|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 15 tháng 11, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 217)
Bài
4. Kinh Vepacitti (Vepacittisuttaṃ) -NHẪN NẠI VỚI KẺ YẾU MỚI THẬT LÀ MẠNH.
Trong cách hành
xử, người ta thường xem sự áp đảo là sức mạnh. Đó là quan
niệm thường tình. Trong cái nhìn của người trí thì sự khoan
dung đối với kẻ kém thế hơn mình mới thật sự là mạnh. Người
ta thường nghĩ sự hung hăng, ăn miếng trả miếng nói lên nội
lực thâm sâu nhưng kỳ thật điều đó chỉ biểu hiện nội hàm yếu
kém. Ai sống với chánh pháp, trì pháp, và được pháp hộ trì
mới thật sự là
người mạnh mẽ giữa cuộc đời nhiễu nhương nầy.
Sāvatthinidānaṃ. ‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo
samupabyūḷho ahosi. Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo
asure āmantesi – ‘sace, mārisā, devānaṃ asurasaṅgāme
samupabyūḷhe asurā jineyyuṃ devā parājineyyuṃ, yena naṃ
sakkaṃ devānamindaṃ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā
mama santike āneyyātha asurapura’nti. Sakkopi kho,
bhikkhave, devānamindo deve tāvatiṃse āmantesi – ‘sace,
mārisā, devānaṃ asurasaṅgāme samupabyūḷhe devā jineyyuṃ
asurā parājineyyuṃ, yena naṃ vepacittiṃ asurindaṃ
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi bandhitvā mama santike āneyyātha
sudhammasabha’’’nti. Tasmiṃ kho pana, bhikkhave, saṅgāme
devā jiniṃsu, asurā parājiniṃsu. Atha kho, bhikkhave, devā
tāvatiṃsā vepacittiṃ asurindaṃ kaṇṭhapañcamehi bandhanehi
bandhitvā sakkassa devānamindassa santike ānesuṃ
sudhammasabhaṃ. Tatra sudaṃ, bhikkhave, vepacitti asurindo
kaṇṭhapañcamehi bandhanehi baddho sakkaṃ devānamindaṃ
sudhammasabhaṃ pavisantañca nikkhamantañca asabbhāhi
pharusāhi vācāhi akkosati paribhāsati. Atha kho, bhikkhave,
mātali saṅgāhako sakkaṃ devānamindaṃ gāthāhi ajjhabhāsi –
Tại Sāvatthi, Đức Thế Tôn thuyết như sau:
Này chư Tỳ khưu, thuở xưa chư thiên và a tu la dàn trận cho
một cuộc hỗn chiến. Bấy giờ a tu la vương Vepacitti bảo các
a tu la: “Chư
liệt vị, trong trận ác chiến giữa chư thiên và chư a tu la
nếu a tu la thắng hãy trói tứ chi và cổ thiên chủ Sakka mang
đến trước mặt ta trong thành của a tu la”.
Và Thiên chủ Sakka cũng nói với chư thiên cõi Tam Thập Tam:
“Chư liệt vị, trong
trận ác chiến giữa chư thiên và chư a tu la nếu chư thiên
thắng hãy trói tứ chi và cổ của a tu
la vương Vepacitti mang đến trước mặt ta tại pháp đường
Sudhamma”.
Này chư Tỳ khưu, trong trận chiến ấy chư thiên thắng, a tu
la bại. Chư thiên cõi Tam Thập Tam trói tứ chi và cổ của a
tu la vương Vepacitti mang đến gặp Thiên chủ Sakka tại pháp
đường Sudhamma. Tại đấy khi Thiên chủ Sakka bước vào pháp
đường thì Vepacitti, đang bị trói, dùng những lời thô
ác, cay độc mạ lỵ Thiên chủ.
Bấy giờ, vị thiên điều khiển thiên xa Mātali nói với thiên
chủ Sakka bằng kệ ngôn: ‘‘Bhayā nu maghavā sakka, dubbalyā no titikkhasi;
Thiên chủ Maghavā
Mặc họ nghĩ hay không:
Khi người thật sự mạnh
Thấy mạnh nhưng không mạnh
Lấy sân đáp sân hận
Ai hành pháp lợi lạc
Ai chữa lành cả hai
‘‘So hi nāma, bhikkhave, sakko devānamindo sakaṃ puññaphalaṃ
upajīvamāno devānaṃ tāvatiṃsānaṃ issariyādhipaccaṃ rajjaṃ
kārento khantisoraccassa vaṇṇavādī bhavissati. Idha kho taṃ,
bhikkhave, sobhetha yaṃ tumhe evaṃ svākkhāte dhammavinaye
pabbajitā samānā khamā ca bhaveyyātha soratā cā’’ti.
Này chư tỳ khưu, Thiên chủ Sakka với phước báu đã tạo, trị
vì cõi Tam Thập Tam vẫn tán thán sự nhẫn nại và ôn hoà. Còn
nói gì cao đẹp hơn là chư tỳ khưu vốn xuất gia trong Pháp và
Luật được khéo thuyết cần sống nhẫn nại và ôn hoà.
Suṇanto pharusaṃ vācaṃ, sammukhā vepacittino’’ti = khi đối mặt với Vepacitti nghe những lời mạ lỵ ‘‘Nāhaṃ bhayā na dubbalyā, khamāmi vepacittino = không vì sợ, chẳng vì yếu hèn mà ta kham nhẫn với Vepacitti Kathañhi mādiso viññū, bālena paṭisaṃyuje’’ti = Một người có hiểu biết như ta sao lại đôi co với kẻ thiểu trí ‘‘Bhiyyo bālā pabhijjeyyuṃ, no cassa paṭisedhako = kẻ ngu càng nổi điên nếu không ai khống chế Tasmā bhusena daṇḍena, dhīro bālaṃ nisedhaye’’ti = do vậy với sự trừng phạt nặng nề , người trí chế ngự kẻ ngu ‘‘Etadeva ahaṃ maññe, bālassa paṭisedhanaṃ = Ta tự nghĩ cách cảm hoá người thiểu trí Paraṃ saṅkupitaṃ ñatvā, yo sato upasammatī’’ti = khi biết đối thủ giận dữ thì nên chánh niệm an tịnh ‘‘Etadeva titikkhāya, vajjaṃ passāmi vāsava = Thưa Ngài Vāsava, tôi thấy là điều sai lầm khi thực hành pháp nhẫn nại Yadā naṃ maññati bālo, bhayā myāyaṃ titikkhati = kẻ ngu nghĩ rằng “hắn nhẫn nại vì sợ ta” Ajjhāruhati dummedho, gova bhiyyo palāyina’’nti = kẻ u mê càng bám sát theo Ngài giống như bò rượt người sợ chạy ‘‘Kāmaṃ maññatu vā mā vā, bhayā myāyaṃ titikkhati = hãy để kẻ ngu muốn nghĩ hay không nghĩ “hắn nhẫn nại vì sợ ta” Sadatthaparamā atthā, khantyā bhiyyo na vijjati = trong những thành tựu tối thượng của sự tu tập không gì qua nhẫn nại ‘‘Yo have balavā santo, dubbalassa titikkhati = Người thật sự mạnh khi có thể kham nhẫn với kẻ yếu Tamāhu paramaṃ khantiṃ, niccaṃ khamati dubbalo = kham nhẫn với kẻ yếu kém hơn mình luôn là sự kham nhẫn cao cả ‘‘Abalaṃ taṃ balaṃ āhu, yassa bālabalaṃ balaṃ = cái mạnh của cuồng nộ là cái mạnh không thật sự mạnh. Balassa dhammaguttassa, paṭivattā na vijjati = không ai có thể khiển trách người mạnh do thiện pháp hộ trì ‘‘Tasseva tena pāpiyo, yo kuddhaṃ paṭikujjhati = lấy hung bạo đáp trả hung bạo khiến sự việc tệ hại hơn cho chính mình Kuddhaṃ appaṭikujjhanto, saṅgāmaṃ jeti dujjayaṃ = không lấy hung bạo đáp trả hung bạo là chiến thắng trận khó thắng ‘‘Ubhinnamatthaṃ carati, attano ca parassa ca = Người thực hành sự lợi lạc cho cả hai bản thăn và tha nhân Paraṃ saṅkupitaṃ ñatvā, yo sato upasammati = khi biết đối thủ giận dữ thì nên chánh niệm an tịnh ‘‘Ubhinnaṃ tikicchantānaṃ, attano ca parassa ca = người có thể chữa lành cho cả hai bản thân và đối thủ Janā maññanti bāloti, ye dhammassa akovidā’’ti = quần chúng nghĩ là ngu vì họ không thiện xảo trong Pháp.
Vepacitta là vị thiên cao tuổi hơn Thiên chủ Sakka và đứng
đầu trong số các a tu la vương ở cõi Đạo lợi. Có nhiều phép
thuật mà mưu trí nhưng tánh tình gàn dở. Mātali
là vị thiên điều khiển thiên xa của Thiên chủ Đế
Thích. Qua nhiều đoạn kinh và Sớ giải cho thấy Mātali là một
người tâm giao tín cẩn hơn là một người phục dịch. Theo
Sớ giải thì Mātali suy nghĩ theo quan niệm chuyên chế theo
quyền lực trong lúc Thiên chủ Đế Thích thì theo quan niệm
nhân từ. Hai quan niệm nầy vốn đối lập trong nền tảng trị
vì. Sớ giải cũng nói thêm là quan niệm chuyên chế gần với
cách nhìn của những a tu la.
Sadatthaparamā atthā, khantyā bhiyyo na vijjati được dịch là
“trong những lợi lạc của
tự thân không gì qua nhẫn nại” y cứ theo Sớ giải ”
(tesu saka-atthaparamesu atthesu khantito uttaritaro añño
attho na vijjati). Câu nầy Thiên chủ Đế Thích nói theo quan
niệm thường thức. Nếu theo pháp siêu thế thì không đơn giản
chỉ có nhẫn nại. Câu
Tamāhu paramaṃ khantiṃ, niccaṃ khamati dubbalo
(kham nhẫn với kẻ yếu kém hơn mình luôn là sự kham
nhẫn cao cả) hàm nghĩa khi mình mạnh mà khoan hoà với kẻ yếu
hơn thì mới thật sự là mạnh. Trái lại thái độ “thượng đội,
hạ đạp” là tư cách tầm thường của phần đông. Theo Sớ giải chữ
Dhammaguttassa
chỉ cho cả hai ý nghĩa:
người hộ trì pháp hay người được pháp hộ trì
(dhammena
rakkhitassa dhammaṃvā rakkhantassa).
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |