BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 09 tháng 11, 2024

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập III – Chương I. Tương Ưng Uẩn-Phẩm Long Chủng. (SN. 29.3, SN. 29.4 SN. 29.5 SN. 29.6 )
Bài 398. CHUYỂN NGHIỆP BẰNG CÁCH HÀNH TRÌ TRAI GIỚI-
Kinh Trai Giới (Uposathasutta) I, II, III, IV.

******

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Dù các loài long chủng có những năng lực siêu nhiên nhưng bản thân cũng là một trong bốn ác thú. Do vậy một số muốn từ bỏ thân hiện tại để sanh vào cõi an lạc nên thọ trì trai giới. Tu bát quan trai không những khiến nội tâm thanh tịnh mà còn có khả năng chuyển nghiệp. Long chủng là một trong số rất ít chúng sanh trong ác đạo có khả năng huân tu thiện nghiệp và hàm dưỡng thiện tâm.

Kinh Văn:

344. ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. atha kho aññataro bhikkhu yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ nisīdi. ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacce aṇḍajā nāgā uposathaṃ upavasanti vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti?

“idha, bhikkhu, ekaccānaṃ aṇḍajānaṃ nāgānaṃ evaṃ hoti — ‘mayaṃ kho pubbe kāyena dvayakārino ahumha, vācāya dvayakārino, manasā dvayakārino. te mayaṃ kāyena dvayakārino, vācāya dvayakārino, manasā dvayakārino, kāyassa bhedā paraṃ maraṇā aṇḍajānaṃ nāgānaṃ sahabyataṃ upapannā. sacajja mayaṃ kāyena sucaritaṃ careyyāma, vācāya sucaritaṃ careyyāma, manasā sucaritaṃ careyyāma, evaṃ mayaṃ kāyassa bhedā paraṃ maraṇā sugatiṃ saggaṃ lokaṃ upapajjeyyāma. handa, mayaṃ etarahi kāyena sucaritaṃ carāma, vācāya sucaritaṃ carāma, manasā sucaritaṃ carāmā’ti. ayaṃ kho, bhikkhu, hetu, ayaṃ paccayo, yena midhekacce aṇḍajā nāgā uposathaṃ upavasanti vossaṭṭhakāyā ca bhavantī”ti. tatiyaṃ.

Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ Viên), ngôi già lam do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng. Khi ấy, có một vị tỳ hưu đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, rồi ngồi xuống một bên. Khi đã ngồi xuống một bên, vị tỳ kheo ấy bạch Đức Thế Tôn rằng:

“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số long vương thuộc noãn sanh hành trì trai giới và buông bỏ thân mạng của mình?”

[Đức Thế Tôn đáp:]

“Này Tỳ khưu, ở đây có một số long vương thuộc noãn sanh suy nghĩ rằng: ‘Trước kia, chúng ta đã làm điều bất thiện bằng thân, ngữ và ý. Do làm điều bất thiện bằng thân, ngữ và ý, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta đã tái sinh trong loài long vương thuộc noãn sanh. Nếu bây giờ chúng ta sống trong thiện hạnh về thân, ngữ và ý, thì sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta sẽ tái sinh trong cõi lành, thiên giới. Vậy chúng ta hãy sống thiện hạnh về thân, ngữ và ý ngay từ bây giờ.’ Này tỳ kheo, đây là nhân, đây là duyên khiến cho một số long vương thuộc noãn sanh hành trì trai giới và buông bỏ thân mạng của mình.”

KINH TRAI GIỚI II

Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “thai sanh”

KINH TRAI GIỚI III

Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “thấp sanh”

KINH TRAI GIỚI IV

Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “hoá sanh”

Chú Thích

Chữ Uposatha thường được dịch là trai, đọc trại là “chay” có nghĩa là sự tu tập mang thời gian tính. Thường là một ngày một đêm. Chữ trai được định nghĩa theo Phật Học Đại Từ Điển Trung Hoa là “trai hựu tác thời” (trai chính là cách tu theo phân định thời gian). Ngày nay một số Phật tử hiểu “chay” là không ăn thịt cá có phần khác với ý nghĩa nguyên thuỷ.

Uposatha hay trai giới gồm tám giới – nên cũng được gọi là bát quan trai giới. Tám giới nầy ngoài một số trọng giới như trong ngũ giới phần còn lại nói về sự tiết giảm hưởng thụ trần cảnh, Đây là cách khiến tâm được thanh tịnh. Tám trai giới gồm có: 1. Không sát hại sinh vật. 2. Không lấy của không cho. 3. Không hưởng thụ nhục dục. 4. Không nói sai sự thật. 5. Không say sưa rượu và ma tuý. 6. Không ăn phi thời. 7. Không ca, vũ, nhạc, kịch hay thưởng thức ca, vũ, nhạc, kịch. 8. Không sử dụng chỗ nằm ngồi cao sang.

Cụm từ vossaṭṭhakāyā - từ bỏ thân xác được hiểu theo ba nghĩa: 1. Do tu tập trai giới nên chuyển nghiệp không còn tiếp tục mang xác thân hiện tại, vốn là thân trong cảnh khổ. 2. Không tự vệ khi bị tấn công nên mất mạng. 3. Do thọ trì trai giới nên sức khoẻ cạn kiệt. Ngữ cảnh trong 4 bài kinh nầy được hiểu theo nghĩa thứ nhất.

Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

I. Chủng Loại (Tạp 19, Ðại 2, 646a) (S.iii,240)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...

3) -- Này các Tỷ-kheo có bốn loại Nàga (rồng, rắn) về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh. Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.

II. Diệu Thắng (S.iii,240)

1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...

4) -- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại Nàga về sanh chủng. Thế nào là bốn? Loại Nàga từ trứng sanh, loại Nàga từ thai sanh, loại Nàga từ ẩm ướt sanh, loại Nàga hóa sanh.

5) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ thai sanh, loại từ ẩm ướt sanh, và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh.

6) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga từ ẩm ướt sanh và loại hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh và từ thai sanh.

7) Tại đây, này các Tỷ-kheo, loại Nàga hóa sanh thù thắng hơn loại Nàga từ trứng sanh, loại từ thai sanh và loại từ ẩm ướt sanh.

Này các Tỷ-kheo, đây là bốn loại Nàga theo sanh chủng.

Sớ Giải Kinh Suddhika và Kinh Paṇītatara

342. nāgasaṃyutte aṇḍajāti aṇḍe jātā. jalābujāti vatthikose jātā. saṃsedajāti saṃsede jātā. opapātikāti upapatitvā viya jātā. idañca pana suttaṃ aṭṭhuppattiyā vuttaṃ. bhikkhūnañhi “kati nu kho nāgayoniyo”ti kathā udapādi. atha bhagavā puggalānaṃ nāgayonīhi uddharaṇatthaṃ nāgayoniyo āvikaronto imaṃ suttamāha.

Trong phần Nāgasaṃyutta:

  • Aṇḍajāti nghĩa là sinh từ trứng.
  • Jalābujāti nghĩa là sinh ra trong bào thai.
  • Saṃsedajāti nghĩa là sinh từ nơi ẩm ướt.
  • Opapātikāti nghĩa là sinh ra dường như bằng cách tự nhiên, không qua quá trình sinh trưởng thông thường.

Bài kinh này được thuyết giảng nhằm làm rõ vấn đề. Khi các tỳ kheo thắc mắc, “Có bao nhiêu loại hình sinh ra của các loài Nāga?” thì Đức Thế Tôn, để giải thích các loại hình sinh ra của Nāga và giúp các tỳ kheo hiểu về chúng, đã thuyết bài kinh này.

-ooOoo-