|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Sáu, 03 tháng 11, 2023 MÔN HỌC BỔ TÚC TIẾP TỤC BÀI HỌC TỨ VÔ LƯỢNG TÂM- TÂM BI
"Được sanh trong cảnh người thật là hy hữu. [Phần I]
Con người
là một chúng sanh huyền bí có nhiều tiềm năng phi thường.
Có hai
năng lực trái ngược luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm trong mỗi
người. Một, hướng về trạng thái cao thượng trong sạch, đặc
tính của bậc thánh nhân và một, hướng về những điều tội lỗi
nhơ bẩn, của kẻ sát nhân tàn bạo. Cả hai tiềm lực nầy đều có
thể phát sanh bất ngờ với một sức mạnh vô cùng hùng hậu.
Xuất phát từ đâu? Nào ai biết. Chỉ biết rằng nó luôn luôn
nằm bên trong ta, nhiều hay ít, mạnh hay yếu,tùy trường hợp.
Trong
guồng máy phức tạp của con người, có cái tâm vô cùng dũng
mãnh. Tâm chứa đựng một kho tàng đức hạnh và một hầm tật
xấu. Người biết vun bồi đức hạnh là một phước lành cho nhân
loại. Kẻ bị tật xấu chi phối là một đại họa.
Những ai
có chí hướng trở thành bậc vĩ nhân cao thượng và hữu ích,
những ai muốn vượt lên trên đám đông quần chúng để phục vụ
nhân loại bằng cách nêu gương lành trong sáng và ban bố
những lời dạy hữu ích, những ai muốn tận dụng cơ hội quý báu
được sanh làm người, đều cố gắng gia công gội rửa các tật
xấu còn lại và phát triển những đức hạnh đang ngủ ngầm trong
tâm.
Khi khai
thác hầm mỏ là một điều khó. Để tìm mỏ kim cương, mỏ dầu,
hay một nhiên liệu quý báu khác, con người phải tốn hao biết
bao nhiêu tiền của và công lao, phải trãi qua biết bao hiểm
nguy gian khổ, đôi khi phải hy sinh cả mạng sống, để đào sâu
trong đất. Nhưng, để khai thác kho tàng vô giá đang ngủ ngầm
bên trong mình, chỉ cần kiên trì cố gắng và nhẫn nại gia
công. Mọi người, dầu trai hay gái, sang hay hèn, đều có thể
chuyên cần nỗ lực và kiên tâm trì chí để thâu thập sự nghiệp
quý báu kia, vì đó không phải là một di sản do ông cha
truyền lại.
Thế
thường, ta coi tật xấu của con người là thiên tánh ngẩu
nhiên bộc phát. Âu cũng là một điều lạ! Cũng lạ thay, tuy
rằng đối chiếu với mỗi tật xấu có một phẩm hạnh xác thực mà
mọi người đều có thể thọ hưởng, ta lại không coi phẩm hạnh
ấy là thông thường, phải có.
Sân hận
(Dosa) là một tật xấu có sức tàn phá vô cùng khốc liệt. Đối
diện với lòng sân, tâm Từ (Metta) là một đức độ nhẹ nhàng êm
dịu làm cho con người trở nên cao thượng, tuyệt luân.
Hung bạo
(Himsa) là một tật xấu khác đã gây nên biết bao tội ác và
biết bao hành động bạo tàn trên thế gian. Tâm Bi (Karuna) là
vị thuốc công hiệu để tiêu trừ bệnh hung bạo.
Ganh tỵ
(Issa) là chất độc cho cơ thể, vừa là động lực thúc đẩy con
người vào những cuộc ganh đua nhơ bẩn và những hoàn cảnh
tranh chấp hiểm nguy. Phương thuốc trị liệu nhiệm màu và
công hiệu nhất để trị bệnh ganh tỵ là tâm Hỷ (Mudita).
Bám níu
vào những gì ưa thích, và bất toại nguyện với những điều
không vừa lòng làm cho tâm mất bình thản. Do sự phát triển
tâm Xả (Upekkha), hai tệ đoạn trên sẽ bị tiêu diệt dần dần.
Phạn ngữ
"Brahma Vihara" có nghĩa là lối sống cao thượng, trạng thái
cao siêu, hoặc chổ nương tựa của bậc thánh nhân. Ta gọi là
Tứ Vô Lượng Tâm.
Tứ Vô
Lượng Tâm giúp con người trở nên toàn thiện và có lối sống
của bậc thánh, trong kiếp hiện tại. Tứ Vô Lượng Tâm có khả
năng biến đổi người thường ra bậc siêu nhân, phàm ra thánh.
Nếu mỗi
người đều cố gắng công thực hành Tứ Vô Lượng Tâm, không phân
biệt tôn giáo, chủng tộc, nam nữ v.v... quả địa cầu nầy sẽ
trở thành một thiên đàng, trong đó tất cả chúng sanh chung
sống an vui trong tình huynh đệ, và mỗi người sẽ là một công
dân lý tưởng trong một thế giới thanh bình an lạc.
Bốn đức
độ cao thượng ấy cũng được gọi là "Appamanna", rộng lớn bao
la, vì Từ, Bi, Hỷ, Xả không bờ bến, không biên cương, không
bị hạn định. Tứ Vô Lượng Tâm bao trùm tất cả chúng sanh,
không trừ bỏ một sanh linh nhỏ bé nào. Từ, Bi, Hỷ, Xả là vô
lượng, vô biên.
Dầu theo
tôn giáo nào hay hấp thụ văn hóa nào, mỗi người đều có thể
trau giồi bốn đức độ nhẹ nhàng êm dịu ấy để trở nên một
phước lành, cho mình và cho kẻ khác. [Phần II]
1. Tâm Từ
(Metta)
Trạng
thái cao thượng đầu tiên là tâm "Từ ", tiếng Pali là Metta,
Sanskrit là Maitri.
Nghĩa
trắng của Metta là cái gì làm cho lòng ta êm dịu. Metta là
tâm trạng của người bạn tốt. Metta là lòng thành thật ước
mong rằng tất cả chúng sanh đều được sống an lành hạnh phúc.
Metta có khi cũng được định nghĩa là lòng mong mỏi chân
thành của người bạn hiền, thành thật muốn cho bằng hữu mình
được an vui hạnh phúc.
"Tâm Từ
phải được rãi khắp đồng đều cho mọi chúng sanh, phải bao
trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như tình thương của bà
từ mẫu đối với người con duy nhất, săn sóc, bảo bọc con, dầu
nguy hiểm đến tánh mạng cũng vui lòng." -- Metta Sutta (Kinh
Từ Bi).
So sánh
tâm Từ với tình mẫu tử trong đoạn kinh Metta Sutta (kinh Từ
Bi), Đức Phật không đề cập đến lòng trìu mến ít nhiều vị kỷ
của người mẹ. Ngài chỉ nhắm vào sự mong mỏi thành thật của
bà mẹ hiền, mong muốn cho người con duy nhất của mình được
sống an lành.
Tâm Từ
(Metta) không phải sự yêu thương thiên về xác thịt, cũng
không phải lòng trìu mến, luyến ái một người nào. Tình dục
và luyến ái là nguyên nhân của bao nhiêu phiền muộn.
Tâm Từ
(Metta) không phải là tình thương riêng biệt đối với láng
giềng, bởi vì người có tâm Từ không phân biệt người thân, kẻ
sơ.
Tâm Từ
(Metta) không phải chỉ là tình huynh đệ rộng rãi giữa người
và người, mà phải bao trùm tất cả chúng sanh, không trừ bỏ
sanh linh bé nhỏ nào, bởi vì loài cầm thú, các người bạn xấu
số của chúng ta, cũng cần nhiều đến sự giúp đỡ và tình
thương của ta.
Tâm Từ
(Metta) không phải là tình đồng chí, không phải là tình đồng
chủng, không phải là tình đồng hương, cũng không phải là
tình đồng đạo.
Tình đồng
chí chỉ biết những người cùng một chí hướng chánh trị, một
chủ nghĩa, hay một đảng phái như Dân Chủ, Cộng Hòa, Xã Hội
v.v...
Tình đồng
chủng chỉ giới hạn giữa những người cùng một chủng tộc, một
da màu.
Tình đồng
hương chỉ có giữa những người cùng một quốc gia. Đôi khi vì
tình đồng chủng con người nhẫn tâm tàn sát đến đàn bà và trẻ
con, chỉ vì những người vô tội nầy không được diễm phúc có
đôi mắt xanh và tóc vàng như họ. Người da trắng có cảm tình
riêng với người da trắng. Người da đen có cảm tình riêng với
người da đen, người da vàng với người da vàng, người da đỏ
với người da đỏ v.v... Cũng có khi vì một mặc cảm nào, một
dân tộc đem lòng nghi kỵ và lo sợ một giống dân khác. Lắm
lúc, để chứng minh rằng dân tộc mình cao trổi hơn dân tộc
khác, con người không ngần ngại dùng những phương tiện tàn
ác như gây chiến tranh, dội bom, nhã đạn, tiêu hủy cả triệu
sanh linh. Nhân loại ngày nay vẫn không bao giờ có thể quên
những thảm trạng đã xảy diễn trong thời Thế Chiến Thứ Nhì
vừa qua.
Cùng một
quốc gia, cũng có những tâm trạng hẹp hòi, hợp lại thành
từng nhóm để gây nên cái mà chúng gọi là tình huynh đệ giữa
những người cùng một giai cấp xã hội, một thứ tình thương
chỉ nằm vỏn vẹn trong phạm vi nhỏ hẹp của một số người có
quyền thế, để đàn áp một hạng người khác đến độ không cho
phép họ hưởng những nhân quyền sơ đẳng, chỉ vì những người
nầy rủi ro phải sanh trưởng trong một giai cấp hạ lưu. Chính
hạng người thượng lưu kia mới đáng thương hại, vì họ là
những người chỉ biết sống hẹp hòi bưng bít.
Tâm Từ
(Metta) cũng không phải là tình huynh đệ giữa những người
cùng một tôn giáo. Bởi sự hiểu biết hẹp hòi, gọi là "tình
đồng đạo", bao nhiêu đầu người đã rơi, bao nhiêu vĩ nhân đã
bị tù đày và đối xử khắc nghiệt. Bởi tình đồng đạo hẹp hòi,
bao nhiêu người phải bị thiêu sống một cách tàn nhẫn chỉ vì
thành thật nói lên ý tưởng của mình. Bao nhiêu hành động
hung bạo, bao nhiêu chiến tranh tàn khốc, đã làm hoen ố lịch
sử nhân loại cũng vì tình đồng đạo hẹp hòi.
Cho đến
thế kỷ thứ hai mươi nầy mà người ta cho là sáng suốt, nhân
loại vẫn còn chứng kiến những vụ tranh chấp võ trang, mà
nguyên nhân chỉ vì những người theo tôn giáo nầy không ép
buộc được những người khác tư tưởng như mình. Con người ghen
ghét nhau, thù hận nhau, chém giết lẫn nhau, chỉ vì không
cùng chung sống được với nhau dưới một nhãn hiệu.
Nếu vạn
nhất, vì không đồng tín ngưỡng mà những người khác tôn giáo
với nhau không thể nhìn nhau như anh chị em trong một đại
gia đình, thì sứ mạng của tất cả các vị giáo chủ trên thế
gian nầy hẳn thật đã thảm bại chua cay.
Tâm Từ êm
dịu vượt hẳn lên trên các tình huynh đệ hẹp hòi ấy. Phạm vi
của tâm Từ không bờ bến, không biên cương, không hạn định.
Tâm Từ không có bất luận một loại kỳ thị nào. Nhờ tâm Từ mà
ta có thể xem tất cả chúng sanh là bạn hữu, và khắp nơi trên
thế gian như chỗ chôn nhau cắt rún. Tựa hồ như ánh sáng mặt
trời, bao trùm vạn vật, tâm Từ cao thượng rãi khắp đồng đều
phước lành thâm diệu cho mọi người, thân cũng như sơ, bạn
cũng như thù, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, nam nữ,
hư hèn hay đạo đức, người hay thú.
Người có
tâm Từ vô lượng vô biên như thế ấy là Đức Phật, Ngài đã tận
tâm tạo an lành hạnh phúc cho tất cả những người thân yêu
kính mộ Ngài cũng như những người ganh tỵ, oán ghét, và
những người âm mưu ám hại Ngài.
Tâm Từ
của Đức Phật đối với Rahula (La Hầu La), con Ngài, không có
chút gì khác hơn là đối với Devadatta (Đề Bà Đạt Đa), người
đã coi Ngài là thù nghịch và với Đại Đức Ananda (A Nan), vị
thị giả thân tín rất kính mến Ngài...
Tâm Từ
bao la rộng rãi, đồng đều, đối với chính mình cũng như đối
với những người thân cận, những người không quen biết, và
những người có ác ý đối với mình. Như chàng kia đi trong
rừng với một người bạn, một người không quen biết, và một
người thù, gặp một tướng cướp dữ tợn. Tên cướp quyết định
phải giết một người. Nếu anh chàng chịu hy sinh mạng sống để
cứu các bạn đồng hành thì ra anh thiếu tâm Từ đối với chính
mình. Nếu anh tính rằng một trong ba người kia đáng chịu hy
sinh thì anh lại không có tâm Từ đối với người ấy.
Tâm Từ là
như vậy. Có lòng từ ái đối với người khác không có nghĩa là
phải quên mình. Hy sinh mạng sống mình vì một lợi ích nào là
một đức độ cao thượng khác, và không chấp ngã là một loại
tâm cao thượng khác nữa. Đó là quan điểm tế nhị mà ta không
nên lầm lộn.
Người
thực hiện tâm Từ đến mức cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với
tất cả chúng sanh, không cón sự khác biệt giữa mình và
người. Cái gọi là "Ta" lần lần mở rộng, lan tràn cùng khắp
càn khôn vạn vật. Mọi sự chia rẽ đều tiêu tan, biến mất như
đám sương mờ trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng
thể, đồng nhất.
Thật ra
không có ngôn ngữ nào diễn tả đúng nghĩa chữ "Metta" trong
tiếng Pali. Thiện ý, từ ái, hảo tâm, bác ái, là những danh
từ tạm gọi là đồng nghĩa với Metta mà thôi.
Nghịch
nghĩa với Metta là sân hận, ác ý, thù oán, ghen ghét. Tâm Từ
và sân hận không thể cùng phát sanh cùng một lúc. Thù oán
cũng không có thể chứa đựng Metta.
Đức Phật
dạy rằng:
"Không
thể lấy thù oán để diệt sân hận, chỉ có tâm Từ mới dập tắt
lòng sân."
Không
những dập tắt được lòng sân, tâm Từ (Metta) còn diệt trừ các
mầm tư tưởng bất thiện đối với người khác. Người có tâm Từ
(Metta) không bao giờ nghĩ đến làm hại, làm giảm giá trị,
hoặc bài xích ai, không bao giờ sợ ai, cũng không bao giờ
làm ai sợ.
Kẻ thù
gián tiếp thường mang lốt bạn của tâm Từ một cách sâu ẩn bất
ngờ là lòng trìu mến vị kỹ. Nếu quan niệm không đúng, tâm Từ
có thể dễ dàng trở thành luyến ái. Kẻ thù gián tiếp nầy thật
là tế nhị mà cũng thật hiểm độc. Nó hành động như một người
ẩn núp trong rừng sâu hay ở sau một sườn núi để chờ cơ hợi
ám hại một người khác. Trìu mến đem lại đau khổ. Tâm Từ chỉ
tạo an lành hạnh phúc.
Đây là
điểm tế nhị mà ta không nên hiểu lầm. Cha mẹ thương yêu trìu
mến con, con trìu mến thương yêu cha mẹ, vợ mến chồng, chồng
mến vợ. Tình thương và tâm luyến ái giữa những người thân
yêu là lẽ thường, là một sự kiện tự nhiên. Thế gian không
thể tồn tại nếu không có tình thương. Nhưng tình thương
luyến ái luôn luôn ích kỷ, hẹp hòi, không sánh được với tâm
Từ là tình thương đồng đều đối với tất cả chúng sanh trong
vũ trụ bao la. Do đó, tâm Từ không đồng nghĩa với tình
thương ích kỷ.
Cố ý mong
muốn làm cho kẻ khác được yên vui là đặc điểm quan trọng của
tâm Từ. Người có tâm Từ luôn luôn cố gắng tạo an lành cho
tất cả chúng sanh, chỉ thấy những gì tốt đẹp nơi mọi người
và không bao giờ nhìn phần xấu xa hư hỏng của một ai.
Tâm Từ
đem lại nhiều quả phúc:
1. Người
có tâm Từ luôn luôn ngủ được an vui. Ngủ với tâm trạng thơ
thới, không giận hờn, không lo âu sợ sệt, tự nhiên giấc ngủ
sẽ đến dễ dàng. Mỗi người đều có thể kinh nghiệm. Người có
tâm Từ nhắm mắt là ngủ, và ngủ ngon lành.
2. Khi
ngủ với tâm an lành, tự nhiên lúc tỉnh giấc, thức dậy cũng
với tâm an lành, với gương mặt vui vẽ.
3. Người
có tâm Từ không chiêm bao mộng mị, thấy những điều xấu xa,
ghê tợn. Dầu có nằm mộng cũng thấy điều lành.
4. Người
có tâm Từ đối với kẻ khác, tất nhiên sẽ gặt hái những tình
cảm ưu ái của mọi người. Khi nhìn vào gương, nếu mặt ta vui
vẽ hiền lành, phản ánh của nó sẽ hiền lành vui vẽ. Trái lại,
nếu mặt ta cau có quạu quọ, phản ảnh của nó ắt cũng cau có
quạu quọ. Cùng một thế ấy, thế gian bên ngoài là phản ánh
của những hành vi, tư tưởng thiện hay ác của con người.
Người hèn hạ xấu xa chỉ biết nhìn vào tội lỗi của kẻ khác.
Một thi
hào người Anh đã viết ra những dòng thơ rất đẹp đẽ và thâm
thúy có nhiều ý nghĩa:
Tôi nhìn
anh tôi qua kính hiển vi của sự Chỉ Trích
Trong con
người tốt nhất cũng có những điểm khuyết, mà trong con người
xấu nhất cũng có những điểm tốt. Tại sao ta chỉ nhìn phần
xấu xa tội lỗi mà không để ý đến phần tốt của người? Nếu mỗi
người đều nhìn vào phần tốt đẹp của nhau, nhân loại đã tìm
được nguồn hạnh phúc dồi dào vậy.
5. Người
có tâm Từ chắc chắn là bạn thân của nhân loại mà cũng là bạn
thân của tất cả chúng sanh. Loài cầm thú cũng lấy làm vui
thích được sống gần những bậc hiền nhân đạo đức. Càc vị tu
sĩ sống đơn độc một mình ở chốn rừng sâu, giữa đám sài lang
hổ bao, chỉ nhờ có tâm Từ để tự bảo vệ. Đức Phật có lần nói
rằng:
"Như Lai
sống trên một ngọn núi, giữa đám sư tử, cọp, beo, nai hươu,
các thứ, giữa rừng rậm cỏ hoang. Không một con vật nào sợ
Như Lai mà Như Lai cũng không sợ con vật nào. Chính nhờ oai
lực của tâm Từ nâng đỡ, bảo vệ và giúp Như Lai sống yên ổn."
6. Khi
thực hành đúng mức, tâm Từ có khả năng đổi dữ ra lành. Thuốc
độc không hại được người có tâm Từ , ngoại trừ trường hợp
người ấy phải trả một nghiệp xấu đã tạo trong quá khứ. Tâm
Từ giúp hành giả thêm sức khỏe và ngăn ngừa những ảnh hưởng
xấu xa từ bên ngoài. Tư tưởng độc ác đầu độc con người. Tư
tưởng trong sạch giúp con người trở nên lành mạnh.
Kinh sách
có chép lại chuyện bà Suppiya, một tín nữ giàu lòng bi mẫn
và có tâm đạo nhiệt thành. Bà Suppiya mang một vết thương
nặng trên vế. Hôm nọ, Đức Phật đi bát đến trước nhà, được
chồng bà cho biết rằng bà đang lâm bệnh không thể ra đảnh lễ
Ngài. Đức Phật bảo cứ đưa bà ra. Bà cố gắng đi lần ra cửa.
Vừa thấy mặt Đức Phật, vết thương bà bỗng dưng lành lại, bà
trở nên khỏe mạnh như thường. Chíng lòng thành kính trong
sạch của bà khi được diện kiến Đức Phật, hợp với năng lực
của tâm Từ mà Đức Phật rải đến, đã cứu bà khỏi bệnh.
Một đoạn
kinh khác thuật rằng khi Đức Phật trở về quê nhà lần đầu
tiên, con Ngài là Rahula (La Hầu La), lúc ấy vừa lên bảy,
đến gần Ngài và bạch:
"Bạch đức
Xa Môn, chỉ cái bóng của Ngài cũng đủ làm con mát mẽ lạ
thường."
Tâm Từ
của Đức Phật bao trùm lấy cậu bé Rahula và có một năng lực
hấp dẫn mạnh mẽ làm cho cậu vô cùng cảm kích.
7. Người
có tâm Từ luôn luôn được chư Thiên hộ trì.
8. Tâm Từ
được an trụ dễ dàng, vì không bị những tư tưởng trái ngược
khuấy động. Với tâm thanh bình an lạc, người có tâm Từ sẽ
sống ở cõi trời, và cõi trời ấy chính ta tạo ta. Chí đến
những ai lân cận tiếp xúc với người có tâm Từ cũng chứng
nghiệm được phước lành ấy.
Người có
tâm Từ gương mặt tươi sáng vì gương mặt là phản ánh của nội
tâm. Lúc giận, máu trong cơ thể chạy mau gấp đôi ba lần lúc
bình thường, trở nên nóng, dồn lên làm đỏ mặt tía tai. Tâm
Từ trái lại làm loại cho tinh thần vui vẽ, thân có cãm giác
thoải mái an lành, máu được thanh lọc trong sạch và gương
mặt hiền từ dễ mến. Kinh sách chép rằng sau khi Đức Phật
thành tựu Đạo Quả Phật, trong lúc ngồi tham thiền, suy luận
về pháp Nhân Quả Tương Quan (Patthana), tâm hoàn toàn an trụ
và máu trong cơ thể tuyệt đối thanh tịnh. Lúc ấy, từ bên
trong pháp thân Ngài phát tủa ra những ánh hào quang xanh,
vàng, đỏ, trắng, và màu cam, bao phủ lấy Ngài.
10. Người
có tâm Từ đến lúc lìa đời cũng được an vui, vì trong lòng
không chứa chấp tư tưởng sân hận. Sau khi tắt thở, gương mặt
tươi tỉnh ấy là phản ánh của sự ra đi vui vẽ an toàn.
11. Chết
an vui, người có tâm Từ sẽ tái sanh vào cảnh giới nhàn lạc.
Nếu đã
đắc Thiền (Jhana), người ấy sẽ tái sanh vào cảnh giới của
chư Phạm Thiên. [Phần III]
Năng Lực
Của Tâm Từ (Metta)
Ngoài
những lợi ích có tánh cách vật chất, tâm Từ còn có năng lực
hấp dẫn mạnh mẽ phi thường. Tâm Từ có thể gieo những ảnh
hưởng tốt đẹp từ xa đến một người khác. Mọi người đều cảm
thấy yên vui khi ở gần người lành.
Một hôm,
Đức Phật đến chỗ nọ. Trong hàng các thân hào đến đảnh lễ
Ngài , có một trưởng giả tên Roja, trước kia là bạn thân của
Đức Ananda. Thấy Roja, Đại Đức Ananda nói: "Sư lấy làm vui
mà thấy Roja hôm nay đến đây đảnh lễ ra mắt chào mừng Đức
Phật." Roja liền trả lời: "Thật ra tôi đến đây không phải tỏ
lòng thành kính Đức Phật. Sở dĩ chúng tôi đến đây hôm nay là
vì chúng tôi đánh cuộc với nhau rằng người nào không đến
đảnh lễ Đức Phật sẽ bị phạt năm trăm đồng vàng. Chính vì sợ
mất tiền mà tôi đến."
Đức
Ananda lấy làm thất vọng, đến bạch tự sự cho Đức Phật rỏ và
xin Ngài tế độ người bạn thân của mình. Đức Phật liền rãi
tâm Từ đến Roja, rồi trở về tịnh thất.
Lúc ấy
Roja thấy khắp thân châu mình đượm nhuần một luồng cảm xúc
mát mẽ lạ thường, dường như từ Đức Phật đưa đến. Bị cảm kích
quá mạnh, chàng không thể cưỡng kháng lại ý muốn gặp ngay
Đức Phật. Không khác nào bò con chạy theo mẹ, Roja chạy vào
chùa, từ tịnh thất nầy đến tịnh thất kia, để tìm Đức Phật.
Được chỉ dẫn đến nơi, Roja gỏ cửa. Cửa vừa mở, ông lật đật
đảnh lễ Đức Phật, rồi nghe Đức Phật giảng pháp và xin quy y.
Đó là một trường hợp cho thấy rằng tâm Từ có sức hấp dẫn
thật mạnh mà mỗi người đều có thể chứng nghiệm, tùy theo khả
năng của mình, vì cũng như các đức tánh khác trong Tứ Vô
Lượng Tâm, tâm Từ luôn luôn tiềm tàng ngủ ngầm bên trong mọi
người .
Trong một
tích chuyện khác, có người muốn hại Đức Phật, cho voi uống
rượu đến say rồi lùa chạy ngay lại phía Ngài. Con voi hung
tợn cắm đầu chạy đến Đức Phật, định làm dữ. Thản nhiên, Đức
Phật rải tâm Từ đến con voi và chế ngự trong khoảnh khắc.
Và sau
đây là một mẩu chuyện cho thấy đến mức độ nào một vị Bồ Tát
có thể rải tâm Từ vô lượng đến những người ở quanh mình, khi
cha Ngài hạ lệnh giết Ngài. Bồ Tát nghĩ như thế nầy:
"Đây là
cơ hội quý báu để ta thực hành tâm Từ. Đứng trước đây là cha
ta. Mẹ ta đang khóc than thê thảm. Kìa là đao phủ sẵn sáng
hành quyết ta, và ta đây là nạn nhân đang đứng ở giữa. Ta
phải rãi tình thương đồng đều đến tất cả bốn người. Ngưỡng
nguyện cha ta khỏi phải chịu quả xấu do hành động hung ác
nầy gây ra. Mong cầu cha ta, mẹ ta, tên đao phủ, và ta, được
hạnh phúc an vui, không đau khổ, không bệnh tật, không gây
oan trái. Nhờ năng lực tâm Từ nầy, ngưỡng nguyện rằng ngày
kia ta sẽ thành Phật."
Trong Vô
Lượng Tiền Kiếp, một ngày kia, khi Đức Phật còn là Bồ Tát,
đang hành Nhẫn nhục Ba la mật trong ngự uyển. Hôm ấy nhà vua
say rượu. Muốn thử xem hạnh nhẫn nhục của Ngài đến đâu, vua
truyền lệnh cắt tay và chân Ngài. Ngài vẫn điềm nhiên, lặng
lẽ hành pháp nhẫn. Vua lấy làm tức giận, dùng chân đá vào
ngực Ngài . Ngài ngã gục trên vũng máu, hoi hóp thở những
hơi thở cuối cùng, nhưng lòng vẫn bảo lòng:
"Người
như ta không bao giờ sân hận, thù oán."
Một vị tỳ
khưu xứng đáng phải có tâm Từ rộng rãi bao la. Không đào đất
cũng không bảo người đào, vì sợ rủi ro làm chết côn trùng.
Vị tỳ khưu chân chánh cũng không uống nước chưa lọc. Lời dạy
sau đây của Đức Phật cho ta một ý niệm thế nào là một tâm Từ
mà một vị tỳ khưu nên có:
"Nếu có
bọn cướp hung tợn dùng cưa cưa con ra từng mảnh và nếu con
sanh tâm tức giận hoặc căm thù kẻ cướp, chính lúc ấy con đã
không thực hành lời dạy của Như Lai."
Quả thật
rất khó chịu đựng và nhẫn nại đến mức ấy. Nhưng đó là mức
sống lý tưởng mà Đức Phật trông đợi hàng đệ tử Ngài cố gắng
thành đạt. Chính Đức Phật đã nêu gương lành cao thượng. Ngài
dạy:
"Như đàn
voi lâm trận không kể lằn tên mũi đạn, ta phải can đảm chịu
đựng những sự bất hạnh của đời. Phần lớn nhân loại sống
ngoài khuôn khổ giới luật. Ta phải có thái độ của đàn voi
lâm trận: mạnh tiến giữa rừng gươm đao giáo mác, bình tĩnh
hứng lấy những nỗi chua cay của đời, và thản nhiên vững bước
trên đường phạm hạnh."
Chúng ta
đang sống trong một thế gian hỗn loạn, giữa những tình thế
căng thẳng và luôn luôn lo sợ hiểm họa chiến tranh. Các quốc
gia ngày nay ráo riết võ trang chống đối lẫn nhau và nhân
loại không ngớt phập phồng chờ đợi một loại võ khí nguyên tử
thình lình từ không trung rơi xuống.
Trong giờ
phút nầy, thế gian ắt đang trông đợi một tâm đại từ bi cứu
khổ đễ mỗi người được sống an lành trong cảnh thái bình và
thuận hòa trong tình huynh đệ.
Ta tự
hỏi: "Trước sự hăm dọa của bom đạn, trên thực tế có thế nào
ta bình thản thực hành tâm Từ được không?" Một người thường
có thể làm gì để chống lại đám mưa bom? Trong tay không có
một món vũ khí, người dân thường có thể làm gì để chặn đứng
lằn tên mũi đạn?
Trước cái
chết sắp đến, tâm Từ của Phật Giáo là một khí giới ôn hòa và
hữu hiệu để ngăn ngừa bom đạn.
Nếu các
quốc gia hiếu chiến khứng chịu đem tâm Từ thay thế vũ khí để
cai trị thế gian bằng công lý và tình thương, thay vì bạo
lực cường quyền, thì nhân loại ắt được an cư lạc nghiệp và
hạnh phúc lâu dài.
Sau đây
là một vài chỉ dẫn thực tế để thực hành tâm Từ.
Trước
tiên, hành giả phải gieo trồng tâm Từ cho chính mình. Muốn
vậy, phải rãi khắp thân và tâm những tư tưởng an vui hạnh
phúc. Hành giả tưởng niệm:
"Tâm tôi
rất yên tĩnh, thân tôi rất an vui. Tôi không bệnh họan,
không phiền não, không lo âu, không sân hận. Tôi thể hiện
tâm Từ. Hào quang từ ái bao phủ chung quanh tôi, dập tắt mọi
tư tưởng ích kỹ, mọi xúc động thù nghịch. Tôi không còn cảm
xúc trước cơn xung nộ xấu xa của kẻ khác. Tôi đáp lại cái
xấu bằng cái tốt, sân hận bằng tâm Từ."
Hằng ngày
rèn luyện tinh thần như thế, dần dần hành giả trở nên vô
cùng quãng đại, quên tất cả những điều xấu xa của kẻ khác và
giữ tâm hoàn toàn trong sạch, không còn bợn nhơ sân hận, oán
thù.
Ánh sáng
hạnh phúc tủa ra khắp thân châu, hành giả ban rải hạnh phúc
ấy đến người khác bằng những tư tưởng an lành và bằng những
hành động vị tha, thể hiện tâm Từ, trong cuộc sống hằng
ngày.
Khi tâm
được an vui và không bị những tư tưởng sân hận làm chao
động, hành giả sẽ dễ dàng rãi tâm Từ đến cho kẻ khác. Ta
không thể cho ai một vật mà chính ta không có. Trước khi
muốn làm cho người khác được an vui, chính hành giả phải
được an vui, phải biết làm thế nào cho mình được an vui.
Hành giả rãi tâm Từ đến thân bằng quyến thuộc, riêng từng
người, rồi đến toàn thể, và ước mong mọi người đều lành xa
phiền não, bệnh tật, lo âu, sân hận.
Hành giả
cũng rãi tâm Từ đến bạn bè và những người không quen biết và
thành thật ước mong cho những người nầy, như trước kia đã
ước mong cho mình và thân bằng quyến thuộc mình được an vui,
hạnh phúc và lánh xa phiền não, bệnh tật, lo âu, sân hận.
Sau cùng,
mặc dầu là khó, hành giả rãi tâm Từ đến cho những người có
ác ý với mình, nếu có. Rãi tâm Từ đến những người coi mình
là thù nghịch, lấy thái độ ôn hòa đối lại những cử chỉ bất
hòa là hành động của bậc anh hùng quân tử, đáng được làm
gương cho đời. Đức Phật dạy: "Hãy giữ tâm luôn luôn trong
sạch giữa đám người đầy thù hận."
Hành giả
rãi tâm Từ đến tất cả chúng sanh, không phân biệt chủng tộc,
màu da, nam hay nữ, không trừ bỏ một loài cầm thú nhỏ nhen
câm điếc nào. Hành giả tự đồng hóa với tất cả, tự mình chan
hòa trong toàn thể, thấy vạn vật và mình là một. Tâm không
còn một điểm vị kỹ, hành giả đã vượt lên mọi hình thức chia
rẽ riêng tư. Không bị giam hãm trong những tư tưởng hẹp hòi,
không chịu ảnh hưởng của tinh thần đấu tranh giai cấp, quốc
gia, chủng tộc, tôn giáo, hành giả nhìn tất cả mọi người là
bạn đồng hành trong đại trùng dương mà ta gọi là đời sống
của muôn loài vạn vật.
2. Tâm Bi
(Karuna)
Đức tánh
thứ nhì giúp con người trở nên cao thượng là tâm Bi.
Bi là
động lực làm cho tâm rung động trước sự đau khổ của kẻ khác,
là cái gì thoa dịu niềm khổ đau sầu não của người. Đặc tánh
của tâm Bi là ý muốn giúp người khác thoát khỏi một cảnh
khổ.
Lòng
người có tâm Bi thật là mềm dịu, hơn cả những tai hoa. Ngày
nào chưa cứu giúp được kẻ khác, tâm Bi không hề thỏa mãn.
Lắm khi, để làm êm dịu nỗi khổ đau của kẻ khác, người có tâm
Bi không ngần ngại hy sinh đến cả mạng sống mình. Sự tích
Túc Sanh Truyện Vyaghri Jakata [1] đã nêu lên cho ta gương
lành của một vị Bồ Tát hiế thân để cứu một con cọp mẹ và bầy
cọp con khỏi chết đói.
Chính do
nhờ tâm Bi mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi
phục vụ. Người có tâm Bi không sống riêng cho mình, mà lúc
nào cũng sống cho kẻ khác và luôn luôn tìm cơ hội để giúp
đời, nhưng không bao giờ mong được đền ơn đáp nghĩa.
Đối tượng
của tâm Bi là gì?
Những kẻ
nghèo nàn đói rách, những người túng thiếu cơ hàn, đau ốm,
cô đơn, dốt nát, hư hèn, người có đời sống bẩn thỉu buông
lung, là hạng người cần đến tâm Bi của những tấm lòng trắc
ẩn cao thượng, không luận nam nữ, không phân biệt chủng tộc,
giai cấp hoặc tôn giáo.
Phần đông
người Á Châu và Phi Châu là dân tộc nghèo. Ở Âu Châu, Úc
Châu và Mỹ Châu, dân chúng sống tương đối sung túc dễ dàng
hơn. Có nhiều quốc gia giàu về vật chất mà nghèo về tinh
thần. Cũng có những dân tộc khác nghèo về vật chất mà giàu
về tinh thần. Chẳng luận tinh thần hay vật chất, bổn phận
cao cả của người giàu là giúp đỡ kẻ nghèo. Biết bao nhiêu
đàn ông, đàn bà, trẻ em, đang sống trong cảnh cơ hàn, thiếu
thốn đến cả những vật dụng cần thiết. Nếu các địa phú gia
đem tiền của dư dả ra giúp đỡ cho hạng người nầy, công tác
từ thiện ấy không đến nổi làm tổn hao tài sản của họ.
Ngày kia,
có chàng sinh viên trẻ tuổi về nhà xin phép mẹ gỡ bức màn
treo trên cửa để cho một người nghèo khó, đói rách. Chàng
nói rằng không có bức màn nầy, cái cửa không đến nổi phải
chịu lạnh, nhưng nếu thiếu quần áo che thân, chắc chắn người
nghèo kia phải khổ sở vì lạnh. Lòng thương xót của chàng
sinh viên nọ đáng làm một gương tốt.
Nhân loại
lấy làm vinh hạnh ghi nhận rằng một vài lục địa giàu có đã
tổ hợp lại thành những cơ quan từ thiện, tìm mọi cách giúp
đỡ những dân tộc kém mở mang. Trong hầu hết các quốc gia,
nhiều tổ chức đủ hạng - nam, nữ và sinh viên - đã hoạt động
mạnh mẽ để mang lại cho hạng người nghèo đói và túng thiếu
những sự giúp đỡ cần thiết. Các đoàn thể tôn giáo, trong
phạm vi khiêm tốn của mình, cũng tận dụng khả năng để làm
tròn phận. Các quốc gia kém mở mang đang cần trại dưỡng lão,
cô nhi viện và những tổ chức từ thiện tương tợ. Ở Á Châu,
nạn ăn xin vẫn còn là một vấn đề nan giải. Trong nhiều quốc
gia ở vùng nầy, ăn xin đã trở thành nghề sinh sống. Đó là
một sĩ nhục cho quốc thể, nên chánh phủ nào cũng cần phải
lưu tâm giải quyết.
Người
giàu tiền của có bổn phận giúp đỡ kẻ nghèo về vật chất.
Người giàu tinh thần đạo đức có bổn phận giúp đỡ kẻ nghèo
tinh thần, mặc dầu người ấy có thể là một đại phú gia. Tiền
rừng bạc bể một mình, không đem lại hạnh phúc hoàn toàn. Kho
tàng của báu không tạo an vui tinh thần. Tâm trạng an lạc
thanh bình chỉ do kho tàng đạo đức tạo nên.
Hạng
người phóng đãng tội lỗi càng đáng được các bậc đạo đức cao
thượng xót thương hơn, vì họ là những người bệnh hoạn về
tinh thần. Không nên khinh rẽ hoặc bài xích hạng người yếu
đuối ấy vì họ đã lầm đường lạc nẻo, trái lại, nên thương xót
và dìu dắt họ trở lại đường phải. Cha mẹ thương đồng đều các
con, nhưng đặc biệt chăm nom săn sóc những đứa ốm yếu hoặc
kém sút. Cũng dường thế ấy, tâm Bi của ta phải bao trùm tất
cả chúng sanh đau khổ. Nhưng riêng đối với hạng người bệnh
hoạn tinh thần, suy kém đạo đức, ta nên có lòng thương xót
đặc biệt và hết lòng giúp đỡ, dẫn dắt họ trở lại đường lành.
Như Đức
Phật xưa kia, hết lòng thương hại và cứu độ Ambapali người,
phụ nữ lạc bước giang hồ, và tận tâm tế độ Angulimala, tên
sát nhân tàn ác, toan ám hại Ngài. Về sau cả hai đều theo
Ngài và hoàn toàn đổi tánh.
Bên trong
mỗi người, dầu là người xấu xa thế nào, đều có tiềm tàng
những đức tánh tốt đẹp. Đôi khi chỉ một lời nói phải, đúng
lúc, cũng có thể đổi hẳn con người từ dữ ra lành. Như vua
Asoka trước kia, tàn bạo đến đổi người thời bấy giờ gọi là
"Asoka con người tội lỗi", thế mà khi nghe được lời nói phải
của một thầy sa di trẻ tuổi, Ngài đổi hẳn tánh tình, mạnh
tiến trên đường tự giác, và trở nên "Asoka con người hiền
đức", một đấng minh quân.
Đức Phật
khuyên nên xa lánh hạng người cuồng si. Như vậy không cói
nghĩa là ta không thể đến gần để cảm hóa cùng khuyến thiện
họ. Có những bệnh nhân mắc phải chứng bệnh truyền nhiễm ngặt
nghèo. Mọi người đều sợ và lánh xa. Nhưng cũng có nhiều vị
lương y hết lòng thương hại, đến gần săn sóc và chữa trị cho
họ khỏi bệnh. Nếu không có các vị lương y giàu tâm Bi kia,
bệnh nhân ắt phải bỏ mạng. Cùng một thế ấy, hạng người xấu
xa bệnh hoạn về tinh thần ắt phải bị chìm đắm mãi trong đêm
tối của tội lỗi nếu không ai có lòng quãng đại thương xót và
ra tay tế độ. Thế thường, Đức Phật tìm đến những hạng xấu xa
hư hèn để cảm hóa, nhưng chính bậc đạo đức trong sạch thì
lại tìm đến Ngài.
Tâm Bi vô
lượng, vô biên, vô hạn định. Tâm Bi phải được rãi đến cho
tất cả, không trừ bỏ một loài cầm thú câm điếc nào, cũng
không loại trừ những chúng sanh còn trong trứng.
Tâm Bi
không nhìn nhận thế lực và oai quyền của hạng người được xã
hội coi là trên trước chỉ vì những người nầy sanh trưởng
trong một giai cấp hoặc một chủng tộc nào. Giết, hoặc sai
bảo người khác giết những con thú vô tội để bày tiệc linh
đình, ăn uống hả hê, cũng là hành động trái ngược với tâm
Bi. Dùng bom đạn để tiêu diệt hằng triệu sanh linh là hình
thức xấu xa nhất của sự tàn bạo mà nhân loại có thể làm. Thế
gian ngày nay sống trong tình trạng căm thù, sân hận, đã đem
vật sở hữu quý báu nhất là mạng sống, đặt trước bàn thờ để
tế thần bạo lực. Muốn cứu vãn tình thế, toàn thể nhân loại
ngày nay cần phải thực hiện tâm Bi để tiêu trừ những hành
động độc ác và tàn bạo.
Cũng nên
nhận định rằng tâm Bi của Phật Giáo không phải là những giọt
nước mắt nhỏ suông gọi là thương xót. Kẻ thù gián tiếp của
tâm Bi là âu sầu, phiền muộn (domanassa).
Tâm Bi
bao trùm những chúng sanh đau khổ. Tâm Bi bao trùm tất cả
chúng sanh, kể cả đau khổ và an vui.
3. Tâm Hỷ
(Mudita)
Đức tánh
cao thượng thứ ba trong Tứ Vô Lượng Tâm là Hỷ, vui (Mudita).
Mudita,
Hỷ, không phải là trạng thái thỏa thích suông, cũng không
phải cảm tình riêng đối với người nào. Hỷ (Mudita) là tâm
vui thích trước hạnh phúc của người khác, trước sự thành
công của một chúng sanh. Ganh tỵ là kẻ thù trực tiếp của tâm
Hỷ. Hỷ là niềm vui làm tiêu tan lòng ganh tỵ.
Ganh tỵ
có sức phá hoại vô cùng nguy hiểm. Có nhiều người lấy làm
khó chịu bực tức khi thấy hoặc nghe nói người khác thành tựu
mỹ mãn một công trình. Thấy người thất bại thì vui mừng, mà
không thể chịu đựng sự thành công của kẻ khác, và cố gắng
phá hoại hoặc bóp méo sự thật để chê bai, thay vì vui lên để
tán dương thắng lợi của người.
Đứng về
một phương diện, chính người có tâm Hỷ trực tiếp hưởng nhiều
lợi ích do tâm ấy đem lại, hơn là người khác, vì tâm Hỷ
không chấp chứa lòng ganh tỵ. Về một phương diện khác, người
có tâm Hỷ không bao giờ làm trở ngại tiến bộ và phá rối tình
trạng an lạc của ai.
Cũng như
tâm Từ, tâm Hỷ đối với thân bằng quyến thuộc phát hiện rất
dễ dàng nhưng khó mà bộc lộ trước những người thù nghịch.
Thật vậy, con người bình thường không bao giờ có thể biểu lộ
sự hoan hỷ vui mừng trước cái vui của người thù nghịch. Lòng
ganh tỵ lại còn thúc đẩy con người làm những điều vô cùng
độc ác. Socrates, một nhà hiền triết Hy Lạp, bị bắt buộc
phải quyên sinh bằng thuốc độc. Chúa Christ (Ki Tô) bị đóng
đinh trên thánh giá. Thánh Gandhi(Cam Địa) bị ám sát. Đức
Phật bị lăn đá gây thương tích.
Đó là bẩm
tánh tội lỗi của thế gian, đang miệt mài say đắm trong ảo
mộng.
Nếu so
sánh với tâm Từ và tâm Bi, tâm Hỷ lại càng khó thực hiện.
Muốn phát triển tâm Hỷ phải có ý chí mạnh mẽ và phải tận lực
cố gắng.
Người
phương Đông có thành thật thỏa thích với sự thịnh vượng của
người phương Tây không? Người phương Tây có thành thật thỏa
thích với sự thịnh vượng của người phương Đông không? Quốc
gia nầy có vui mừng thấy một quốc gia khác sung túc an lạc
không? Chủng tộc nầy có hoan hỷ ghi nhận rằng một chủng tộc
khác đang vươn mình trưởng thành trong cảnh an cư lạc nghiệp
không? Mặc dầu mục đích của các tôn giáo là trau giồi tinh
thần đạo đức, giáo phài nầy có vui mà thấy ảnh hưởng tinh
thần của một giáo phái khác bành trướng mạnh mẽ không?
Tôn giáo
nầy ganh tỵ với tôn giáo khác. Phần bên nầy quả địa cầu ganh
tỵ với phần bên kia. Tổ chức nầy ganh tỵ với tổ chức kia.
Hảng buôn nầy ganh tỵ với hảng buôn khác. Gia đình nầy ganh
tỵ với gia đình khác. Học trò ganh tỵ với học trò, chí đến
anh chị em trong một nhà có khi cũng ganh tỵ lẫn nhau. Người
Phật tử nên thực hành tâm Hỷ trong đời sống cá nhân cũng như
trong cuộc sống tập thể, để tạo an vui hạnh phúc và vươn
mình tiến lên trong nếp sống thanh cao trong sạch.
Đặc tánh
của tâm Hỷ là hoan hỷ với người thành công, người lộc cao
phúc hậu (anumodana). Vui cười không phải là đặc tánh của
tâm Hỷ và ra vẻ hân hoan, giả làm ra tuồng thỏa thích, được
coi là kẻ thù gián tiếp của tâm Hỷ.
Tâm Hỷ
bao trùm những chúng sanh hữu phúc. Tâm Hỷ là phẩm hạnh
thành thật chia vui, chung cùng hoan hỷ với lòng ngợi khen
và loại trừ mọi hình thức bất mãn (arati), trước sự thành
công của kẻ khác.
4. Tâm Xả
(Upekkha)
Upekkha
(Xả) là đức tánh thứ tư trong Tứ Vô Lượng Tâm, khó thực hành
nhất, mà cũng cần thiết nhất trong bốn phẩm hạnh cao thượng
nầy.
Phạn ngữ
"Upekkha" do hai căn "upa" và "ikkha" hợp thành. Upa là đúng
đắn, chân chánh, vô tư. Ikkha là trông thấy đúng đắn, nhận
định chân chánh, hoặc suy luận vô tư, tức không luyến ái
cũng không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn. Không
tham cũng không sân.
Upekkha
(Xả) không có nghĩa là lạnh lùng, lãnh đạm, không màng đến
thế sự, cũng không phải là cảm giác vô ký, không vui thích
không phiền muộn.
Khinh rẽ,
phỉ báng, nguyền rủa là thường tình. Hạng người trong sạch
đạo đức thường bị chỉ trích và khiển trách. Giữa cơn giông
tố của trường đời, người trau giồi tâm Xả cao thượng luôn
luôn giữ tâm bình thản.
Được và
thua, thành và bại, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau
khổ là những việc thường xảy ra trong đời, làm con người
chao động. Được ca tụng thì vui thích,bị khiển trách thì
buồn rầu. Đó là lẽ thường. Nhưng giữa cuộc thăng trầm của
thế sự, Đức Phật dạy luôn luôn thản nhiên, hành tâm Xả vững
chắc như tảng đá to sừng sững giữa trời.
Túc Sanh
Truyện (Jataka) có lời khuyên:
"Trong
hạnh phúc, trong đau khổ, lúc thăng, lúc trầm, ta phải giữ
tâm như đất.
Cho những
ai còn luân chuyển trong Tam giới (Dục Giới, Sắc Giới và Vô
Sắc Giới), đời sống của Đức Phật là một gương sáng về tâm
Xả. Chưa từng có một vị giáo chủ hoặc một nhân vật nào bị
chỉ trích nghiêm khắc, bị đả kích, sỉ nhục, hoặc bị lăng mạ
nhiều như Đức Phật. Tuy nhiên Đức Phật cũng được tán dương,
tôn kính và sùng bái nhất.
Ngày kia,
trong khi Đức Phật đi trì bình khất thực, có một đạo sĩ Bà
La Môn ngạo mạn kêu Ngài là cùng đinh và đối xử hết sức vô
lễ. Đức Phật thản nhiên chịu đựng và ôn hòa giải thích cho
đạo sĩ thế nào là cùng đinh và vì sao chẳng nên khinh rẽ
hạng người nầy [2]. Vị đạo sĩ lấy làm khâm phục.
Một lần
khác có người thỉnh Đức Phật đến nhà trai tăng. Khi Đức Phật
đến, chủ nhà lại dùng lời vô lễ, đối xử với Ngài một cách
thậm tệ. Nhưng Đức Phật không tức giận, ôn hòa hỏi chủ nhà:
- Nếu biết có khách đến nhà thì ông làm sao?
- Tôi sẽ
chuẩn bị, dọn một bữa cơm để khoản đãi khách.
- Tốt
lắm, Đức Phật nói, nhưng rồi nếu khách không đến thì sao?
-Thì tôi
sẽ cùng vợ với con chia nhau bữa cơm.
- Tốt
lắm, nầy ông, hôm nay ông mời Như Lai đến nhà để đãi ăn. Ông
đã dọn lên cho Như Lai những lời thô lỗ cộc cằn. Như Lai
không nhận. Vậy xin ông hãy giữ lấy.
Những lời
nói nầy đã làm đổi hẳn thái độ của chủ nhà.
"Không
nên trả thù. Khi bị nguyền rủa, mắng chửi, phải biết làm câm
như cái mỏ bể. Được như vậy tức đã đứng trước ngưỡng cửa
Niết Bàn, mặc dầu trong thực tế chưa đắc quả Niết Bàn."
Đó là
những lời vàng ngọc mà Đức Phật khuyên nên ghi nhớ hằng ngày
trong kiếp sống vô thường biến đổi nầy.
Trong xứ
nọ, có lần có một mệnh phụ phu nhân xúi giục một người say
rượu đến nhục mạ Đức Phật thậm tệ đến đổi Đại Đức Ananda
không thể chịu được, kính bạch Đức Phật nên sang xứ khác.
Nhưng Ngài không đi cũng không hề xúc động.
Một người
đàn bà giả có mang để vu oan Đức Phật giữa công chúng. Một
thiếu phụ khác nữa bị giết để vu cáo Đức Phật phạm tôi sát
nhân. Một người bà con vừa là đệ tử của Đức Phật cũng manh
tâm lăn đá từ trên đồi cao, quyết sát hại Ngài. Chí đến hàng
đệ tử của Ngài cũng có người chỉ trích Ngài là thiên vị, bất
công.
Đàng
khác, bao nhiêu người đã tán dương công đức và ca tụng Đức
Phật. Bao nhiêu vua chúa đã kính cẩn khấu đầu lễ bái dưới
chân Ngài .
Như đất,
Đức Phật nhận lãnh tất cả với tâm Xả hoàn toàn.
"Vững như
voi, mạnh như hổ, ta không nên run sợ trước tiếng động.
Miệng lằn lưỡi mối không làm cho ta xúc động. Như gió thổi
ngang màn lưới mà không bị vướng trong lưới, tuy sống giữa
chợ người, ta không nên say mê luyến ái những lạc thú huyền
ảo và vô thường của kiếp nhân sinh. Như hoa sen, từ bùn nhơ
nước đục, vượt lên bao nhiêu quyến rũ của thế gian, ta phải
sống trong sạch, luôn luôn tinh khiết, an lạc và thanh
bình."
Người thù
trực tiếp của tâm Xả là luyến ái (raga) và kẻ thù gián tiếp
của tâm Xả là sự lãnh đạm, thái độ lạnh lùng, xây lưng với
thế sự.
Upekkha
(tâm Xả) lánh xa tham ái và bất mãn. Thái độ vô tư, thản
nhiên, an tỉnh là đặc tánh chánh yếu của tâm Xả. Người có
tâm Xả không bị lạc thú trần gian quyến rũ, không thích thú
say mê trong hạnh phúc, cũng không bị những gì nghịch ý làm
bực tức buồn phiền, bất mãn trong khổ đau. Người có tâm Xả
không thấy sự khác biệt giữa người tội lỗi và bậc thánh
nhân, và đối xử đồng đều với tất cả.
-oOo-
Tâm Từ
bao trùm tất cả chúng sanh; tâm Bi những chúng sanh đau khổ;
tâm Hỷ, những chúng sanh hạnh phúc; tâm Xả phủ khắp những gì
tốt đẹp và những gì xấu xa, những điều khả ái và những điều
khả ố, những thích thú và những nghịch lòng.
Những ai
có nguyện vọng trở thành bậc thánh nhân trong chính kiếp
sống nầy, có thể hằng ngày trau giồi và phát triển bốn đức
hạnh cao thượng trên, vốn tiềm tàng ngủ ngầm bên trong mọi
người .
Những ai
có nguyện vọng trở nên toàn thiện và bi mẫn gia công tạo an
lành cho tất cả, trong khoảng thời gian còn triền miên sanh
tử theo vòng luân hồi, có thể kiên trì cố gắng, phát triển
mười ba pháp Ba La Mật (Parami), và cuối cùng, thành tựu Đạo
và Quả Chánh Đẳng Chánh Giác (Samma Sambuddha), Chánh Biến
Tri.
Những ai
có nguyện vọng tận diệt mọi khát vọng của mình và chấm dứt
đau khổ bằng cách chứng ngộ Niết Bàn nhân cơ hội sớm nhất,
có thể chuyên cần noi theo Con Đường Duy Nhất - Bát Chánh
Đạo - mà đến nay vẫn còn được giữ nguyên vẹn tánh cách tinh
túy nguyên thủy.
Đức Phật
dạy:
"Nầy chư
Tỳ Khưu, thì dụ như toàn thể vùng đất mênh mông nầy trở
thành nước, và người kia bỏ xuống nước một cái ách xe bò,
trên ách có một lỗ. Rồi có một cơn gió thổi, đẩy trôi cái
ách từ Đông sang Tây, một cơn gió khác thổi cái ách từ Tây
sang Đông, rồi một cơn gió nữa đẩy cái ách từ Bắc xuống Nam,
và một cơn gió khác từ Nam lên Bắc. Và cứ như thế, cái ách
triền miên trôi dạt trên mặt nước. Trong khi ấy có một con
rùa mù, mỗi năm nổi lên mặt nước một lần. Như vậy, có thể
nào con rùa mù, sau một trăm năm, trồi lên mặt nước và thọc
đầu ngay vào cái lỗ duy nhất của cái ách được không?
- Bạch
Hóa Đức Thế Tôn, quả thật con rùa mù khó làm như vậy.
- Nầy chư
Tỳ Khưu, cùng một thế ấy, được sanh vào cảnh người cũng khó
vậy. Cùng thế ấy, khi có một đấng Như Lai thị hiện trên thế
gian. Cùng thế ấy, Giáo Pháp (Dhamma) và Giới Luật (Vinaya)
mà một đấng Như Lai tuyên bố, được truyền bá trong thế gian
quả thật vô cùng hy hữu.
Nhưng
nay, nầy chư Tỳ Khưu, quả thật vậy, trạng thái làm người đã
được thành đạt, một đấng Như Lai đã thị hiện trên thế gian,
Giáo Pháp và Giới Luật mà Đức Như Lai tuyến bố đã được
truyền bá trong thế gian.
Vậy, nầy
chư Tỳ Khưu, các con phải kiên trì tinh tấn để chứng ngộ:
Đây là đau khổ, đây là nguyên nhân sanh đau khổ, đây là sự
chấm dứt đau khổ, đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt đau
khổ." [3]
Chú
thích:
[1] Xem
Chương 42
[2] Xem
Phụ Bản 3.
[3]
Kindred Sayings, trang 334.
@@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/
-ooOoo- /span> |