Thế Tôn biết được chính là Ác ma, liền nói lên bài kệ cho Ác ma:

‘‘Ye keci rūpā idha vā huraṃ vā,
Ye cantalikkhasmiṃ pabhāsavaṇṇā;
Sabbeva te te namucippasatthā,
Āmisaṃva macchānaṃ vadhāya khittā’’ti.

Phàm những sắc pháp gì,
Ðời này hay đời sau,
Với màu sắc thù diệu,
Chói sáng giữa hư không,
Tất cả những sắc ấy,
Ðược Ma vương tán thán,
Chúng chỉ là bẫy mồi,
Quăng ra để diệt cá.

Bản hiệu đính

Những sắc tướng trên đời
Kiếp nầy hay kiếp sau
Chói sáng giữa thái không
Namuci ca ngợi
Thật ra như miếng mồi
Quăng ra để bắt cá

Atha kho māṇavagāmiyo devaputto bhagavantaṃ ārabbha bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi –

10) Rồi Thiên tử Mānava Gāmiya nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn về Thế Tôn:

‘‘Vipulo rājagahīyānaṃ, giriseṭṭho pavuccati;
Seto himavataṃ seṭṭho, ādicco aghagāminaṃ.
‘‘Samuddo udadhinaṃ seṭṭho, nakkhattānañca candimā
Sadevakassa lokassa, buddho aggo pavuccatī’’ti.

Trong tất cả ngọn núi,
Ở tại Vương Xá thành,
Ngọn núi Vipula,
Ðược gọi là tối thắng.
Trong dãy núi Tuyết Sơn,
Ngọn Bạch Sơn tối thắng.
Giữa các loại không hành,
Mặt trời là tối thắng.
Giữa các loại thủy lộ,
Ðại dương là tối thắng.
Trong các loài tinh tú,
Mặt trăng là tối thắng.
Giữa Thiên giới, địa giới,
Phật được gọi tối thượng.

Bản hiệu đính:

Núi đồi quanh Vương xá
Vipulla là nhất
Trong rặng núi Tuyết Sơn
Ngọn Seta tối thắng
Vận hành giữa thái không
Mặt nhật là sáng nhất
So tất cả khối nước
Đại dương là đệ nhất
Ánh sáng lúc đêm về
Mặt trăng là tỏ nhất
Giữa thế giới nhân thiên
Phật Đà là tối thượng

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Ye keci rūpā idha vā huraṃ vā = phàm những sắc tướng ở đây hay ở nơi nào khác
Ye cantalikkhasmiṃ pabhāsavaṇṇā = ngay cả những sắc rực rỡ giữa hư không
Sabbeva te te namucippasatthā = tất cả những gì người ca ngợi, Namuci
Āmisaṃva macchānaṃ vadhāya khittā’’ti. = nhưng miếng mồi quăng ra để bắt cá

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Namuci - thần chết, kể huỷ diệt – là từ Đức Phật dùng gọi ác ma.

Theo Sớ giải những thiên tử trong bài kinh nầy sanh ra do thiện nghiệp đã làm chứ không phải do hành trì theo những giáo chủ mà họ ca ngợi. Tương tự nhưng có những người hâm mộ ai đó nhưng không phải là sống theo người mình hâm mộ.

Về ba vị giáo chủ ngoại đạo được nêu lên trong bài kinh nầy có thể được biết thêm qua sự mô tả của vua Ajāsattu trong Kinh Sa Môn Quả, Trường Bộ:

 Pūranạ Kassapa với giáo thuyết vô hành (akiriyavāda)

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Pùrana Kassapa đã nói với con: "Này Ðại vương, tự làm hay khiến người làm, chém giết hay khiến người chém giết, đốt nấu hay khiến người đốt nấu, gây phiền muộn hay khiến người gây phiền muộn, gây áo não hay khiến người gây áo não, tự mình gây sợ hãi hay khiến người gây sợ hãi, sát sanh, lấy của không cho, phá cửa nhà mà vào, cướp bóc, đánh cướp một nhà lẻ loi, chận đường cướp giựt, tư thông vợ người, nói láo, hành động như vậy không có tội ác gì. Nếu lấy một bánh xe sắc bén giết hại tất cả chúng sanh trên cõi đất thành một đống thịt, thành một chồng chịt, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Nam sông Hằng giết hại, tàn sát, chém giết, khiến người chém giết, đốt nấu, khiến người đốt nấu, cũng không vì vậy mà có tội ác, mà gây ra tội ác. Nếu có người đi trên bờ phía Bắc sông Hằng bố thí, khiến người bố thí, tế lễ, khiến người tế lễ, cũng không vì vậy mà có phước báo".

 Makkhali Gosāla với giáo thuyết vô nhân kiến (ahetukavāda)

Bạch Thế Tôn, khi nghe nói vậy, Makkhali Gosàla đã nói với con: "Này Ðại vương, không có nhơn, không có duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình bị nhiễm ô. Không có nhân, không có duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh; vô nhân, vô duyên, các loài hữu tình được thanh tịnh. Không có tự tác, không có tha tác, không có nhân tác, không có lực, không có tinh tấn, không có nhân lực, không có sự cố gắng của người. Tất cả loài hữu tình, tất cả sanh vật, tất cả sinh loại, tất cả sinh mạng đều không tự tại, không lực, không tinh tấn. Chúng bị dắt dẫn, chi phối bởi định mệnh, bởi điều kiện bộ loại của chúng, bởi cá tánh của chúng. Chúng hưởng thọ khổ lạc, y theo sáu loại thác sanh của chúng. Có tất cả là một triệu bốn trăm ngàn chủng loại thác sanh, lại có thể sáu ngàn và có thêm sáu trăm nữa. Có năm trăm loại nghiệp và có năm nghiệp (theo năm căn), lại có ba nghiệp (về thân, khẩu, ý) lại có toàn nghiệp (thân và khẩu) và bán nghiệp (ý), có sáu mươi hai đạo, sau mươi hai trung kiếp, sáu giai cấp, tám nhân địa, bốn ngàn chín trăm sanh nghiệp, bốn ngàn chín trăm kẻ du hành, bốn ngàn chín trăm chỗ ở của loài Naga, hai nghìn căn, ba nghìn cảnh địa ngục, ba mươi sáu trần giới, bảy tưởng thai, bảy vô tưởng thai, bảy tiết thai (sanh từ đốt), bảy loài thiên, bảy loài người, bảy loài quỷ, bảy hồ nước, bảy pavutas (rừng hay hồ nhỏ) bảy trăm pavutas bảy vực thẳm, bảy trăm papatas (vực thẳm), bảy mộng, bảy trăm mộng, có tám trăm bốn mươi vạn đại kiếp, trong thời gian ấy kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau. Không có lời nguyện: với giới hạnh này, với kỷ luật này, với khổ hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ làm cho chín muồi những nghiệp chưa được thuần thục, hoặc trừ diệt những nghiệp đã thuần thục bởi những nhẫn thọ liên tục, không thể đo lường khổ và lạc với những vật đo lường, trong khi luân hồi không có giảm tăng, không có thặng dư, thiếu thốn. Ví như một cuộn chỉ được tung ra sẽ được kéo dài đến mức độ nào đó. Cũng như vậy, kẻ ngu và người hiền sau khi lưu chuyển luân hồi sẽ trừ tận khổ đau".

Niganṭḥa Nātaputta  với giáo thuyết về bốn giới cấm (cātuyāmasaṃvara)

Bạch Thế Tôn, khi được hỏi vậy, Nigantha Nàtaputta nói với con: "Này Ðại vương, một người Nigantha (Ni kiền tử) sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, thế nào là một người Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới? Này Ðại vương, một Nigantha sống gìn giữ đối với tất cả loại nước, gìn giữ đối với mọi ác pháp, sống tẩy sạch tất cả ác pháp và sống với ý chí gìn giữ đối với tất cả ác pháp. Này Ðại vương, như vậy một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới. Này Ðại vương, vì một Nigantha sống chế ngự bởi bốn loại cấm giới, nên vị ấy được gọi là Gotatto (một vị đã đi đến đích), Yatatto (một vị đã điều phục tự tâm) và Thitatto (một vị đã an trú được tự tâm)".


@@@

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng

-ooOoo-