|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 19 tháng 11, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 224)
Bài
6. Kinh Tổ Chim (Kulāvakasuttaṃ)
-SỐNG ĐÚNG PHÁP TRONG MỌI TÌNH HUỐNG.
Người bình
thường luôn ưu tiên bảo vệ quyền lợi và mạng sống. Những bậc
thiện trí đúng nghĩa là người luôn bảo vệ những nguyên tắc
cao quý hay còn gọi là chánh pháp.
Thiên chủ Sakka chấp
nhận thà thua cuộc hơn là gây tổn hại cho sinh linh đó là
tâm đại bi. Từ cổ chí kim cũng có nhiều người chấp nhận cái
chết để không đi ngược lại với đạo lý mình tôn thờ. Đối với
bậc thiện trí, tinh anh phát tiết trong những khoảnh khắc
nghiệt ngã. Đôi lúc tạo nên kỳ tích.
Sāvatthiyaṃ. ‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, devāsurasaṅgāmo
samupabyūḷho ahosi. Tasmiṃ kho pana, bhikkhave, saṅgāme
asurā jiniṃsu, devā parājiniṃsu. Parājitā ca kho, bhikkhave,
devā apāyaṃsveva uttarenamukhā, abhiyaṃsveva ne asurā. Atha
kho, bhikkhave, sakko devānamindo mātali saṅgāhakaṃ gāthāya
ajjhabhāsi –
Tại Sāvatthi. Đức Thế Tôn thuyết như sau:
Này chư Tỳ khưu, thuở xưa chư thiên và a tu la dàn trận cho
một cuộc hỗn chiến.
Trong trận chiến ấy các a tu la thắng, chư Thiên bị bại. Chư
thiên bại trận lui về hướng bắc; các a tu la đuổi theo.
Này chư Tỳ khưu, lúc ấy Thiên chủ Sakka nói với người đánh
xe Mātali bằng kệ ngôn:
‘‘Kulāvakā mātali simbalismiṃ
Mātali hãy tránh
‘‘‘Evaṃ bhaddantavā’ti kho, bhikkhave, mātali saṅgāhako sakkassa
devānamindassa paṭissutvā sahassayuttaṃ ājaññarathaṃ
paccudāvattesi. Atha kho, bhikkhave, asurānaṃ etadahosi –
‘paccudāvatto kho dāni sakkassa devānamindassa sahassayutto
ājaññaratho. Dutiyampi kho devā asurehi saṅgāmessantīti
bhītā asurapurameva pāvisiṃsu. Iti kho, bhikkhave, sakkassa
devānamindassa dhammena jayo ahosī’’’ti.
Này chư Tỳ khưu, người đánh xe Mātali trả lời Thiên chủ
Sakka: "Thưa vâng, Tôn chủ". Rồi đánh xe thiên mã trở lui,
Này chư Tỳ khưu, các
a tu la chợt nghĩ: "Nay cỗ xe có ngàn con tuấn mã kéo của
Thiên chủ Sakka đã trở lui. Chư Thiên sẽ phản công các a tu
la lần thứ hai". Nghĩ vậy, họ sợ hãi lui vào trong thành trì
a tu la.
Này chư Tỳ khưu,
như vậy Thiên chủ Sakka nhờ chánh pháp thắng trận.
‘‘Kulāvakā mātali simbalismiṃ īsāmukhena parivajjayassu =
Này Mātali hãy tránh đừng để gọng xe va vào các tổ chim
Supaṇṇa thường được dịch là kim sí điểu là một loài chim ở
cõi trời tứ thiên vương và đạo lợi. Loài chim thuộc thiên
giới nầy cũng là một trong những lực lược bảo vệ thiên cung.
Vua của loài kim sí điểu gọi là Garuda. Simbalī là cây gòn (tiếng Anh gọi là
silk-cotton wood).
Trái non có thể ăn. Trái già có bông gòn bên trong. Khi trái
gòn thật già tự nở bung ra và bông gòn bay theo gió như mây
trắng bay. Theo Ngài Ananda Maitreya thì cây gòn ở cõi trời,
cũng như những sinh vật khác, có những đặc điểm thù diệu hơn
cõi người mặc dù trong kinh không nêu rõ. Loài kim sí điểu
thường làm tổ trên những cây gòn. Với thân tướng to lớn của
loài nầy thì những cây gòn trên thiên giới phải rất đồ sộ. Theo Sớ giải thì khi thiên xa của Đế Thích di chuyển tạo những
âm thanh như sấm sét nên khi xe tiến về phía rừng cây gòn
thì những kim sí điểu khoẻ mạnh bay đi chỗ khác còn những
chim con và chim già nua
nằm lại trong tổ và kêu vang hoảng hốt. Nghe tiếng
kêu thất thanh của loài chim khiến Thiên chủ Đế Thích trắc
ẩn và ra lệnh quay xe trở lui.
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |