|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2024 MÔN HỌC PĀLI PHÁP CÚ XXV. Phẩm Tỳ Kheo (Bhikkhuvagga) Gồm 23 bài kệ với 12 duyên sự. _ Kệ số 12 đến 14. (dhp 371-373)
Duyên sự:
Chín bài kệ nầy được đức Phật thuyết cho chín nhóm tân tỳ
kheo, khi Ngài trú ở Sāvatthi tại Jetavana.
Một băng cướp 900 người đã đột nhập vào gia trang của một bà
tín nữ, thân mẫu của tôn giả Sonakoṭikaṇṇa, trong lúc bà
vắng nhà để đến chùa nghe tôn giả thuyết pháp.
Gia nhân lẻn ra ngoài đi đến chùa thông báo cho nữ chủ biết.
Bà gạt đi và nói: “Kệ chúng, chúng muốn đem tài sản đi thì
đem. Để yên ta nghe pháp”.
Lần thứ hai, rồi lần thứ ba, gia nhân đến báo tin cho bà
biết, bọn cướp lúc đầu lấy kho tiền đồng, lần hai lấy kho
bạc, bây giờ đang lấy kho vàng. Bà tín nữ cũng gạt ngang:
“Hãy để ta nghe pháp. Mặc kệ bọn cướp, chúng muốn lấy vàng
bao nhiêu thì lấy”. Tên gia nhân trở về nhà nói với bọn
cướp: “các ông muốn lấy vàng bạc bao nhiêu thì lấy. Chủ nhân
nhà nầy không cần tài sản ấy mà chỉ cần tài sản pháp”.
Đảng cướp ngơ ngác nhìn nhau, chúa đảng ngộ ra được sự nhiệm
mầu của giáo pháp bèn ra lệnh đồng đảng đem trả lại tất cả
tiền, vàng và bạc, trả vào kho của bà nữ chủ. Rồi tất cả
cùng đi đến chùa gặp bà chủ để xin lỗi, đồng thời họ xin
xuất gia với tôn giả Sona.
Tôn giả Sona truyền giới cho họ và dạy đề mục hành thiền
khác nhau cho chín nhóm, mỗi nhóm trăm người.
Chín nhóm tân tỳ kheo tìm nơi thanh vắng để tu niệm đề mục
thiền của mình. Lúc ấy, đức Thế Tôn tại hương thất Jetavana,
Ngài quán xét thấy căn lành của chín trăm tân tỳ kheo ấy,
liền phóng hào quang như đang ở trước mặt họ và tuần tự
thuyết lên chín bài kệ nầy.
Khi dứt một kệ ngôn thì có một trăm vị tỳ kheo đắc A la hán
với tứ tuệ phân tích…chín kệ ngôn đức Thế Tôn thuyết xong,
tất cả 900 vị đều đạt đến quả vị Lậu tận với bốn tuệ phân
tích.
Chư tỳ kheo ấy sau khi đắc thánh quả đã theo đường hư không
đi đến Jetavana cách đó 120 do tuần để đảnh lễ bậc Đạo sư.
Chánh văn:
(dhp 371)
12. Jhāya bhikkhu mā ca pamādo
(dhp 372)
13. Natthi jhānaṃ apaññassa
(dhp 373)
14. Suññāgāraṃ paviṭṭhassa
Chuyển văn:
12. Bhikkhu jhāya mā ca pamādo te cittaṃ kāmaguṇe mā
bhamassu pamatto lohaguḷaṃ mā gilī dayhamāno idaṃ dukkhaṃ
kandi.
Việt văn:
(pc 371)
12. Tỳ kheo, hãy tu thiền!
(pc 372)
13. Không thiền, người vô trí
(pc 373)
14. Đi vào ngôi nhà trống,
12. Tỳ kheo, hãy tu thiền, chớ có dễ duôi, chớ để tâm của
người cuốn theo dục trần; Đừng phóng túng nuốt hòn sắt nóng,
đừng để khi bị đốt cháy mới than thở “đây là khổ”.
13. Không trí tuệ thì không có thiền định, không thiền định
thì không có trí tuệ; ở người nào có cả thiền định và trí
tuệ, người ấy chắc chắn đến gần níp bàn.
14. Đối với vị tỳ kheo đi vào chổ vắng vẻ, tâm ý an tịnh,
chân chánh minh sát pháp, thì sẽ có được niềm hoan hỷ siêu
nhân.
Lý giải:
Kệ ngôn thứ tư:
Tỳ kheo, hãy tu thiền (jhāya bhikkhu) là đức Phật kêu dạy
“Này các tỳ kheo, ngươi hãy tu thiền theo hai loại chỉ
(samattha) và quán (vipassanā).
Chớ có buông lung (mā ca pamādo) là đừng sống phóng túng, dễ
duôi trong thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp.
Chớ để tâm ngươi cuốn theo dục trần (mā te kāmagune bhamassu
cittaṃ), đức Phật dạy: đừng để tâm của ngươi cuốn theo, thỏa
thích theo năm món dục lạc sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị
ngon, xúc lạc.
Chớ nuốt hòn sắt nóng, bị đốt đừng than khổ (mā lohaguḷaṃ
gilī pamatto mā kandi dukkhamidaṇ’ ti dayhamāno), câu nầy có
nghĩa là người xuất gia mà sống buông thả, thất niệm, sẽ
nuốt hòn sắt nóng đỏ trong cõi địa ngục, do đó, đức Phật dạy
các tỳ kheo:
chớ dễ duôi mà nuốt hòn sắt nóng, và đừng để khi bị đốt cháy
cổ họng bởi hòn sắt nóng ấy mới than khóc “đây là khổ” như
thế là quá muộn rồi.
Kệ ngôn thứ năm:
Người không trí tuệ thì không có thiền định (natthi jhānaṃ
apaññassa), bởi vì trí tuệ tạo nên sự tinh tấn và là nhân
phát sanh thiền định, do đó đối với người không trí tuệ thì
không có thiền định.
Người không thiền, không có trí tuệ (paññā natthi ajhāyato).
Người không thiền là người tâm không định tĩnh; Mà người tâm
không định tĩnh thì làm sao có trí tuệ? Bởi có Phật ngôn
rằng: “Samāhito bhikkhu
yathābhūtaṃ jānāti passati, vị tỳ kheo định tĩnh mới
thấy biết như thật”, do đó, không thiền thì không có trí
tuệ.
Người có thiền và trí tuệ, chắc chắn gần níp bàn (yamhi
jhānañca paññā ca sa ve nibbānasantike), tức là nói đối với
người nào có cả hai thiền, và trí tuệ thì người ấy, chắc
chắn sẽ chứng ngộ níp bàn.
Kệ ngôn thứ sáu:
Đi vào ngôi nhà trống
(suññāgāraṃ paviṭṭhassa), ngôi nhà trống là ám chỉ
chổ thanh vắng, bất cứ là chổ nào. Vị tỳ kheo đi vào chổ
vắng vẻ, ngôi xuống tác ý đề mục.
Tỳ kheo tâm an tịnh (santacittassa bhikkhuno), tức là vị tỳ
kheo có tâm yên bình (nibbutacittassa).
Chân chánh minh sát pháp (sammā dhammaṃ vipassato), tức là
quán xét danh sắc theo đặc tính vô thường, khổ, vô ngã; quán
xét duyên tập khởi của danh sắc. Như vậy gọi là minh sát
pháp.
Có hỷ lạc siêu nhân (amānusī rati hoti) nghĩa là đối với vị
tỳ kheo ẩn cư nơi vắng vẻ, tu tập đề mục chỉ tịnh và minh
sát, vị ấy sẽ hưởng được hỷ lạc của thiền quán và hỷ lạc của
thiền chỉ, một trạng thái hỷ lạc như chư thiên, thứ hỷ lạc
mà con người không cảm nhận được. @@@@@@@@@@@@@@@@@@ Hướng dẫn cách cài đặt và gõ chữ Pali
Quý vị vào link bên dưới để
xem hướng dẫn cách cài đặt và cách thức gõ.
Gõ Pāli và Sanskrit trên Windows 10
https://tienvnguyen.net/a704/phong-chu-pali-unicode-unicode-pali-fonts
Gõ Tiếng Việt trên Windows 10
http://unikey.vn/vietnam/ |