|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 08 tháng 11, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 216)
Bài 1. Kinh Suvīra (Suvīrasuttaṃ)
-KHÔNG CÓ THÀNH TỰU CHO KẺ VÔ TÍCH SỰ.
Evaṃ me sutaṃ – ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū
āmantesi – ‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te bhikkhū
bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tôi được nghe như vầy,
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi (Xá Vệ), tại Jetavana
(Kỳ Viên), ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
"- Này Chư Tỳ Khưu". “
Dạ. Bạch Thế Tôn”. Chư tỳ khưu lên tiếng trả lời Đức Thế
Tôn.
Đức Thế Tôn nói như sau:
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, asurā deve abhiyaṃsu. Atha kho,
bhikkhave, sakko devānamindo suvīraṃ devaputtaṃ āmantesi –
‘ete, tāta suvīra, asurā deve abhiyanti. Gaccha, tāta
suvīra, asure paccuyyāhī’ti. ‘Evaṃ bhaddantavā’ti kho,
bhikkhave, suvīro devaputto sakkassa devānamindassa
paṭissutvā pamādaṃ āpādesi [āharesi (katthaci) navaṅguttare
sīhanādasuttepi]. Dutiyampi kho, bhikkhave, sakko
devānamindo suvīraṃ devaputtaṃ āmantesi – ‘ete, tāta suvīra,
asurā deve abhiyanti. Gaccha, tāta suvīra, asure
paccuyyāhī’ti. ‘Evaṃ bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, suvīro
devaputto sakkassa devānamindassa paṭissutvā dutiyampi
pamādaṃ āpādesi. Tatiyampi kho, bhikkhave, sakko devānamindo
suvīraṃ devaputtaṃ āmantesi – ‘ete, tāta suvīra, asurā deve
abhiyanti. Gaccha, tāta suvīra, asure paccuyyāhī’ti. ‘Evaṃ
bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, suvīro devaputto sakkassa
devānamindassa paṭissutvā tatiyampi pamādaṃ āpādesi.
-- Này Chư Tỳ Khưu, thuở xưa các asūra (a tu la) tấn công
chư thiên. Thiên chủ Sakka gọi thiên
tử Suvīra bảo rằng:
" -- Này Suvīra thân yêu, các asūra ấy tấn công chư Thiên.
Này Suvīra thân yêu, hãy đi phản công các asūra".
" -- Thưa vâng, Thiên chủ".
Này chư tỳ khưu, Thiên tử Suvīra vâng đáp Thiên chủ Sakka
nhưng chểnh mảng
không chịu làm gì.
Lần thứ hai, Thiên chủ Sakka gọi thiên tử Suvīra bảo rằng:
" -- Này Suvīra thân yêu, các asūra ấy tấn công chư Thiên.
Này Suvīra thân yêu, hãy đi phản công các asūra".
" -- Thưa vâng, Thiên chủ".
Này chư tỳ khưu, Thiên tử Suvīra vâng đáp Thiên chủ Sakka
nhưng chểnh mảng
không chịu làm gì.
Lần thứ ba, Thiên chủ Sakka gọi thiên tử Suvīra bảo rằng:
" -- Này Suvīra thân yêu, các asūra ấy tấn công chư Thiên.
Này Suvīra thân yêu, hãy đi phản công các asūra".
" -- Thưa vâng, Thiên chủ".
Này chư tỳ khưu, Thiên tử Suvīra vâng đáp Thiên chủ Sakka
nhưng chểnh mảng
không chịu làm gì.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo suvīraṃ devaputtaṃ
gāthāya ajjhabhāsi –
Này chư Tỳ khưu, Thiên chủ Sakka nói với Thiên tử Suvīra
bằng kệ ngôn:
Ở đâu không tinh cần
(Suvīra):
(Sakka):
(Suvīra):
(Sakka):
‘‘So hi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṃ puññaphalaṃ upajīvamāno devānaṃ
tāvatiṃsānaṃ issariyādhipaccaṃ rajjaṃ kārento uṭṭhānavīriyassa vaṇṇavādī
bhavissati. Idha kho taṃ, bhikkhave, sobhetha, yaṃ tumhe evaṃ svākkhāte
dhammavinaye pabbajitā samānā uṭṭhaheyyātha ghaṭeyyātha vāyameyyātha appattassa
pattiyā anadhigatassa adhigamāya, asacchikatassa sacchikiriyāyā’’ti.
Tāvatiṃsa
là một trong sáu cõi trời Dục Giới. Cõi nầy cao hơn cõi Tứ
Thiên Vương mà thấp hơn của Dạ ma, Đấu Suất, Hoá Lạc và Tha
Hoá Tự Tại. Tāvatiṃsa
thường được dịch là
Tam Thập Tam, âm là Đao Lợi. Sớ
Giải ghi rằng chư thiên Đạo Lợi thường có sự giằng co giao
chiến với a tu la thiên. Chư thiên là biểu hiện của ánh
sáng, bình an, và hài hoà trong lúc các a tu la thiên là
những hung thần với ác niệm, bạo động, đánh đấm.
Theo Sớ giải chư thiên được bảo vệ với năm vòng tuyến. Vòng
ngoài là do các long vương (nāga) canh gác, kế đến là kim xí
điểu (supaṇṇa), vòng trong nữa là kiển bàn trà (kumbhaṇḍa),
dạ xoa (yakkha). Vòng sau cùng bên trong là Tứ Thiên Vương.
Khi các a tu la thiên chọc thủng được cả năm phòng tuyến thì
Tứ Thiên Vương sẽ trình báo với Thiên chủ Đế Thích. Thiên
chủ Sakka có thể đích thân ra trận bằng thiên xa. Đôi khi
cũng cử những đứa con mình ra trận. Thiên tử Suvīra là một
trong những người con của Thiên chủ Sakka.
Theo Sớ Giải sở dĩ Thiên tử Suvīra chểnh mảng phận sự vì
đang vui chơi với các tiên nữ tại Lạc viên Nandana. Tất
cả kệ ngôn của Thiên chủ Sakka đều hàm ý đề cao sự tinh cần
nỗ lực. Đối thoại của hai vị thiên mang ngôn phong thường có
trong các gia đình: cha mẹ thì trách cứ, con cái lại “trả
treo”. Thiên chủ muốn nhấn mạnh ý của mình: Nếu ở chỗ nào
mà kẻ vô tích sự có hạnh phúc, có thành tựu, có tiến
bộ gì thì con hãy tới đó và dẫn ta theo với. Con của Thiên
chủ đáp lại: Nếu kẻ lười biếng mà được vậy thì cha cho con
được ân huệ đó đi!!!
Theo Sớ Giải ngữ pháp trong bài kinh có vài chỗ cần được làm
rõ nghĩa. (Có lẽ cách dùng ngôn ngữ của chư thiên hơi khác
nhân loại?). alasassa nên được hiểu là alaso+assa; ,
sabbakāmasamiddhassa nên được hiểu là
sabbakāmehi +
samiddho + assa. Hai
từ varaṃ disā phải được hiểu là một thành ngữ trong văn nói.
Varaṃ là ân huệ, sự đãi ngộ. Disā sự ban bố, ban tặng. Hai
từ nầy phải đi chung mới có nghĩa: xin ban cho ân huệ. Ở
đây, một lần nữa, là ngôn phong “trả treo” Ba
câu: Sace atthi akammena koci kvaci na jīvati nibbānassa hi
so maggo = Nếu có
nơi nào mà sống không làm gì cả vẫn không thối đoạ thì đó là
đường đến niết bàn. Nên hiểu theo cách nói biếm nhẽ hơn là ý
nghĩa thường dùng mặc dù Sớ giải nói câu đó nghĩa là trạng
thái niết bàn không tạo nghiệp.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |