|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, ngày 18, tháng 11, 2022 MÔN HỌC THẮNG PHÁP PHỔ THÔNGTHẮNG PHÁP TẬP YẾU (ABHIDHAMMA SANGAHA)
(1) Moho, (2) ahirikaṃ, (3) anottappaṃ, (4) uddhaccaṃ, (5) lobho, (6) diṭṭhi, (7) māno, (8) doso, (9) issā, (10) macchariyaṃ,
(11) kukkuccaṃ, (12) thīnaṃ, (13) middhaṃ, (14) vicikicchā cā ti cuddas’ime cetasikā akusalā nāma.
14 thuộc tánh gọi là bất thiện
gồm có: si, vô tàm, vô quý, trạo cử, tham, (tà) kiến, mạn,
sân, tật, lận, hối, hôn trầm,
thuỵ miên, nghi
hoặc. ahirika = vô tàm anottappaṃ = vô quý uddhaccaṃ = trạo cử lobha = tham diṭṭhi = (tà) kiến māna = mạn dosa = sân issā = tật macchariyaṃ = lận kukkuccaṃ = hối thīnaṃ = hôn trầm middhaṃ = thuỵ miên vicikicchā = nghi hoặc cuddasa = 14
Chú thích
Chánh văn của nguyên tác khi nói về nhóm thuộc tánh bất thiện thì
rất ngắn gọn.
Tuy vậy để hiểu rõ và dễ nhớ cần được phân nhóm: nhóm si
phần gồm bốn thuộc tánh: si, vô tàm, vô quý, giao động; nhóm
tham phần gồm ba thuộc tánh: tham, (tà) kiến, mạn; nhóm sân
phần gồm 4 thuộc tánh: sân, tật, lận, hối; nhóm hôn phần
gồm: hôn trầm, thuỵ miên;
nghi hoặc đúng riêng lẻ một mình. Sự phân nhóm nầy
không đơn giản vì cùng thể loại mà do những lý do đặc biệt.
Thí dụ thuộc tánh lận (keo kiết, bỏn xẻn) theo cách hiểu
bình thường thuộc về tham nhưng theo Thắng Pháp thì nằm
trong nhóm sân phần. Nên lưu ý về trạng thái của từng thuộc
tánh, vốn rất dễ hiểu trong loại thuộc tánh bất thiện, và
nhóm nào mà mà mỗi thuộc tánh được liệt kê. Điều nầy sẽ soi
sáng một số khía cạnh rất lợi lạc khi học về thuộc tánh của
tâm.
Trong ba loại thuộc tánh của tâm
là tợ tha, bất thiện và tịnh hảo thì các thuộc tánh bất
thiện tương đối dễ hiểu ngay cả trong cách nói vĩ mô.
14 thuộc tánh bất thiện đều có thể hiểu như thường được
định nghĩa trong Kinh Tạng với rất ít sai biệt. Nói rõ hơn
những thuộc tánh tịnh hảo như tín, niệm, tàm, quý ..v.v.. mang ý nghĩ vĩ mô có phần khác với
với những pháp có tên gọi tương tự trong Kinh Tạng. Trong
lúc những thuộc tánh bất thiện như si, vô tàm, vô quý ..v.v..
thì hoàn toàn tương tự.
Cần phân biệt tâm bất thiện và
thuộc tánh bất thiện.
Tâm bất thiện có ba thứ là tâm tham, tâm sân, tâm si. Thuộc tánh bất
thiện có 14 là si, vô tàm, vô quý, phóng dật, tham, tà kiến,
mạn, sân, tật, lận, hối, hôn trầm, thuỵ miên và hoài nghi.
Sự phối ngẫu giữa 14 thuộc tánh bất thiện đối với 3 thứ tâm
bất thiện cho thấy nhiều khía cạnh tế nhị trong tâm lý học
Phật giáo. Thí dụ trong quan niệm bình thường thì tà kiến là
si mê nhưng trong Thắng Pháp nói rõ tà kiến chỉ có mặt trong
tâm tham.
Nên hiểu sự khác biệt giữ thuộc
tánh bất thiện và pháp bất thiện theo Kinh Tạng giống như sự
khác biệt giữa màu gốc và màu pha.
Có sự sai biệt lớn giữa bảng liệt kê thuộc
tánh bất thiện trong Thắng Pháp Tạng và bảng liệt kê
các pháp bất thiện trong Kinh Tạng. Thí dụ như ganh tị hoặc
bỏn xẻn được xem là thuộc tánh bất thiện trong lúc ngoan cố
hoặc giả dối thì không có. Đi vào thuộc tánh của tâm cho
thấy có những trạng thái bất thiện thuộc căn để và có những
trạng thái bất thiện là sự hỗn hợp. Điều nầy tương tự như
trong hội hoạ từ ba màu gốc là xanh, vàng, đỏ có thể pha ra
thành rất nhiều màu khác.
Có sự giới hạn cần biết của cách
trình bày vĩ mô.
Không phải ở bất cứ phương diện nào thì sự đào sâu vào các
thuộc tánh của cho thấy cái nhìn sâu sắc về các pháp. Nên
nhớ nói về các thuộc tánh là nói theo cách vĩ mô. Thí dụ như
trường hợp thuộc tánh tham không nói hết vai trò của ái
trong tứ đế và giáo lý duyên khởi mà chỉ mô tả là sự dính
mắc đối với cảnh. Cái nhìn tổng quát sẽ được nói ở những
phần khác. Riêng trong phần thuộc tánh thì cần giới hạn
trong trạng thái được đề cập.
Bài học ngày
4.11.2022
Nhóm Thuộc Tánh Si Phần (akusalacetasika)
Nhóm thuộc tánh si phần gồm 4 thuộc tánh bất thiện tạo nên
sự mê lầm trong tất cả tâm bất thiện. Những thuộc tánh nầy
được gọi là
nhóm thuộc tánh bất thiện biến hành
vì có mặt trong tất cả tâm bất thiện. Gọi là si phần vì mang
đặc tính làm mê mờ. Đây là một trong những khía cạnh rất
quan trọng khi nói về phiền não trong Phật học.
Từ vĩ mô tới quy mô.
Trong bốn thuộc tánh si, vô tàm, vô quý, trạo cử của nhóm
nầy thì thuộc tánh si mang chiều kích rộng lớn đến mức khó
hiểu. Giống như một quân sư có tà ý không những chỉ ảnh
hưởng tai hại đến cái nhìn của vị vua mà còn làm hỏng cả
triều đình, quốc sách, cả nhiều thế hệ. Thuộc tánh si là một
thành tố chi phối toàn bộ tâm bất thiện; chẳng những vậy còn
trực tiếp hay gián tiếp chi phối tất cả sở hành dù thiện hay
bất thiện tạo nên nghiệp quả sanh tử trong dòng hiện hữu
luân hồi.
Không phải chỉ là thụ động mà là manh động.
Trong cách hiểu qua ngôn ngữ thì si là không sáng suốt, vô
tàm là không có hổ thẹn, vô quý là không có ghê sợ, trạo cử
là không an định. Những “cái không” có thể bị hiểu một cách
thụ động là “sự thiếu vắng”. Trên thực tế đây là những thuộc
tánh manh động. Si ở đây không đơn giản là vắng mặt của trí
tuệ mà là một thứ hoả mù khiến tâm không thấy biết xác thực.
Khi đi sâu vào ý nghĩa của từng thuộc tánh sẽ thấy những
thành tố nầy mang tánh cách manh động chứ không thụ động.
Không có những thứ nầy thì không gọi là bất thiện.
Có những trạng thái thoạt nghe như tự nhiên không có gì đáng
gọi là bất thiện thí dụ như hoài nghi, hôn trầm, thuỵ miên..
Nhưng theo Thắng Pháp thì khi những trạng thái đố đi chung
với 4 thuộc tánh bất thiện biến hành thì không thể gọi là
“vô tội vạ”. Phải hiểu theo cách nầy thì mới thấy được được
tại sao phiền não (kilesa) được giải thích theo Thắng Pháp
có những ý nghĩa quan trọng. Những trạng thái nầy đôi khi
quá tế nhị để nhận diện nếu không đủ chánh niệm.
Thuộc tánh si (mohacetasika)
Si ở đây không phải là sự mê mờ mà là cái làm cho mê mờ.
Giống như khói mù khiến mắt không thấy được sự vật. Khi si
hiện hữu không đơn giản là không có khả năng hiểu mà
là không chịu hiểu. Giống như trường hợp một số người
vì quá sùng bái một lãnh tụ cho dù lãnh tụ đó có những hành
động hay lời nói sai quấy họ cũng không muốn hiểu là khuyết
điểm mà luôn cố gắng giải thích tại sao có lý do chánh đáng
để lãnh tụ đó có hành động như vậy. Si chính là vô minh
(avijjā) lực đẩy chính của dòng hiện hữu sanh tử.
Thuộc tánh vô tàm (ahirikacetasika)
Vô tàm là sự trơ trẽn, bất chấp. Thường được định nghĩa theo
ngôn ngữ là không hổ thẹn tội lỗi. Ahirikacetasika
mang ý nghĩa manh động hơn là đơn thuần sự vắng mặt của hổ
thẹn. Trạng thái nầy có thể hiểu qua thí dụ khi người ta mặc
một cái áo mới nếu có một vết bẩn nhỏ thì áy náy nhưng khi
chiếc áo lấm tấm nhiều vết dơ thì cảm giác bình thường.
Thuộc tánh vô quý (anottappa)
Vô quý là sự liều lĩnh, khinh suất. Vô quý không đơn giản là
là sự không biết sợ như một đứa trẻ chơi dao mà không hiểu
sự nguy hiểm.
Có thể thí dụ vô quý như tâm trạng của một người thích đua
xe gắn máy (motorbike) đùa giỡn với nguy hiểm. Một khía cạnh
khác để hiểu về vô quý là “sự quen lờn”. Khi đại dịch mới
xẩy ra người ta cẩn trọng nhưng khi đại dịch kéo dài quá lâu
và con số người lây nhiễm quá nhiều thì dễ khiến người ta
chai lì.
Thuộc tánh trạo cử (uddhacca)
Trạo cử là sự lăng xăng, đối lập với điềm đạm. Trạng thái
nầy thường được hiểu là giao động - một trạng thái bị động.
Kỳ thật không phải vậy. Có thể thí dụ trạng thái nầy giống
như bản chất của một đám đông kỳ thị khi nghe một chuyện gì
không tốt về những người mình ghét thì sẳn sàng “nhốn nháo”
lên mà không thể có thái độ xử trí với tâm thái điềm đạm.
Bài học ngày 11.11.2022
Nhóm Thuộc Tánh Tham Phần Nhóm
thuộc tánh tham phần bao gồm ba thuộc tánh: tham, tà kiến,
ngã mạn. Nếu nhóm si phần là phần chìm của phiền não như rễ
cây thì nhóm tham phần là sự phô diễn như hoa, lá, cành.
Thuộc tánh Tham
(lobhhacetasika) Tham ở
đây được hiểu là tham luyến, dính mắc, không thể buông xả.
Phân biệt đẹp xấu, hay dở, ngon không ngon ..v.v..
không phải là tham. “Thích” hay vừa ý cũng không hẳn là
tham. Lấy thí dụ các vị A la hán như Đức Phật, Ngài
Sāriputta vẫn thấy thành Vesāli đẹp nhưng không có tham
luyến.
Thuộc tánh tà kiến
(diṭṭhicetasika) Tà
kiến ở đây nghĩa là chấp sai: muốn cái gì đó phải đúng cho
dù rất sai. Hiểu lầm chưa hẳn là tà kiến. Thấy ông A mà
tưởng ông B vì hai người có nét giống nhau thì cái hiểu sai
nẩy là lầm tưởng chứ không phải tà kiến. Một người có khuynh
hướng về ngã tính khi nhìn mọi hiện tượng sắc, thọ, tưởng,
hành, thức thì chấp kiến đó là tự ngã thì đó là tà kiến.
Phải thấy được ý nghĩa nầy mới hiểu tại sao trong Thắng Pháp
trạng thái chấp kiến sai lạc không nằm trong nhóm si phần mà
nằm trong nhóm tham phần.
Thuộc tánh ngã mạn
(mānacetasika) Có lẽ
thuộc tánh nầy gọi là mạn ít bị hiểu lầm hơn là ngã mạn.
Chấp ngã thuộc tà kiến. Mạn đơn thuần là nặng tánh cá nhân
(individualism). Mạn ở đây là quan niệm theo cách so sánh
giữa cá nhân với người khác. Nói cách khác là chấp thủ “nhân
ngã bỉ thử”. Sự so sánh nầy cho dù thấy mình hơn người, bằng
người hay thua người đều nằm trong mạn.
Cần hiểu nhóm tham phần qua cả hai bình diện Kinh Tạng và
Thắng Pháp Tạng. Trong
ba thuộc tánh tham phần là tham, tà kiến, ngã mạn đều cần
được hiểu qua cả hai phương diện vĩ mô và quy mô. Ba trạng
thái nầy nằm trong rất nhiều thể tài, chi pháp trong Tam
Tạng. Phải có cái nhìn toàn diện và sự hiểu biết căn gốc mới
tránh được những định nghĩa hạn hẹp.
Nhận thức với sự kết hợp giữa pháp học và pháp hành Ái
chấp, kiến chấp và mạn chấp là ba sự chấp thủ rất tế nhị mà
hành giả cần luôn quán chiếu. Đức Phật lập đi lập lại nhiều
lần ở nhiều bài kinh về tâm niệm “đây không phải là của ta,
không phải ta, không phải là tự ngã của ta”. Không đủ tinh
tế để nhận thức tất cả sở đắc, sở chứng như vậy không phải
chỉ khiến người tu tập dậm chân mà còn đi vào con đường sai
lạc.
Có sự khác biệt lớn trong cách dùng từ theo thường thức và
theo thuật ngữ Thắng Pháp. Ba tên
gọi của ba thuộc tánh tham, tà kiến, ngã mạn vốn rất phổ
thông trong thường thức cũng như Phật học. Người học cần có
sự cẩn trọng như tham không chỉ là “ham muốn tà vạy, quá
mức”; tà kiến không chỉ là quan niệm sai lầm có tánh cách
tôn giáo mà ngay cả thân kiến cũng là tà kiến; ngã mạn không
phải là chấp kiến về ngã (thuộc tà kiến). Nên hiểu theo ý
nghĩa chuyên môn.
Bài học ngày
18.11.2022
Nhóm Thuộc Tánh Sân Phần
Nhóm thuộc tánh sân phần gồm có bốn: sân, tật, lận, hối. Cả
bốn đều có chung tánh cách là khó chịu với cảnh. Một cách
thú vị trong sân phần chỉ nêu bốn pháp bản thể mà không đề
cập tới những trạng thái thường nhắc tới trong đời sống hằng
ngày như lo lắng, sợ hãi ..v.v.. Những trạng thái đó
được xem là “màu pha” chứ không phải “màu gốc”.
Thuộc tánh sân (dosa)
Sân là sự khó chịu đối với cảnh. Từ trạng thái phật ý nhỏ
cho đến hận thù đều là
sân. Sân được xem là đối lập với dục ái. Còn dục ái
thì còn sân. Hễ ưa chuộng cái nầy thì ghét cái đối lập. Sân
tạo nên sự nóng nảy của tâm; được mô tả là không ưa sự hiện
hữu của cảnh không vừa ý.
Thuộc tánh tật
(issā)
Tật hay tật đố là sự ganh ghét với cái có, cái được của
người khác. Sự khó chịu của tật không phải chỉ là sự so đo
mà là ghen ghét cái người khác có đôi khi chỉ đơn thuần là
sự đố kỵ.
Thuộc tánh lận (macchariya)
Lận – nói rõ hơn là xan lận – là không muốn mất cái mình có
nên khó chịu khi thấy phải san sẻ hay mất đi. Ở cường độ
mạnh thì tật là bỏn sẻn keo kiết. Sự xan lận ở đây không
phải chỉ đối với tiền bạc, tài sản mà ngay cả đối với kiến
thức hoặc sở đắc ..v.v..
Thuộc tánh hối
(Kukkucca)
Hối là nuối tiếc. Có thể là sự hối hận đã làm điều ác quấy
hoặc hối tiếc việc thiện không làm. Đây là điểm thú vị trong
Phật học. Trong cái nhìn thường có thì ăn năn là cái gì hiền
thiện nhưng theo Thắng Pháp tâm trạng nuối tiếc thuộc tâm
sân. Trong Kinh Tạng cũng dạy rõ một người tự biết đã làm
sai thì nên “như pháp tỏ lộ” rồi tích cực làm điều tốt chứ
không nên sống trong ray rức.
Một lần nữa phải hiểu theo tính cách vĩ mô.
Trong ba thuộc tánh tham phần là tham, tà kiến, ngã mạn đều
cần được hiểu qua cả hai phương diện vĩ mô và quy mô. Ba
trạng thái nầy nằm trong rất nhiều thể tài, chi pháp trong
Tam Tạng. Phải có cái nhìn toàn diện và sự hiểu biết căn gốc
mới tránh được những định nghĩa hạn hẹp.
Ngôn ngữ thông thường thường mang ý nghĩa rất nặng
Trong ngôn ngữ thông thường thì những trạng thái như sân
giận, ganh tị, keo kiết, hối tiếc được hiểu với tâm trạng
rất nặng nề. Những thuật ngữ được dùng cho các thuộc tánh
mang cả những hình thức tế nhị nhất. Thí dụ sự phật ý cũng
xem là một trạng thái sân, thoáng bâng khuâng nghĩ về cái đã
mất cũng là trạng thái sân. Như vậy chữ sân ở đây được dùng
với nhiều cường độ khác nhau từ thô đến tế chứ không phải
chỉ có sự nặng nề như câu nói “nổi tam bành lục tặc”
Những thuộc tánh sân phần tương đối là phiền não thô
Trái với quan niệm thường có sự khó chịu trước nghịch cảnh
theo Phật học chỉ có trong cõi dục giới. Điều nầy có nghĩa
là một khi đối với các chúng sanh ở cõi sắc giới và vô sắc
giới đau khổ không thể hiểu như sự buồn khổ trước nghịch
cảnh.
Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |