|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2023
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần III: Ứng Dụng Lời Phật Dạy
-BÁT CHÁNH ĐẠO- CHÁNH TƯ DUY.
Chữ “tư duy” trong tiếng Việt ngày nay được dùng nhiều nghĩa.
Từ vựng đồng nghĩa gần nhất để định nghĩa chữ tư duy
trong bát chánh đạo là “hướng tâm”. Phạn ngữ saṅkappa
thường được dịch là tư duy được xem là đồng nghĩa với
thuật ngữ vitakka - tầm. Trong cách so sánh tương đối
thì chánh tư duy được hiểu như cụm từ “tư vô tà” trong
Luận Ngữ của Trung Hoa có nghĩa đại khái là không suy
nghĩ điều xằng bậy. Khuynh hướng bản năng của phần đông
chúng sanh là tà tư duy.
Có ba sự hướng tâm được xem là khiến nội tại uế nhiễm:
·
Dục tư duy. Là hướng tâm đến những gì thoả mãn thị dục.
·
Sân tư duy. Là hướng tâm đến những gì mang tính bất mãn.
·
Hại tư duy. Là hướng tâm đến những gì thù hận
Ngược lại với tà tư duy, có ba chánh tư duy:
·
Ly dục tư duy. Là hướng tâm đến những gì buông xả, không vướng mắc
·
Ly sân tư duy. Là hướng tâm đến những gì từ mẫn, hoà ái.
·
Ly hại tư duy. Là hướng tâm những gì cảm thông, tha thứ, không oan kết.
Giống như chánh kiến, tuỳ theo hoàn cảnh có nhiều cấp độ khác
nhau của chánh tư duy. Đời sống không đam mê quá độ, hay
tìm lỗi ở người để phê phán chỉ trích, hoặc sống không
hiềm hận oan kết có thể áp dụng cả hai bối cảnh tại gia
và xuất gia. Có những ham muốn không được xem là tà tư
duy đối với người bình thường nhưng lại là tà tư duy với
một người đang tu thiền. Sự phân biệt tế nhị nầy phải có
thực hành mới phân biệt rõ.
Trích dẫn sau đây là bài Kinh Song tầm, Trung Bộ, kinh số 19
là một bài kinh rất quan trọng để hiểu về chánh tư duy.
9. Kinh Song
tầm
(Dvedhàvitakka sutta)
Kinh Văn:
Tôi nghe như vầy:
Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana
(Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Tại
đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Chư Tỷ-kheo". --"Thưa
vâng", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết
giảng như sau:
-- Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành
Chánh Giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Ta
sống suy tư và chia hai suy tầm". Chư Tỷ-kheo, phàm có
dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành
phần thứ nhất; phàm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào,
vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ hai.
Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm,
tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: "Dục tầm này
khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến
hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào
phiền não, không đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, khi Ta
suy tư: "Dục tầm này đưa đến tự hại", dục tầm được biến
mất, Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục tầm đưa đến hại
người", dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy
tư: "Dục tầm đưa đến hại cả hai", dục tầm được biến mất.
Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Dục tầm diệt trí tuệ, dự
phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn", dục tầm
được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ,
xả ly và đoạn tận dục tầm.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, sân tầm khởi lên... (như trên)... hại tầm
khởi lên. Ta tuệ tri: "Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và
hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến
hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không
đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: "Hại tầm
này đưa đến tự hại"... "Hại tầm diệt trí tuệ, dự phần
vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn", hại tầm biến
mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và
đoạn tận hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì,
thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy. Chư
Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm,
vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời
tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu
Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân tầm... (như
trên)... về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi tâm đã
đặt nặng về hại tầm thời tâm vị ấy có khuynh hướng về
hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu,
khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm
roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự
chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì
người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết,
sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư Tỷ-kheo,
cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế
nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi
ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần như vậy, khi ly dục tầm khởi lên, Ta tuệ
tri như vầy: "Ly dục tầm này khởi lên nơi Ta và ly dục
tầm này không đưa đến tự hại, không đưa đến hại người,
không đưa đến hại cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự
phần vào phiền não, đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu
ban đêm Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm) không phải
từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban
ngày Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không phải từ
nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm,
ban ngày, Ta suy tư, quán sát (về ly dục tầm), không
phải từ nhân duyên ấy Ta thấy sợ hãi. Và Ta suy tư, quán
sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi thân mệt mỏi
thì tâm bị dao động; khi tâm bị dao động thì tâm rất khó
được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân Ta trấn an
tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm, khiến thành
định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao động.
Chư Tỷ-kheo, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần như vậy, khi vô sân tầm khởi lên... (như
trên)... vô hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri như vậy: "Vô
hại tầm này khởi lên nơi Ta và vô hại tầm này không đưa
đến tự hại, không đưa đến hại người, không đưa đến hại
cả hai, tăng trưởng trí tuệ, không dự phần vào phiền
não, đưa đến Niết-bàn". Chư Tỷ-kheo, nếu ban đêm...
không phải từ nhân duyên ấy, mà Ta thấy sợ hãi. Và nếu
Ta suy tư, quán sát quá lâu, thân Ta có thể mệt mỏi; khi
thân mệt mỏi thì tâm bị dao động, khi tâm bị dao động,
tâm rất khó được định tĩnh. Chư Tỷ-kheo, rồi tự nội thân
Ta trấn an tâm, trấn tịnh tâm, khiến được nhất tâm,
khiến thành định tĩnh. Vì sao vậy? Vì để tâm Ta khỏi dao
động.
Chư Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về
vấn đề gì thời tâm sanh khuynh hướng đối với vấn đề ấy.
Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về ly
dục tầm, vị ấy từ bỏ dục tầm. Khi tâm đã đặt nặng về ly
dục tầm, tâm vị ấy có khuynh hướng về ly dục tầm. Chư
Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về vô sân
tầm... (như trên)... nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều
về bất hại tầm, vị ấy từ bỏ hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng
về bất hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về bất
hại tầm.
Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng hè, khi tất cả lúa
gạo đã cất vào kho thóc, một người mục đồng chăn giữ các
con bò. Khi người mục đồng ở dưới gốc cây hay ở ngoài
trời, người ấy có thể nghĩ đến có việc cần phải làm, và
người ấy nghĩ: "Ðây là những con bò". Chư Tỷ-kheo, cũng
vậy ở đây, có việc cần phải làm, và Ta nghĩ: "Ðây là
những pháp".
Chư Tỷ-kheo, Ta phát tâm dõng mãnh, tinh tấn, không có
tiêu cực, niệm không tán loạn được an trú, thân được
khinh an, không có cuồng nhiệt, tâm được định tĩnh nhất
tâm.
Chư Tỷ-kheo, Ta ly dục, ly ác, bất thiện pháp, chứng và
trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục
sanh, có tầm, có tứ. Diệt tầm và tứ, Ta chứng và trú
Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không
tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh
niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, Ta chứng và an trú Thiền thứ ba. Xả
lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, Ta chứng và trú
Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản
như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng trí. Ta nhớ
đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời,
bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời,
bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời,
một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều
thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại
chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này,
giai cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi
chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ này. Tại chỗ
này, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai
cấp như thế này, các món ăn như thế này, thọ khổ lạc như
thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại
chỗ này, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy Ta nhớ đến
nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các
chi tiết.
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh đầu Ta chứng được minh thứ
nhất, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng
sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản
như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến sanh tử trí về chúng
sanh. Ta với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, thấy sự
sống và sự chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng
sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô
xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của
họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, ác hạnh
về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo
tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này,
sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh nào thành
tựu những thiện hạnh về thân, thành tựu những thiện hạnh
về lời nói, thành tựu những thiện hạnh về ý, không phỉ
báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo
chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh lên các thiện thú, cõi Trời, trên đời
này. Như vậy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta
thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta tuệ tri rằng, chúng
sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô
xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của
họ.
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh giữa, Ta chứng được minh
thứ hai, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh
sáng sanh, trong khi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm,
tinh cần.
Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không
phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản
như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Ta thắng
tri như thật: "Ðây là khổ", thắng tri như thật: "Ðây là
nguyên nhân của khổ", thắng tri như thật: "Ðây là khổ
diệt", thắng tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến khổ
diệt", thắng tri như thật: "Ðây là những lậu hoặc",
thắng tri như thật: "Ðây là nguyên nhân các lậu hoặc",
thắng tri như thật: "Ðây là các lậu hoặc diệt", thắng
tri như thật: "Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc
diệt".
Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của Ta thoát
khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh
lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên trí
hiểu biết: Ta đã giải thoát. Ta đã thắng tri: "Sanh đã
tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
Chư Tỷ-kheo, trong đêm canh ba, Ta chứng được minh thứ
ba, vô minh diệt, minh sanh; bóng tối diệt, ánh sáng
sanh, trong khi Ta sống không phóng dật nhiệt tâm tinh
cần.
Chư Tỷ-kheo, giống như trong khu rừng rậm rạp có một hồ
nước lớn thâm sâu, và một đoàn nai lớn sống gần một bên.
Có một người đến, không muốn chúng được lợi ích, không
muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn
khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được
an toàn, đưa đến hoan hỷ, người ấy sẽ chận đóng con
đường này lại, sẽ mở con đường nguy hiểm, sẽ đặt con mồi
đực, sẽ đặt con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy, sau một
thời gian đoàn nai lớn ấy gặp ách nạn và hao mòn dần.
Chư Tỷ-kheo, có một người đến, muốn đoàn nai ấy được lợi
ích, muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn
khỏi các ách nạn. Nếu có con đường nào được yên ổn, được
an toàn, người ấy sẽ mở con đường này, sẽ đóng con đường
nguy hiểm lại, sẽ đem con mồi đực đi, sẽ hủy bỏ con mồi
cái. Chư Tỷ-kheo, như vậy đoàn nai lớn ấy sau một thời
gian sẽ được tăng trưởng, hưng thịnh, thành mãn.
Chư Tỷ-kheo, Ta nói ví dụ ấy để giải thích ý nghĩa như
sau: Chư Tỷ-kheo, hồ nước lớn, thâm sâu chỉ cho các dục.
Chư Tỷ-kheo, đoàn nai lớn chỉ cho các loài hữu tình. Chư
Tỷ-kheo, con người không muốn chúng được lợi ích, không
muốn chúng được hạnh phúc, không muốn chúng được an ổn
khỏi các ách nạn chỉ cho ác ma. Chư Tỷ-kheo, con đường
nguy hiểm chỉ cho con đường tà đạo có tám ngành, tức là
tà tri kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà
tinh tấn, tà niệm, tà định. Chư Tỷ-kheo, con mồi đực chỉ
cho hỷ và tham. Chư Tỷ-kheo, con mồi cái chỉ cho vô
minh. Chư Tỷ-kheo, còn người muốn chúng được lợi ích,
muốn chúng được hạnh phúc, muốn chúng được an ổn khỏi
các ách nạn chỉ cho Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác. Con đường yên ổn, an toàn, đưa đến hoan hỷ chỉ cho
con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là Chánh tri kiến,
Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh
tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta mở con đường yên ổn, an toàn,
đưa đến hoan hỷ, Ta đóng con đường nguy hiểm, Ta mang đi
con mồi đực, Ta hủy bỏ con mồi cái. Chư Tỷ-kheo, những
gì vị Ðạo Sư cần phải làm cho các đệ tử vì lòng thương
tưởng họ, những điều ấy Ta đã làm, vì lòng thương tưởng
các Người. Chư Tỷ-kheo, đây là các gốc cây, đây là các
chỗ trống. Hãy Thiền định, chớ có phóng dật, chớ có hối
tiếc về sau. Ðó là lời giáo huấn của Ta.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ,
tín thọ lời dạy của Thế Tôn.
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng |