|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 28 tháng 11, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMAChương VI. TOÁT YẾU TƯƠNG TẬP (Samuccayasaṅgaha) Bài 41. TOÁT YẾU BẤT THIỆN (Akusalasaṅgaha) “tiếp theo” Về Thập triền (dasa saṃyojanāni, saññojanāni) Đối lập với ý nghĩa giải thoát, Phật học có nhiều từ vựng chỉ cho sự hệ luỵ mà sự cột buộc minh hoạ. Yoga là cột chung như cái ách liên kết con bò nầy với con bò kia được dịch là phối, kết, ách. Gantha là cột trói khiến tứ chi khó lay động được dịch là phược. Saṃyojana là cột vào dây như trâu, bò, chó bị cột vào dây nên sự đi lại nằm trong giới hạn. Ba từ vựng thoạt nghe mang ý nghĩa tương tự nhưng trên phương diện tinh nghĩa thì rất khác biệt. Thập triền nói lên mười phiền não mà hệ quả là khiến chúng sanh quanh quẫn trong hạn cuộc, khó vượt thoát ra ngoài. Người học phần “tương tập” nên có sự phân biệt tinh tế hơn là chỉ nhìn vào chi pháp nghĩ là đã nắm được ý rồi đi qua. 8. Thập triền (dasa saṃyojanāni, saññojanāni).
Triền _ saṃyojana, cũng dịch là kiết sử hay thằng thúc, là cột dính, buộc ràng, cột buộc. Nên
hiểu phân biệt ba pháp: phối hay ách (yoga), phược
(gantha), triền (saṃyojana).
Phối, hay kết, hay ách (yoga),
kết dính lại với nhau, ráp lại, liên kết lại, hoặc hiểu
yoga như cái ách máng cổ trâu bò.
Phược (gantha) hay thân phược
(kāyagantha) là trói chặt, như người ta trói tay chân phạm nhân,
hoặc thói con vật không cho chạy thoát.
Triền hay kiết sử, thằng thúc (saṃyojana, saññojana) là buộc ràng, như cột giữ con vật vào cái cọc hoặc thân cây không cho đi
rong.
Triền nói theo thắng pháp tạng, có 10
thứ:
1/ Dục ái triền (kāmarāgasaṃyojanaṃ), sự tham đắm dục lạc ngũ trần là dây ràng buộc chúng sanh. Chi pháp dục ái
triền là tâm sở tham.
2/ Hữu ái triền (bhavarāgasaṃyojanaṃ), sự ái luyến sắc hữu và vô sắc hữu, hay tham muốn
tái sanh là dây ràng buộc chúng sanh khó giải thoát. Chi
pháp hữu ái triền là tâm sở tham.
3/ Phẫn nộ triền (paṭighasaṃyojanaṃ), sự sân giận thù hiềm là dây ràng buộc chúng sanh khó giải toả. Chi pháp phẫn
nộ triền là tâm sở sân.
4/ Mạn triền (mānasaṃyojanaṃ), sự ngạo mạn, kiêu hảnh, là dây ràng buộc tâm chúng sanh khó giải toả. Chi
pháp mạn triền là tâm sở mạn.
5/ Kiến triền (diṭṭhisaṃyojanaṃ), tà kiến, chấp sai, là dây cột buộc chúng sanh khó giải toả. Chi pháp kiến
triền là tâm sở tà kiến.
6/ Giới chấp triền (sīlabbataparāmāsasaṃyojanaṃ) sự chấp hành theo các giới cấm tà giáo cũng là dây cột buộc chúng sanh. Chi
pháp giới chấp triền cũng là tâm sở tà kiến.
7/ Hoài nghi triền
(vicikicchāsaṃyojanaṃ),
sự nghi ngờ, hoang mang, không quyết tin điều đáng
tin, cũng là dây cột buộc chúng. Chi pháp hoài nghi triền là
tâm sở hoài nghi.
8/ Tật triền (issāsaṃyojanaṃ),
thói ganh tỵ, ghen tức với
người khác, cũng là dây cột buộc chúng sanh. Chi pháp tật
triền là tâm sở tật đố.
9/ Lận triền
(macchariyasaṃyojanaṃ), thói keo kiết, bủn xỉn, không thích chia sẽ, cũng
là dây cột buộc chúng sanh.Chi pháp lận triền là tâm sở xan
lận.
10/ Vô minh triền
(avijjāsaṃyojanaṃ),
sự si mê ngu muội cũng là dây cột buộc chúng sanh.
Chi pháp vô minh triền là tâm sở si.
Theo kinh tạng thì cũng có 10 thứ triền hay gọi là 10 kiết sử (saṃyojana), nhưng có khác hơn Thắng pháp. Kinh Tạng không có
hữu ái triền (bhavarāgasaṃyojana)
thay vào đó là sắc ái triền (rūparāgasaṃyojana)
và vô sắc ái triền
(arūparāgasaṃyojana);
Không có tật triền (issāsaṃyojana)
và lận triền (macchariyasaṃyojana)
nhưng thay vào đó có phóng dật
triền (uddhaccasaṃyojana);
kiến triền (diṭṭhisaṃyojana) trong thắng pháp, thì trong kinh tạng là thân kiến
triền (sakkāyadiṭṭhisaṃyojana).
Mười kiết sử hay thập triền theo kinh tạng như sau:
1/ Dục ái kiết sử (kāmarāgasaṃyojana).
Mười kiết sử trong kinh tạng phân ra hai phần:
a.
5 hạ phần kiết sử (orambhāgiyasaṃyojana) là thân
kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục ái và phẫn nộ (sân).
Những kiết sử nầy do ba thánh hữu học đoạn trừ.
b.
5 thượng phần kiết sử (uddhambhāgiyasaṃyojana) là sắc
ái, vô sắc ái, mạn, phóng dật và vô minh. Những kiết sử nầy
do thánh vô học đoạn trừ.
Điều đã nói và điều sắp nói:
Bài đã học:
BÀI
40. TOÁT YẾU BẤT THIỆN (Akusalasaṅgaha) “tiếp theo”
Về Lục cái (cha
nīvaraṇāni) và Thất tiềm miên (satt'ānusayā)
Bài học tiếp theo:
Bài 42. Toát yếu bất thiện (Akusalasaṅgaha) “tiếp theo”
Về
Thập
phiền não (dosa kilesā)
Biên soạn giáo trình: Tỳ
kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |