BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 05 tháng 11, 2022

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG X. TƯƠNG ƯNG DẠ XOA (S. i, 218).

Bài 12. Kinh Āḷavaka (Āḷavakasuttaṃ) -KHẢ TÍNH CHUYỂN HOÁ.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png  

Chánh pháp vi diệu chuyển hoá cái nhìn. Cái nhìn tốt lành chuyển hoá chúng sanh. Chúng sanh hướng thiện khiến đời đẹp hơn. Có vô số trường hợp ghi lại trong kinh điển sự về sự hiểu biết chân thực thay đổi toàn bộ hướng đi của cuộc sống dù trong sinh hoạt hằng ngày hay trên hành trình giác ngộ giải thoát. Cuộc cách mạng vĩ đại không đến từ bùng nỗ của hận thù mà từ sự bừng dậy của tuệ giác.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā āḷaviyaṃ viharati āḷavakassa yakkhassa bhavane. Atha kho āḷavako yakkho yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘nikkhama, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā nikkhami. ‘‘Pavisa, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā pāvisi. Dutiyampi kho āḷavako yakkho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘nikkhama, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā nikkhami. ‘‘Pavisa, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā pāvisi. Tatiyampi kho āḷavako yakkho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘nikkhama, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā nikkhami. ‘‘Pavisa, samaṇā’’ti. ‘‘Sādhāvuso’’ti bhagavā pāvisi. Catutthampi kho āḷavako yakkho bhagavantaṃ etadavoca – ‘‘nikkhama, samaṇā’’ti. ‘‘Na khvāhaṃ taṃ, āvuso, nikkhamissāmi. Yaṃ te karaṇīyaṃ taṃ karohī’’ti. ‘‘Pañhaṃ taṃ, samaṇa, pucchissāmi. Sace me na byākarissasi, cittaṃ vā te khipissāmi, hadayaṃ vā te phālessāmi, pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipissāmī’’ti. ‘‘Na khvāhaṃ taṃ, āvuso, passāmi sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya, ye me cittaṃ vā khipeyya hadayaṃ vā phāleyya, pādesu vā gahetvā pāragaṅgāya khipeyya. Api ca tvaṃ, āvuso, puccha yadā kaṅkhasī’’ti [(atha kho āḷavako yakkho bhagavantaṃ gāthāya ajjhabhāsi.) (sī.)].

Tôi được nghe như vầy,

Một thuở Đức Thế Tôn ngụ  tại trú xứ của dạ xoa Āḷavaka ở Āḷavi.

Bấy giờ dạ xoa Āḷavaka nói Đức Thế Tôn:

-- Này Sa-môn, hãy đi ra!
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi ra.
-- Này Sa-môn, hãy đi vào.
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi vào.
Lần thứ hai, dạ xoa Āḷavaka nói Đức Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, hãy đi ra!
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi ra.
-- Này Sa-môn, hãy đi vào.
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi vào.
Lần thứ ba, dạ xoa Āḷavaka nói Đức Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, hãy đi ra!
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi ra.
-- Này Sa-môn, hãy đi vào.
-- Được thôi, Hiền giả.
Đức Thế Tôn nói và đi vào.
Lần thứ tư, Dạ-xoa Āḷavaka nói với Thế Tôn:
-- Này Sa-môn, hãy đi ra.
-- Này Hiền giả, Ta không đi ra. Hãy làm gì Ông nghĩ là phải làm.

-- Này Sa-môn, ta sẽ hỏi Người một câu hỏi. Nếu Người không trả lời ta được, ta sẽ làm tâm Người điên loạn, hay ta làm Ông vỡ tim, hoặc nắm lấy chân, ta sẽ quăng Người qua bờ bên kia sông Hằng.

-- Này Hiền giả, Ta không thấy một ai trong thế giới chư Thiên, Ma giới hay Phạm thiên giới, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn trong đời nầy của nhân thiên có thể làm tâm Ta điên loạn, hay làm vỡ tim Ta hoặc nắm lấy chân quăng Ta qua bờ bên kia sông Hằng. Tuy vậy, này Hiền giả, nếu muốn thì cứ hỏi.

(Dạ xoa):

Kiṃsūdha vittaṃ purisassa seṭṭhaṃ, kiṃsu suciṇṇaṃ sukhamāvahāti;
Kiṃsu have sādutaraṃ rasānaṃ, kathaṃjīviṃ jīvitamāhu seṭṭha’’nti.

Tài sản nào tốt nhất?
Tu sao được an lạc?
Vị ngon nào tối thượng?
Sống thế nào đáng sống?

(Đức Thế Tôn):

Saddhīdha vittaṃ purissa seṭṭhaṃ, dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti;
Saccaṃ have sādutaraṃ rasānaṃ, paññājīviṃ jīvitamāhu seṭṭha’’nti.

Tín: tài sản tốt nhất
Hành trì Pháp: an lạc
Chân thật: vị ngon nhất
Sống sáng suốt: đáng sống

(Dạ xoa):

Kathaṃsu tarati oghaṃ, kathaṃsu tarati aṇṇavaṃ;
Kathaṃsu dukkhamacceti, kathaṃsu parisujjhatī’’ti
.

Làm sao vượt thác lũ?
Làm sao vượt đại dương?
Làm sao giải thoát khổ?
Làm sao được thanh tịnh?

(Đức Thế Tôn):

‘‘Saddhāya tarati oghaṃ, appamādena aṇṇavaṃ;
Vīriyena dukkhamacceti, paññāya parisujjhatī’’ti.

Vượt thác lũ bằng niềm tin
Vượt biển cả bằng chuyên tâm
Thoát khổ đau bằng tinh cần
Thanh tịnh hoá bằng trí tuệ

(Dạ xoa):

‘‘Kathaṃsu labhate paññaṃ, kathaṃsu vindate dhanaṃ;
Kathaṃsu kittiṃ pappoti, kathaṃ mittāni ganthati;
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, kathaṃ pecca na socatī’’ti.

Làm sao có trí tuệ?
Làm sao được tài sản?
Làm sao đạt thanh danh?
Làm sao kết bạn hữu?
Ðời này qua đời khác,
Làm sao không sầu khổ?

(Đức Thế Tôn):

‘‘Saddahāno arahataṃ, dhammaṃ nibbānapattiyā;
Sussūsaṃ labhate paññaṃ, appamatto vicakkhaṇo.
‘‘Patirūpakārī dhuravā, uṭṭhātā vindate dhanaṃ;
Saccena kittiṃ pappoti, dadaṃ mittāni ganthati;
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, evaṃ pecca na socati.
‘‘Yassete caturo dhammā, saddhassa gharamesino;
Saccaṃ dammo dhiti cāgo, sa ve pecca na socati.
‘‘Iṅgha aññepi pucchassu, puthū samaṇabrāhmaṇe;
Yadi saccā dammā cāgā, khantyā bhiyyodha vijjatī’’ti.

Ai tin tưởng vào Pháp
Của các bậc La Hán
Chứng đắc được niết bàn
Cầu học sanh trí tuệ

Nếu chuyên cần, bén nhạy
Sống thích đáng, trách nhiệm
Khiến người thành giàu có
Chân thật tạo thanh danh

Rộng rãi kết bằng hữu
Sống như vậy đời nầy
Sang đời sau vô sầu
Cư sĩ có lòng tin

Trú trong bốn pháp nầy:
Chân thật và thuận pháp
Kiên định và xả tài
Hãy hỏi bất cứ ai

Sa môn, bà la môn
Có pháp nào tốt hơn
Chân thật, sống theo pháp,
Kiên định và hào sản?

(Dạ xoa):

‘‘Kathaṃ nu dāni puccheyyaṃ, puthū samaṇabrāhmaṇe;
Yohaṃ [sohaṃ (sī.), svāhaṃ (ka.)] ajja pajānāmi, yo attho samparāyiko.
‘‘Atthāya vata me buddho, vāsāyāḷavimāgamā [māgato (pī. ka.)];
Yohaṃ [sohaṃ (sī.)] ajja pajānāmi, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ.
‘‘So ahaṃ vicarissāmi, gāmā gāmaṃ purā puraṃ;
Namassamāno sambuddhaṃ, dhammassa ca sudhammata’’nti.

Con không cần phải hỏi
Nhiều sa môn, phạm chí
Hôm nay con đã hiểu
Pháp lợi lạc đời sau

Quả thật, Phật vì con
Mà đến Āḷavi
Hôm nay con hiểu được
Cúng đâu được quả lớn

Làng nầy qua làng khác
Phố nọ qua phố kia
Con đi và xưng tán
Phật và Pháp vi diệu.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Kiṃsūdha vittaṃ purisassa seṭṭhaṃ= cái gì là tài sản tối thượng của con người
kiṃsu suciṇṇaṃ sukhamāvahāti = cái gì khéo hành trì mang lại an lạc
Kiṃsu have sādutaraṃ rasānaṃ = cái gì có vị ngon ngọt nhất
kathaṃjīviṃ jīvitamāhu seṭṭha’’nti = Sống thế nào được gọi là sống tốt nhất
Saddhīdha vittaṃ purissa seṭṭhaṃ = Niềm tin là tài sản tốt nhất của con người
dhammo suciṇṇo sukhamāvahāti = hành trì pháp mang lại an lạc
Saccaṃ have sādutaraṃ rasānaṃ = sự thật có vị ngon ngọt nhất
paññājīviṃ jīvitamāhu seṭṭha’’nti = sống sáng suốt được gọi là sống tốt nhất
Kathaṃsu tarati oghaṃ = làm sao để vượt thác lũ
kathaṃsu tarati aṇṇavaṃ = làm sao để băng qua biển cả
Kathaṃsu dukkhamacceti = làm sao để thoát khổ đau
kathaṃsu parisujjhatī’’ti = làm sao để thanh tịnh hoá
Saddhāya tarati oghaṃ = bằng niềm tin vượt thác lũ
appamādena aṇṇavaṃ = bằng sự không giải đãi băng qua biển cả
Vīriyena dukkhamacceti = bằng  nghị lực vượt thoát khổ đau
paññāya parisujjhatī’’ti = bằng tuệ giác được thanh tịnh
‘‘Kathaṃsu labhate paññaṃ = làm sao để có trí tuệ
kathaṃsu vindate dhanaṃ = làm sao để có tài sản
Kathaṃsu kittiṃ pappoti = làm sao để được thanh danh
kathaṃ mittāni ganthati = làm sao để có bằng hữu
Asmā lokā paraṃ lokaṃ kathaṃ pecca na socatī’’ti =  làm sao để từ đời nầy sang kiếp khác không sầu khổ
‘‘Saddahāno arahataṃ, dhammaṃ nibbānapattiyā = chứng niết bàn do niềm tin đặt ở pháp của các bậc ứng cúng trọn lành
Sussūsaṃ labhate paññaṃ, appamatto vicakkhaṇo = sự cầu học khiến thành tựu trí tuệ nếu không chẽnh mãng và nhạy bén.
‘‘Patirūpakārī dhuravā, uṭṭhātā vindate dhanaṃ = sống thích đáng và có trách nhiệm tạo nên giàu có
Saccena kittiṃ pappoti = sự chân thật tạo nên thanh danh
dadaṃ mittāni ganthati = sự rộng rải gắn kết tình bạn
Asmā lokā paraṃ lokaṃ, evaṃ pecca na socati = sống như vậy khi rời bỏ đời nầy không sầu khổ
‘‘Yassete caturo dhammā, saddhassa gharamesino = người cư sĩ hữu tâm có đức tin trú trong bốn pháp
Saccaṃ dammo dhiti cāgo = chân thật, thuần hoá, kiên tâm, xả tài
sa ve pecca na socati = chắc chắn không sầu khổ sau khi chết
Iṅgha aññepi pucchassu puthū samaṇabrāhmaṇe = cứ đi hỏi nhiều sa môn, bà la môn khác
Yadi saccā dammā cāgā khantyā bhiyyodha vijjatī’’ti = có gì được tìm thấy tốt hơn sự thật, sự thuần hoá, sự rộng rãi, và sự kiên nhẫn
‘‘Kathaṃ nu dāni puccheyyaṃ, puthū samaṇabrāhmaṇe = tại sao giờ con phải đi hỏi những sa môn, bà la môn khác
Yohaṃ ajja pajānāmi, yo attho samparāyiko = bây giờ con đã hiểu những gì lợi lạc cho đời sau
‘‘Atthāya vata me buddho, vāsāyāḷavimāgamā = thật lợi lạc cho con Đức Phật đã ngự đến Āḷavī
Yohaṃ ajja pajānāmi, yattha dinnaṃ mahapphalaṃ = hôm nay con hiểu rõ đâu là mà sự cúng dường mang lại quả lớn
‘‘So ahaṃ vicarissāmi, gāmā gāmaṃ purā puraṃ = con sẽ đi từ làng nầy sang làng khác, phố nọ sang phố kia
Namassamāno sambuddhaṃ, dhammassa ca sudhammata’’nti = xưng tán đảnh lễ Đấng Đại Giác và chánh pháp cao cả.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Bài kinh nầy cũng được tìm thấy trong Kinh Tập (Sn I, 10)

Theo Sớ giải thì vua của xứ Āḷavī đi săn lạc vào lãnh địa của da xoa Āḷavaka nên bị bắt giữ. Để chuộc mạng, nhà vua cam kết sẽ cung cấp cho dạ xoa một mạng người để ăn thịt mỗi ngày. Sự việc là một thảm hoạ cho vương quốc. Đức Phật can thiệp bằng cách ngự đến trú xứ của dạ xoa và cảm hoá hung thần nầy.

Theo Sớ giải thì lý do Đức Phật ra vào ba lần theo yêu cầu của dạ xoa để hung thần nầy bớt bực tức mới nghe được pháp.

Theo Sớ giải câu “api ca tvaṃ, āvuso, puccha yadā kaṅkhasī”ti (nhưng hiền giả cứ hỏi bất cứ điều gì muốn hỏi)” hàm ý nói từ một đấng toàn giác. Chư Phật Độc giác và Thinh văn giác không thể trả lời tất cả nghi vấn.

Theo Sớ giải thi niềm tin là tài sản tối thượng vì mang lại cả hai hạnh phúc thế gian và hạnh phúc xuất thế. Pháp chỉ cho những thiện pháp như bố thí, trì giới, thiền định. Chân thật ở đây chỉ cho lời nói không sai sự thật và cũng có nghĩa là niết bàn là sự thật tối thượng (paramatthasacca), Sống sáng suốt nghĩa là sống với sự hiểu biết rõ cái gì lợi lạc, cái gì gây phiền khổ dù trong bối cảnh tại gia hay xuất gia.

Theo Sớ Giải thì thác lũ hay bộc lưu (ogha) hàm nghĩa sâu xa. Có bốn bộc lưu cần vượt qua trong hành trình giải thoát. Vị thánh tu đà huờn vượt qua kiến bộc lưu; vị thánh tư đà hàm giảm nhẹ hữu bộc lưu và dục bộc lưu; vị thánh a na hàm vượt dục bộc lưu; và vị thánh a la hán vượt thoát vô minh bộc lưu. Theo Sớ Giải thì khi Đức Phật nói xong phần nầy thì dạ xoa Āḷavaka quả nhập lưu.

Theo Sớ Giải thì mặc dù câu hỏi nguyên uỷ của Āḷavaka “thanh tịnh hoá bằng gì” bao gồm cả hai lãnh vực thế gian và xuất thế như khi Đức Phật trả lời “tuệ giác khiến thanh tịnh hoá” thì do lợi căn Āḷavaka hiểu theo pháp xuất thế.

Chữ sussūsaṁ trong câu “Sussūsaṁ labhate paññaṁ (sự cầu học khiến thành tựu trí tuệ) có nghĩa là sự tha thiết tìm hiểu. Nhưng phải đi với sự chuyên tâm không giải đãi (appamādena) và sự nhạy bén trong sự nắm bắt (vicakkhanạtāy)

Bốn pháp saccā, dammā, cāgā, khantyā (chân thật, thuần hoá, xả tài, nhẫn nại) có khác biệt giữa tam tạng Miến Điện và tam tạng Tích Lan. Trong bản của Tích Lan ghi là saccā, dhammā, cāgā, khantyā (chân thật, thuận pháp, xả tài, nhẫn nại). Theo Ngài A xà lê Dhammapāla thì cả hai từ đều có chung nghĩa “sống theo pháp”.  CHữ damā từ động từ dameti có nghĩa là tự chế, điều phục, thuần hoá.

Trong Phật ngôn sau cùng, theo Sớ Giải, có sự quan tương quan: a. Sự thật và chân thật; trí tuệ và thiện pháp; bố thí và tâm hào sản; sống có trách nhiệm và sự kiên trì nhẫn nại.

 Theo Sớ giải chữ attho (lợi lạc) phải được hiểu là lợi ích cả hai đời nầy và kiếp sau (dittḥadhammika, samparāyiko)

Theo Sớ giải thì ngay sau lời cuối cùng của da xoa thì bình minh. Người của nhà vua mang một bé trai tới hiến tế cho dạ xoa. Bé trai đó chính là hoàng tử con vua (vì cả vương quốc đều luân phiên hiến lễ như nhà vua đã cam kết). Dạ xoa nhận bé trai và dâng lên Đức Phật. Đức Phật chúc phúc và trao lại cho sứ giả của vua. Từ đó hoàng tử được gọi là  Hatthaka Ālạvaka (Ālạvaka Trao Tay). Sau nầy hoàng tử lớn lên trở thành một thánh cư sĩ chứng A na hàm và được xem là đệ nhất cư sĩ với bốn pháp bố thí, ái ngữ, lợi hành, và bình đẳng. Một cư sĩ gương mẫu trong hàng tại gia đệ tử Phật.

 

Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng

-ooOoo-