|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 27 tháng 11, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG III. TƯƠNG ƯNG KOSALA, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,68)
@@@
Bài 1. Kinh Tuổi Trẻ (Daharasuttaṃ) -NGƯỜI TRÍ BIẾT NHÌN XA HIỂU RỘNG
Một trong những
nguyên nhân gây hoạ trong đời người là sự bất cẩn với những
điều nghĩ là nhỏ nhoi nhưng thực tế thì không phải vậy. Bài
kinh nầy ghi lại giai thoại thú vị khi vua Pasenadi (Ba Tư
Nặc) gặp Đức Phật lần đầu tiên. Nhà vua cùng tuổi với Đức
Phật. Năm đó Đức Phật khoảng 42 tuổi và vừa đến hoằng hoá ở
kinh đô Savatthi, vương quốc Kosala. Nhà vua đến trong tư
cách của một vị khách viếng, hơn thế nữa, là vị vua trong
vương quốc. Khởi đầu câu chuyện nhà vua đem vấn đề tuổi tác
như thước đo trình độ tu chứng. Đức Phật trả lời về bốn điều
không nên xem thường chỉ vì “trẻ” hay “bé nhỏ” đó là vị
hoàng tử trẻ, con rắn nhỏ, đốm lửa nhỏ, và vị sa môn trẻ.
Lời dạy súc tích của Đức Phật đã dạy nhà vua điều quan
trọng: Phải nhìn xa, hiểu rộng sự việc hơn là chỉ dựa trên
quan niệm thường tình.
Có hai điểm mang
sức thuyết phục lớn đối với nhà vua: Một là Đức Phật nêu lên
bốn thứ cần cẩn trọng chứ không nói chỉ tôn vinh cá nhân. Rõ
ràng mang tính khách quan. Hai là nhà vua, bản thân có tài
lên ngôi từ thi niên thiếu nên nhanh chóng hiểu rất rõ những
gì Phật dạy.
Evaṃ me sutaṃ –
Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Một thời Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc)
Atha kho rājā pasenadi kosalo yena bhagavā tenupasaṅkami;
upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṃ sammodi. Sammodanīyaṃ kathaṃ
sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi.
Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc)
nước Kosala (Kiều-tát-la) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói
lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một
bên.
Ekamantaṃ nisinno kho rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ etadavoca
–
Ngồi xuống một bên, vua
Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘bhavampi no gotamo anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti
paṭijānātī’’ti?
-- Tôn giả Gotama có tự cho
mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không?
‘‘Yañhi taṃ, mahārāja, sammā vadamāno vadeyya ‘anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddho’ti, mameva [mamaṃ (sabbattha)]
taṃ sammā vadamāno vadeyya. Ahañhi, mahārāja, anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddho’’ti.
-- Thưa Ðại vương, nếu có ai
có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa
Ðại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
‘‘Yepi te, bho gotama, samaṇabrāhmaṇā saṅghino gaṇino gaṇācariyā
ñātā yasassino titthakarā sādhusammatā bahujanassa,
seyyathidaṃ – pūraṇo kassapo, makkhali gosālo, nigaṇṭho
nāṭaputto, sañcayo belaṭṭhaputto, pakudho kaccāyano, ajito
kesakambalo; tepi mayā ‘anuttaraṃ sammāsambodhiṃ
abhisambuddhoti paṭijānāthā’ti puṭṭhā samānā anuttaraṃ
sammāsambodhiṃ abhisambuddhoti na paṭijānanti. Kiṃ pana
bhavaṃ gotamo daharo ceva jātiyā navo ca pabbajjāyā’’ti?
-- Thưa Tôn giả Gotama, có
những vị Sa-môn, Bà-la-môn là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị
sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo
phái, được quần chúng tôn sùng. Như ngài Purana Kassapa,
Makkali Gosāla, Nigantha Nātaputta, Sanjaya Belatthiputta,
Kakudha Kaccāyana, Ajita Kesakambala. Khi con hỏi các vị ấy:
"Có tự xem là đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
không?", thời họ đã trả lời, không tự xem mình đã chứng Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy làm sao Tôn giả Gotama,
trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn, và chỉ mới xuất gia lại tự cho
mình như vậy?
‘‘Cattāro kho me, mahārāja, daharāti na uññātabbā, daharāti na
paribhotabbā. Katame cattāro?
-- Thưa Ðại vương, có bốn
loại trẻ tuổi không nên khinh thường, hay không nên miệt thị
vì họ là trẻ. Thế nào là bốn?
Khattiyo kho, mahārāja, daharoti na uññātabbo, daharoti na
paribhotabbo. Urago kho, mahārāja, daharoti na uññātabbo,
daharoti na paribhotabbo. Aggi kho, mahārāja, daharoti na
uññātabbo, daharoti na paribhotabbo. Bhikkhu, kho, mahārāja,
daharoti na uññātabbo, daharoti na paribhotabbo.
-- Thưa Ðại vương, Khattiya
trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ
là trẻ. Thưa Ðại vương, con rắn trẻ tuổi không nên khinh
thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại
vương, ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường hay không
nên miệt thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, Tỷ-kheo trẻ
tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là
trẻ.
Hiệu đính:
—Thưa Ðại vương,
không nên mạo phạm một sát đế lỵ niên thiếu vì xem thường là
tuổi trẻ. Thưa Ðại vương, không nên đùa với con rắn nhỏ vì
xem thường là chưa đủ lớn. Thưa Ðại vương, không nên bất cẩn
với đốm lửa vì xem thường là nhỏ nhoi. Thưa Ðại vương, không
nên xúc phạm tu sĩ trẻ
vì xem thường là non nớt.
Ime kho, mahārāja, cattāro daharāti na uññātabbā, daharāti na
paribhotabbā’’ti.
Thưa Ðại vương, bốn loại trẻ
tuổi này không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì
chúng là trẻ.
Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato athāparaṃ etadavoca satthā
–
Thế Tôn nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ lại nói thêm
như sau:
‘‘Khattiyaṃ jātisampannaṃ, abhijātaṃ yasassinaṃ;
“Sanh dòng Sát-đế-lỵ,
Bản hiệu đính
Chớ xem thường mạo phạm
‘‘Gāme vā yadi vā raññe, yattha passe bhujaṅgamaṃ;
“Ở làng hay là rừng,
Bản hiệu
đính
Chớ xem thường đùa giỡn
‘‘Pahūtabhakkhaṃ jālinaṃ, pāvakaṃ kaṇhavattaniṃ;
“Lửa cháy đầy khát vọng,
Bản hiệu
đính
Chớ xem thường bất cẩn
‘‘Vanaṃ yadaggi ḍahati [dahati (ka.)], pāvako kaṇhavattanī;
Khu rừng bị lửa đốt,
Bản hiệu
đính
Chớ xem thường xúc phạm
‘‘Tasmā hi paṇḍito poso, sampassaṃ atthamattano;
Do vậy, người hiền trí,
Bản hiệu
đính
Do vậy bậc thiện trí
Evaṃ vutte, rājā pasenadi kosalo bhagavantaṃ etadavoca –
Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
‘‘abhikkantaṃ, bhante, abhikkantaṃ, bhante! Seyyathāpi bhante,
nikkujjitaṃ [nikujjitaṃ (?)] vā ukkujjeyya, paṭicchannaṃ vā
vivareyya, mūḷhassa vā maggaṃ ācikkheyya, andhakāre vā
telapajjotaṃ dhāreyya – ‘cakkhumanto rūpāni dakkhantī’ti;
evamevaṃ bhagavatā anekapariyāyena dhammo pakāsito. Esāhaṃ,
bhante, bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca
bhikkhusaṅghañca. Upāsakaṃ maṃ, bhante, bhagavā dhāretu
ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gata’’nti.
-- Thật vi diệu thay, bạch
Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng
đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì
bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng
vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng
vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình
bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y
Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ
nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
‘‘Khattiyaṃ jātisampannaṃ =Sát đế lỵ thiện sanh, người xuất thân thuộc giòng dõi vua chúa chính thống
Bài kinh nầy không khó hiểu về nghĩa nhưng khó dịch về văn.
Chữ dahara có nghĩa là trẻ, niên thiếu nhưng những từ nầy chỉ
có thể áp dụng với con người. Còn với rắn và lửa thì phải
hiểu là con rắn còn nhỏ nhưng vẫn có độc, và đốm lửa nhỏ vẫn
có khả năng tạo thành đám cháy lớn. Do vậy lời dịch cần linh
động để ý và lời được suông tai.
Ý nghĩa phải được dịch dựa trên ý chung của bài kệ chứ không
thể lấy theo từng câu và thứ tự trước sau của các câu. Vì
dịch sát lời thì lệch ý.
Khi nói lên kệ ngôn nầy Đức Phật đã dùng cách diễn tả rất đẹp
theo mỹ từ pháp với những điệp ngữ nên khi dịch thì đưa lên
câu đầu hai mệnh đề: Không nên xem thường… vì cho là tuổi
trẻ (hay nhỏ nhoi, nhỏ bé). Hai câu kết của mỗi bài kệ cũng
trùng điệp.
(Lưu ý: bài kệ thứ tư, nói về tỳ kheo trẻ tuổi,
của bản dịch tiếng Việt rất sai với chánh kinh. Xem
thêm phần thích văn) @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |