|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 12 tháng 11, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 217)
Bài 2. Kinh Susīma (Susīmasuttaṃ)
Kinh nầy hoàn toàn giống Kinh Suvīra
(Suvīrasuttaṃ) chỉ khác là thay vi Suvīra đổi thành Susīma
một người con khác của thiên chủ Sakka.
Bài
3. Kinh Dhajagga (Dhajaggasuttaṃ) -KHÔNG HẲN LINH TẠI NGÃ.
Người đời có câu “linh tại ngã, bất linh tại ngã” hàm ý uy
lực linh thiêng vốn ở niềm tin chứ không hẳn ở đối tượng tin
tưởng. Bài kinh nầy mang ý nghĩa ngược lại. Nếu đối tượng
sùng kính vẫn còn phiền não, uế nhiễm, sơ hãi thì khó làm
đối tượng tạo nên uy lực xua tan sợ hãi. Ở đời nói về sự
tuyệt đối vô uý thì chỉ có Phật, Pháp, Tăng. Nếu hiểu đúng
và hiểu rõ ân đức Tam Bảo thì xua tan những yếu đuối trong
lòng. Đối tượng cao cả luôn cần thiết để nâng cao nội tâm.
Sāvatthiyaṃ. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi –
‘‘bhikkhavo’’ti. ‘‘Bhadante’’ti te
bhikkhū bhagavato paccassosuṃ. Bhagavā etadavoca –
Tại Sāvatthi (Xá Vệ). Bấy giờ Đức Thế Tôn gọi các tỳ khưu:
"- Này chư Tỳ khưu". Chư tỳ khưu lên tiếng trả lời “ Dạ.
Bạch Thế Tôn”. Đức Thế Tôn nói như sau:
‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho
ahosi. Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo deve tāvatiṃse
āmantesi –
‘Sace, mārisā, devānaṃ saṅgāmagatānaṃ uppajjeyya bhayaṃ vā
chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, mameva tasmiṃ samaye
dhajaggaṃ ullokeyyātha. Mamañhi vo dhajaggaṃ ullokayataṃ yaṃ
bhavissati bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so
pahīyissati’.
Này chư Tỳ khưu, thuở xưa chư thiên và a tu la dàn trận cho
một cuộc hỗn chiến. Thiên chủ Sakka nói với chư thiên cõi
Tam Thập Tam:
Hỡi các chiến hữu, khi các ông ra trận nếu có sự sợ hãi, hốt
hoảng, khinh khiếp khởi lên thì hãy nhìn lên soái kỳ của ta.
Khi nhìn lên soái kỳ của ta thì sự
sợ hãi, hốt hoảng, khinh khiếp sẽ tan biến.
‘No ce me dhajaggaṃ ullokeyyātha, atha pajāpatissa
devarājassa dhajaggaṃ ullokeyyātha. Pajāpatissa hi vo
devarājassa dhajaggaṃ ullokayataṃ yaṃ bhavissati bhayaṃ vā
chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so pahīyissati’.
Nếu các Ông không thể nhìn soái kỳ của ta, thời hãy ngó lên
ngọn cờ của
Thiên vương Pajāpati.
Khi nhìn lên soái kỳ của Thiên vương Pajāpati thì sự sợ hãi,
hốt hoảng, khinh khiếp sẽ tan biến.
‘No ce pajāpatissa devarājassa dhajaggaṃ ullokeyyātha, atha
varuṇassa devarājassa dhajaggaṃ ullokeyyātha. Varuṇassa hi
vo devarājassa dhajaggaṃ ullokayataṃ yaṃ bhavissati bhayaṃ
vā chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so pahīyissati’.
Nếu các Ông không thể nhìn soái kỳ của Pajāpati, thời hãy
ngó lên soái kỳ
của Thiên vương Varuna. Khi nhìn lên soái kỳ của Thiên vương
Varuna thì sự sợ hãi, hốt hoảng, kinh khiếp sẽ tan biến.
‘No ce varuṇassa devarājassa dhajaggaṃ ullokeyyātha, atha
īsānassa devarājassa dhajaggaṃ ullokeyyātha. Īsānassa hi vo
devarājassa dhajaggaṃ ullokayataṃ yaṃ bhavissati bhayaṃ vā
chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so pahīyissatī’’’ti.
Nếu các Ông không thể nhìn soái kỳ của Varuṇa, thời hãy ngó
lên soái kỳ của
Thiên vương Īsāna. Khi nhìn lên soái kỳ của Thiên vương
Īsāna thì sự sợ hãi, hốt hoảng, khinh khiếp sẽ tan biến.
‘‘Taṃ kho pana, bhikkhave, sakkassa vā devānamindassa
dhajaggaṃ ullokayataṃ, pajāpatissa vā devarājassa dhajaggaṃ
ullokayataṃ, varuṇassa vā devarājassa dhajaggaṃ ullokayataṃ,
īsānassa vā devarājassa dhajaggaṃ ullokayataṃ yaṃ bhavissati
bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so pahīyethāpi nopi
pahīyetha [no pahīyetha (ka.)].‘‘Taṃ kissa hetu? Sakko hi,
bhikkhave, devānamindo avītarāgo avītadoso avītamoho bhīru
chambhī utrāsī palāyīti.
Này chư Tỳ khưu, khi chư thiên nhìn lên soái kỳ của Thiên
chủ Sakka, thiên vương Pajāpati,
thiên vương Varuṇa, thiên vương Īsāna
sự sợ hãi, hốt hoảng, kinh khiếp có thể tan biến
hoặc không tan biến. Vì sao vậy? Này chư Tỳ Khưu vì Thiên
chủ Sakka chưa đoạn tận tham, chưa đoạn tận sân, chưa đoạn
tận si, vẫn còn e sợ, khiếp đảm, kinh hãi, tháo chạy.
‘‘Ahañca kho, bhikkhave, evaṃ vadāmi – ‘sace tumhākaṃ,
bhikkhave, araññagatānaṃ vā rukkhamūlagatānaṃ vā
suññāgāragatānaṃ vā uppajjeyya bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā
lomahaṃso vā, mameva tasmiṃ samaye anussareyyātha – itipi so
bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato
lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ
buddho bhagavā’ti. Mamañhi vo, bhikkhave, anussarataṃ yaṃ
bhavissati bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so
pahīyissati.
Nhưng này chư Tỳ khưu, ta nói như sau: Khi các Thầy đi vào
rừng, dưới cội cây, trong ngôi nhà trống nếu sự sợ hãi, hốt
hoảng, khinh khiếp khởi lên hãy niệm tưởng ta: “Đức Thế Tôn
là bậc Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ,
Thế gian giải, Vô thượng điều ngự, Thiên nhân sư, Phật Đà,
Thế Tôn”. Khi niệm tưởng ta thì sự sợ hãi, hốt hoảng, kinh
khiếp sẽ tan biến.
‘‘No ce maṃ anussareyyātha, atha dhammaṃ anussareyyātha –
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko
opaneyyiko paccattaṃ veditabbo viññūhī’ti. Dhammañhi vo,
bhikkhave, anussarataṃ yaṃ bhavissati bhayaṃ vā
chambhitattaṃ vā lomahaṃso vā, so pahīyissati.
‘‘No ce dhammaṃ anussareyyātha, atha saṅghaṃ anussareyyātha
– ‘suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujuppaṭipanno
bhagavato sāvakasaṅgho ñāyappaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho
sāmīcippaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho, yadidaṃ cattāri
purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho,
āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ
puññakkhettaṃ lokassā’ti. Saṅghañhi vo, bhikkhave,
anussarataṃ yaṃ bhavissati bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā
lomahaṃso vā, so pahīyissati.
Nếu không thể niệm tưởng Pháp thì hãy niệm tưởng Tăng: “Chư
Tăng thánh đệ tử Thế Tôn là bậc thiện hạnh, trực hạnh, như
hạnh, chánh hạnh, gồm tứ song bát bối, chư vị thánh đệ tử ấy
của Đức
Thế Tôn xứng đáng được tôn trọng, cung nghinh, cúng dường,
chấp tay kính lễ, là phước điền vô thượng ở đời”. Khi niệm
tưởng Tăng thì sự sợ hãi, hốt hoảng, kinh khiếp sẽ tan biến.
‘‘Taṃ kissa hetu? Tathāgato hi, bhikkhave, arahaṃ
sammāsambuddho vītarāgo vītadoso vītamoho abhīru acchambhī
anutrāsī apalāyī’’ti. Idamavoca bhagavā. Idaṃ vatvāna sugato
athāparaṃ etadavoca satthā –
Vì sao vậy? Này chư Tỳ khưu, vì Như Lai, bậc Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri đã ly tham, ly sân, ly si, là bậc đại hùng, bậc can
cường, bậc vô uý, bậc vững chãi.
Đức Thế Tôn nói như vậy. Rồi Thiện Thệ , bậc Ðạo sư, nói
tiếp: Anussaretha sambuddhaṃ, bhayaṃ tumhāka no siyā. ‘‘No ce buddhaṃ sareyyātha, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ; Atha dhammaṃ sareyyātha, niyyānikaṃ sudesitaṃ. ‘‘No ce dhammaṃ sareyyātha, niyyānikaṃ sudesitaṃ; Atha saṅghaṃ sareyyātha, puññakkhettaṃ anuttaraṃ. ‘‘Evaṃ buddhaṃ sarantānaṃ, dhammaṃ saṅghañca bhikkhavo; Bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā, lomahaṃso na hessatī’’ti. “Hỡi Tỳ khưu, trong rừng, dưới cội cây, am vắng. Hãy niệm tưởng Phật Đà Sợ hãi không sanh khởi. “Nếu không thể niệm Phật Bậc Ngưu vương tối thượng Thì hãy niệm tưởng Pháp Đạo giải thoát, thiện thuyết. “Nếu không thể niệm Pháp Đạo giải thoát, thiện thuyết Thì hãy niệm tưởng Tăng Là Phước điền vô thượng. “Với ai niệm tưởng Phật Niệm Pháp và niệm Tăng Thì sợ hãi, hốt hoảng, Kinh khiếp không sanh khởi.
Anussaretha sambuddhaṃ, bhayaṃ tumhāka no siyā = hãy niệm tưởng Đấng Toàn Giác, sự sợ hãi sẽ không sanh khởi. No ce buddhaṃ sareyyātha, lokajeṭṭhaṃ narāsabhaṃ = nếu không thể niệm Phật, bậc Ngưu vương của loài người Atha dhammaṃ sareyyātha, niyyānikaṃ sudesitaṃ = thì hãy niệm Pháp giải thoát và được khéo thuyết. No ce dhammaṃ sareyyātha, niyyānikaṃ sudesitaṃ = Nếu không thể niệm Pháp giải thoát và được khéo thuyết Atha saṅghaṃ sareyyātha, puññakkhettaṃ anuttaraṃ = hãy niệm Tăng, vô thượng phước điền. Evaṃ buddhaṃ sarantānaṃ, dhammaṃ saṅghañca bhikkhavo = Hỡi chư Tỳ khưu, ai niệm Phật, Pháp, Tăng. Bhayaṃ vā chambhitattaṃ vā, lomahaṃso na hessatī’’ti = sự sợ hãi, hốt hoảng, khinh khiếp sẽ không sanh khởi.
Kệ
ngôn trong bài kinh nầy là một trong những kinh hộ trì
(paritta) hay kinh cầu an thường được tụng tại Tích Lan. Rất
thú vị là trong nghi thức cầu an của Phật giáo Tây Tạng cũng
có bài kinh nầy và kinh tiêu tai cát tường cũng có trong
nghi thức Phật giáo Trung Hoa. Chữ
dhajagga là đại kỳ có huy hiệu (the crests of standard) khác
với lá cờ bình thường. Theo Sớ giải thì soái kỳ của Thiên
chủ Đế Thích rất to lớn trên đó có huy hiệu của Thiên chủ.
Khi giương cao gặp gió soái kỳ tạo nên âm thanh như tiếng
nhạc. Trong lúc lâm trận nếu chư thiên lấy đại kỳ của Đế
Thích sẽ biết “thiên chủ đã đến” nên nhuệ khí tăng cao và sự
sợ hãi biến mất.
Theo Sớ giải trong ba vị thiên vương thì thiên vương
Pajāpati có ngoại hình uy dũng và tuổi thọ tương đương Thiên
chủ Sakka. Hai vị thiên vương Varuna và
thiên vương Īsāna
đứng hạng thứ ba và thứ tư.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |