|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 12 tháng 11, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 399. NGHIỆP TRẮNG LẪN ĐEN TẠO QUẢ ĐEN LẪN TRẮNG- Kinh Được Nghe (sutasuttaṃ) I, II, III, IV. ******
Nói đến thiện ác, khổ vui người ta thường nói theo
cách phân định rạch ròi. Thực tế
cho thấy trong cuộc sống thường
là có những pha trộn cả hai đen
trắng như Phật ngôn “nghiệp
trắng lẫn đen tạo quả đen lẫn
trắng”. Tâm thức chúng sanh chứa
đầy những phức cảm. Sự hiểu biết
hạn chế cũng đưa đến nhân quả ô
hợp khó lường. Sự mâu thuẫn nội
tại tạo thành hành động pha lẫn
tốt xấu và tạo thành quả dị thục
hỗn hợp. Với người không nhận rõ
nghiệp báo chỉ biết than “Con
Tạo trớ trêu”. Kinh Văn:
348. sāvatthinidānaṃ. ekamantaṃ nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu
kho, bhante, hetu, ko paccayo,
yena midhekacco kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā aṇḍajānaṃ nāgānaṃ
sahabyataṃ upapajjatī”ti?
“idha, bhikkhu,
ekacco kāyena dvayakārī hoti,
vācāya dvayakārī hoti, manasā
dvayakārī hoti. tassa sutaṃ hoti
— ‘aṇḍajā nāgā dīghāyukā
vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. tassa
evaṃ hoti — ‘aho vatāhaṃ kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā aṇḍajānaṃ
nāgānaṃ sahabyataṃ
upapajjeyyan’ti. so kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā aṇḍajānaṃ
nāgānaṃ sahabyataṃ upapajjati.
ayaṃ kho, bhikkhu, hetu, ayaṃ
paccayo, yena midhekacco kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā aṇḍajānaṃ
nāgānaṃ sahabyataṃ
upapajjatī”ti. sattamaṃ.
Một thuở, Đức Thế Tôn ngự ở Sāvatthi, tại Jetavana (Kỳ Viên), ngôi già lam
do ông Anāthapiṇḍika dâng cúng.
Khi ấy, có một vị tỳ khưu đến
chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài,
rồi ngồi xuống một bên. Khi đã
ngồi xuống một bên, vị tỳ kheo
ấy bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số người sau khi thân
hoại mạng chung thọ sanh làm
long chủng noãn sanh?”
[Đức Thế Tôn đáp:]
“Này Tỳ khưu, ở đây có người làm hai loại nghiệp (thiện ác) bằng thân, hai
loại nghiệp (thiện ác) bằng lời
nói, và hai loại nghiệp (thiện
ác) bằng ý nghĩ. Người ấy đã
nghe rằng “Long chủng noãn sanh
là loài có tuổi thọ dài, xinh
đẹp, và sống an lạc”. Người ấy
khởi niệm mong ước: ‘Nguyện sau
khi thân hoại mạng chung, ta sẽ
tái sinh làm long chủng noãn
sanh.’ Vì vậy, sau khi thân hoại
mạng chung, người ấy đã tái sinh
làm long chủng noãn sanh.
Này Tỳ khưu, đây chính là nhân, đây chính là duyên khiến một số người sau
khi thân hoại mạng chung lại thọ
sanh làm long chủng noãn sanh.”
KINH ĐƯỢC NGHE II
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “thai sanh”
KINH ĐƯỢC NGHE III
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “thấp sanh”
KINH ĐƯỢC NGHE IV
Giống kinh trên chỉ đổi “noãn sanh” thành “hoá sanh”
Chú Thích
Chữ
dvayakārī
thường
được dịch “cả hai hành động”
trong nhiều bản dịch. Sớ Giải
nêu rõ là “thiện ác lẫn lộn -
dvayakārinoti duvidhakārino
kusalākusalakārinoti attho”.
Ngài Bodhi dịch một cách thú vị
là “someone acts ambivalently in
body, speech, and mind - một
người hành động mâu thuẫn trong
thân, ngữ và ý”. Có thể hiểu là
hạnh nghiệp có tốt có xấu.
“Người
ấy được nghe” có nghĩa là nghe
ai đó nói nhưng cả người nói và
người nghe đều không thật sự
biết đích xác.
Bài
kinh nầy nêu rõ vai trò của ý
nguyện đối với cảnh giới sanh
tử.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
VII. Nghe (S.iii,243)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại (chúng
sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các
Nàga từ trứng sanh?
4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, một loại (chúng sanh) làm hai hạnh về
thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý. Chúng nghe nói
như sau: "Loại Nàga từ trứng sanh được thọ mạng lâu dài, nhan
sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc".
5) Chúng suy nghĩ như sau: "Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng
chung, chúng ta có thể sanh cọng trú với loại Nàga từ trứng
sanh!"
6) Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với
loại Nàga từ trứng sanh.
VIII. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga từ thai sanh ).
IX. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga từ ẩm ướt sanh ).
X. Nghe
(Như kinh trước, chỉ thế vào: Loại Nàga hóa sanh ).
Sớ Giải Kinh Suddhika và Kinh Paṇītatara
343-391. dutiyādīsu vossaṭṭhakāyāti ahituṇḍikaparibuddhaṃ
agaṇetvā vissaṭṭhakāyā. dvayakārinoti duvidhakārino,
kusalākusalakārinoti attho. sacajja mayanti sace ajja mayaṃ.
sahabyataṃ upapajjatīti sahabhāvaṃ āpajjati. tatrassa akusalaṃ
upapattiyā paccayo hoti, kusalaṃ upapannānaṃ sampattiyā. annanti
khādanīyabhojanīyaṃ. pānanti yaṃkiñci pānakaṃ. vatthanti
nivāsanapārupanaṃ. yānanti chattupāhanaṃ ādiṃ katvā yaṃkiñci
gamanapaccayaṃ. mālanti yaṃkiñci sumanamālādipupphaṃ. gandhanti
yaṃkiñci candanādigandhaṃ. vilepananti yaṃkiñci
chavirāgakaraṇaṃ. seyyāvasathapadīpeyyanti mañcapīṭhādiseyyaṃ
ekabhūmikādiāvasathaṃ vaṭṭitelādipadīpūpakaraṇañca detīti attho.
tesañhi dīghāyukatāya ca vaṇṇavantatāya ca sukhabahulatāya ca
patthanaṃ katvā imaṃ dasavidhaṃ dānavatthuṃ datvā taṃ sampattiṃ
anubhavituṃ tattha nibbattanti. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
343-391. Trong các đoạn sau về "vossaṭṭhakāyā," có nghĩa là thân
được buông bỏ, không tính đến những thân
bị sát hại mà là tự buông bỏ mạng sống. "Dvayakārino" có
nghĩa là hành động hai loại, tức là làm thiện và bất thiện.
"Sacajja mayaṃ" có nghĩa là "nếu hôm nay chúng ta." "Sahabyataṃ
upapajjatīti" có nghĩa là đạt đến sự đồng hành, tức là cùng nhau
đạt được trạng thái đồng hành. Ở đây, bất thiện nghiệp là duyên
cho sự tái sinh, còn thiện nghiệp là duyên cho sự thành đạt của
những người đã tái sinh.
"Annaṃ" có nghĩa là thức ăn dùng để ăn uống. "Pānaṃ" là bất kỳ
loại đồ uống nào. "Vatthaṃ" là y phục và khăn trùm. "Yānaṃ" là
phương tiện đi lại, bao gồm ô che, giày dép, và bất kỳ đồ dùng
nào liên quan đến di chuyển. "Mālaṃ" là bất kỳ loại hoa nào như
hoa sumana (hoa lài) và các loại hoa khác. "Gandhaṃ" là bất kỳ
loại hương nào như hương đàn hương. "Vilepanaṃ" là bất kỳ loại
mỹ phẩm nào làm đẹp da. "Seyyāvasathapadīpeyyanti" có nghĩa là
giường nằm như giường, ghế, và các loại nhà ở như nhà một tầng
và các loại đèn dầu, các vật dụng cần thiết.
-ooOoo- |