|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 09 tháng 11, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 398. CHUYỂN NGHIỆP BẰNG CÁCH HÀNH TRÌ TRAI GIỚI- Kinh Trai Giới (Uposathasutta) I, II, III, IV. ******
Dù các loài long chủng có những
năng lực siêu nhiên nhưng bản
thân cũng là một trong bốn ác
thú. Do vậy một số muốn từ bỏ
thân hiện tại để sanh vào cõi an
lạc nên thọ trì trai giới. Tu
bát quan trai không những khiến
nội tâm thanh tịnh mà còn có khả
năng chuyển nghiệp. Long chủng
là một trong số rất ít chúng
sanh trong ác đạo có khả năng
huân tu thiện nghiệp và hàm
dưỡng thiện tâm.
Kinh Văn:
344. ekaṃ samayaṃ bhagavā
sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho
aññataro bhikkhu yena bhagavā
tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā
bhagavantaṃ abhivādetvā
ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ
nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu
kho, bhante, hetu, ko paccayo,
yena midhekacce aṇḍajā nāgā
uposathaṃ upavasanti
vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti?
“idha, bhikkhu, ekaccānaṃ
aṇḍajānaṃ nāgānaṃ evaṃ hoti —
‘mayaṃ kho pubbe kāyena
dvayakārino ahumha, vācāya
dvayakārino, manasā dvayakārino.
te mayaṃ kāyena dvayakārino,
vācāya dvayakārino, manasā
dvayakārino, kāyassa bhedā paraṃ
maraṇā aṇḍajānaṃ nāgānaṃ
sahabyataṃ upapannā. sacajja
mayaṃ kāyena sucaritaṃ
careyyāma, vācāya sucaritaṃ
careyyāma, manasā sucaritaṃ
careyyāma, evaṃ mayaṃ kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ
saggaṃ lokaṃ upapajjeyyāma.
handa, mayaṃ etarahi kāyena
sucaritaṃ carāma, vācāya
sucaritaṃ carāma, manasā
sucaritaṃ carāmā’ti. ayaṃ kho,
bhikkhu, hetu, ayaṃ paccayo,
yena midhekacce aṇḍajā nāgā
uposathaṃ upavasanti
vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti.
tatiyaṃ.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở
Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ
Viên), ngôi già lam do ông
Anāthapiṇḍika dâng cúng. Khi ấy,
có một vị tỳ hưu đến chỗ Đức Thế
Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi
xuống một bên. Khi đã ngồi xuống
một bên, vị tỳ kheo ấy bạch Đức
Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do
duyên gì mà ở đây một số long
vương thuộc noãn sanh hành trì
trai giới và buông bỏ thân mạng
của mình?”
[Đức Thế Tôn đáp:]
“Này Tỳ khưu, ở đây có một số
long vương
thuộc
noãn sanh suy nghĩ rằng:
‘Trước kia, chúng ta đã làm điều
bất thiện bằng thân, ngữ và ý.
Do làm điều bất thiện bằng thân,
ngữ và ý, sau khi thân hoại mạng
chung, chúng ta đã tái sinh
trong loài long vương thuộc noãn
sanh. Nếu bây giờ chúng ta sống
trong thiện hạnh về thân, ngữ và
ý, thì sau khi thân hoại mạng
chung, chúng ta sẽ tái sinh
trong cõi lành, thiên giới. Vậy
chúng ta hãy sống thiện hạnh về
thân, ngữ và ý ngay từ bây giờ.’
Này tỳ kheo, đây là nhân, đây là
duyên khiến cho một số long
vương thuộc noãn sanh hành trì
trai giới và buông bỏ thân mạng
của mình.”
KINH TRAI GIỚI II
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn
sanh” thành “thai sanh”
KINH TRAI GIỚI III
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn
sanh” thành “thấp sanh”
KINH TRAI GIỚI IV
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn
sanh” thành “hoá sanh”
Chú Thích
Chữ Uposatha thường được dịch là
trai, đọc trại là “chay” có
nghĩa là sự tu tập mang thời
gian tính.
Thường là một ngày một đêm. Chữ
trai được định nghĩa theo Phật
Học Đại Từ Điển Trung Hoa là
“trai hựu tác thời” (trai chính
là cách tu theo phân định thời
gian). Ngày nay một số Phật tử
hiểu “chay” là không ăn thịt cá
có phần khác với ý nghĩa nguyên
thuỷ.
Uposatha hay trai giới gồm tám
giới – nên cũng được gọi là bát
quan trai giới.
Tám giới nầy ngoài một số trọng
giới như trong ngũ giới phần còn
lại nói về sự tiết giảm hưởng
thụ trần cảnh, Đây là cách khiến
tâm được thanh tịnh. Tám trai
giới gồm có: 1. Không sát hại
sinh vật. 2. Không lấy của không
cho. 3. Không hưởng thụ nhục
dục. 4. Không nói sai sự thật.
5. Không say sưa rượu và ma tuý.
6. Không ăn phi thời. 7. Không
ca, vũ, nhạc, kịch hay thưởng
thức ca, vũ, nhạc, kịch. 8.
Không sử dụng chỗ nằm ngồi cao
sang.
Cụm từ vossaṭṭhakāyā - từ bỏ
thân xác được hiểu theo ba
nghĩa: 1.
Do tu tập trai giới nên chuyển
nghiệp không còn tiếp tục mang
xác thân hiện tại, vốn là thân
trong cảnh khổ. 2. Không tự vệ
khi bị tấn công nên mất mạng. 3.
Do thọ trì trai giới nên sức
khoẻ cạn kiệt. Ngữ cảnh trong 4
bài kinh nầy được hiểu theo
nghĩa thứ nhất.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Chủng Loại (Tạp
19, Ðại 2, 646a) (S.iii,240)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
II. Diệu Thắng (S.iii,240)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Nàga về sanh chủng. Thế nào
là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại
Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh.
5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ thai sanh, loại từ ẩm
ướt sanh, và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng
sanh.
6) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ ẩm ướt sanh và loại
hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh và từ thai sanh.
7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga hóa sanh thù thắng hơn
loại Nàga từ trứng sanh, loại từ thai sanh và loại từ ẩm ướt
sanh.
Sớ Giải Kinh Suddhika và Kinh Paṇītatara
342. nāgasaṃyutte aṇḍajāti aṇḍe jātā. jalābujāti vatthikose
jātā. saṃsedajāti saṃsede jātā. opapātikāti upapatitvā viya
jātā. idañca pana suttaṃ aṭṭhuppattiyā vuttaṃ. bhikkhūnañhi
“kati nu kho nāgayoniyo”ti kathā udapādi. atha bhagavā
puggalānaṃ nāgayonīhi uddharaṇatthaṃ nāgayoniyo āvikaronto imaṃ
suttamāha.
Trong phần Nāgasaṃyutta:
-ooOoo- |