|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 29 tháng 11, 2022 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG XI. TƯƠNG ƯNG SAKKA. PHẨM THỨ NHẤT (S. i, 227)
Bài
10. Kinh Ẩn Sĩ Miền Duyên Hải (Samuddakasuttaṃ)
-CƯỜNG QUYỀN KHÔNG QUA NHÂN QUẢ.
Có những người
do chiêu cảm nghiệp quả nên nắm địa vị cao trọng có thể tạo
niềm vui hay gây đau khổ cho người khác. Có khi vì tự thị mà
bất chấp nhân quả. Định lý muôn thuở là làm lành được vui,
làm ác bị khổ. Người thế gian sống thường dựa vào quyền lực
sanh sát trong lúc số ít người trí thì sống với niềm tin
nhân quả. Khác nhau là ở tầm nhìn.
Sāvatthiyaṃ. ‘‘Bhūtapubbaṃ, bhikkhave, sambahulā isayo
sīlavanto kalyāṇadhammā samuddatīre paṇṇakuṭīsu sammanti.
Tena kho pana samayena devāsurasaṅgāmo samupabyūḷho ahosi.
Atha kho, bhikkhave, tesaṃ isīnaṃ sīlavantānaṃ
kalyāṇadhammānaṃ etadahosi – ‘dhammikā kho devā, adhammikā
asurā. Siyāpi no asurato bhayaṃ. Yaṃnūna mayaṃ sambaraṃ
asurindaṃ upasaṅkamitvā abhayadakkhiṇaṃ yāceyyāmā’’’ti.
‘‘Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā –
seyyathāpi nāma balavā puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya,
pasāritaṃ vā bāhaṃ samiñjeyya evameva – samuddatīre
paṇṇakuṭīsu antarahitā sambarassa asurindassa sammukhe
pāturahesuṃ. Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto
kalyāṇadhammā sambaraṃ asurindaṃ gāthāya ajjhabhāsiṃsu –
Tại Sāvatthi. Này chư Tỳ
khưu, thuở xưa có nhiều ẩn sĩ cao đức
hiền thiện cộng trú trong những am tranh dọc
theo bờ biển.
Này chư Tỳ
khưu,
bấy giờ có trận ác chiến giữa chư thinê và a tu la. Những
ẩn sĩ cao đức hiền thiện
khởi lên ý nghĩ:
"Chư
Thiên sống như pháp, các A
tu
la sống phi pháp. Chúng ta có thể
bị
nguy hiểm từ phía A
tu
la. Vậy chúng ta hãy đến
gặp
A
tu vương Sambara
và xin được bảo đảm
sự bình an".
Này chư Tỳ
khưu, những
ẩn sĩ cao đức hiền thiện
như người tập thể hình co duổi cánh tay biến mất từ các am
tranh trên bờ biển hiện ra trước
A
tu vương Sambara
nói lên kệ ngôn:
‘‘Isayo sambaraṃ pattā, yācanti abhayadakkhiṇaṃ;
Ẫn sĩ gặp Sambara (Sambara):
‘‘Isīnaṃ abhayaṃ natthi, duṭṭhānaṃ sakkasevinaṃ;
Không thể cho bình an (Các ẩn sĩ):
‘‘Abhayaṃ yācamānānaṃ, bhayameva dadāsi no;
Chúng tôi cầu bình an
Hạt giống nào đã gieo
‘‘Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā
sambaraṃ asurindaṃ abhisapitvā – seyyathāpi nāma balavā
puriso samiñjitaṃ vā bāhaṃ pasāreyya, pasāritaṃ vā bāhaṃ
samiñjeyya evameva – sambarassa asurindassa sammukhe
antarahitā samuddatīre paṇṇakuṭīsu pāturahesuṃ. Atha kho,
bhikkhave, sambaro asurindo tehi isīhi sīlavantehi
kalyāṇadhammehi abhisapito rattiyā sudaṃ tikkhattuṃ
ubbijjī’’ti.
Này chư Tỳ khưu,
những ẩn sĩ cao đức hiền thiện
sau khi thốt lời chú nguyện răn trị Sambara
như người tập thể hình co
duổi cánh tay biến mất trước
A
tu vương
hiện ra tại các am
tranh trên bờ biển.
Này chư Tỳ khưu, A
tu vương Sambara
bị những ẩn sĩ cao đức hiền thiện
chú nguyện như vậy ngay trong đêm ấy bị hốt hoảng thức giấc
ba lần.
Kāmaṃkaro hi te dātuṃ, bhayassa abhayassa vā’’ti = Ngài có thể cho những gì mình muốn dù bình an hay bất an ‘‘Isīnaṃ abhayaṃ natthi, duṭṭhānaṃ sakkasevinaṃ = không thể ban bố sự binh an cho các ấn sĩ, những kẻ xấu theo phe Sakka Abhayaṃ yācamānānaṃ, bhayameva dadāmi vo’’ti = nên xin bình an thì ta cho bất an ‘‘Abhayaṃ yācamānānaṃ, bhayameva dadāsi no = chúng tôi xin bình an, Ngài lại cho hiểm nguy Paṭiggaṇhāma te etaṃ, akkhayaṃ hotu te bhayaṃ = chúng tôi nhận điều ấy từ Ngài, mong sự bất an luôn đến với Ngài. ‘‘Yādisaṃ vapate bījaṃ, tādisaṃ harate phalaṃ = gieo nhân nào thời gặt quả nấy. Kalyāṇakārī kalyāṇaṃ, pāpakārī ca pāpakaṃ = làm lành thì gặt quả lành, làm ác thời gặp quả xấu Pavuttaṃ tāta te bījaṃ, phalaṃ paccanubhossasī’’ti = Hỡi Ông bạn, hạt giống đã gieo thời sẽ gặt quả.
Theo
Từ Điển Danh Từ Riêng Pāli thì Sambara là một chức vị cao
nhất trong hàng a tu la thiên chứ không phải là tên riêng.
Ngôi vị nầy được thừa kế bởi nhiều thế hệ a tu la. Theo
Sớ giải nhiều trận chiến giữa Chư thiên và A tu la xẩy ra
trên đại dương. Khi a tu la bại trận thường chạy vào bờ tàn
phá nhà cửa xóm làng. Chư thiện thần thì không bao giờ làm
vậy. Các ẩn sĩ giới hạnh chỉ nhặt lá rơi lợp mái nên mất
thời gian dài để dựng lại am thất nên đến gặp a tu la vương
để xin được an ổn. Câu
Kāmaṅkaro hi te dātuṃ được Sớ giải chú thích là “ban bố tuỳ theo ý muốn”. Nói cách
khác muốn cho bình an thì bình an, muốn cho bất an thì bất
an. Từ khi
bị các ẩn sĩ chú nguyện, A tu la vương Sambara thường
có tâm tánh bất thường (cittam vepati) nên có biệt
danh là Vepacitti. Do nguyên nhân nầy khi luyện chú thuật bị
“tẩu hoả nhập ma” (sẽ đề cập ở một bài kinh sau nầy)
Chuyển dịch và biên soạn Giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |