|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 19 tháng 11, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 342. QUẢ PHÚC THẤP NHẤT- Kinh Giản Lược. ******
Chúng sanh tạo thiện nghiệp dẫn đến nhiều quả báo.
Quả dị thục thấp nhất là những
quả báo sắc đẹp, tiếng hay, mùi
thơm, vị ngon, xúc lạc. Càn thát
bà với ngoại hình đẹp đẽ, ưa
thích hương thơm, sống vui với
âm nhạc được ghi nhận là chư
thiên thấp nhất trong thiên
giới. Đối với loài người cuộc
sống của loài hoá sanh như thế
có thể là đã quá đủ để hạnh
phúc. Kỳ thật thì thú vui dục
lạc, dù là thiên lạc, cũng phù
du và dù trọn kiếp hưởng thụ
cũng không là điều kiện tốt để
nếm trãi hương vị của thiện pháp
dẫn tới giác ngộ, giải thoát.
1. Kinh Giản Lược (suddhikasuttaṃ)
438. ekaṃ samayaṃ
bhagavā sāvatthiyaṃ viharati
jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme
... pe ... bhagavā etadavoca —
“gandhabbakāyike vo, bhikkhave,
deve desessāmi. taṃ suṇātha.
katamā ca, bhikkhave,
gandhabbakāyikā devā? santi,
bhikkhave, mūlagandhe adhivatthā
devā. santi, bhikkhave,
sāragandhe adhivatthā devā.
santi, bhikkhave, pheggugandhe
adhivatthā devā. santi,
bhikkhave, tacagandhe adhivatthā
devā. santi, bhikkhave,
papaṭikagandhe adhivatthā devā.
santi, bhikkhave, pattagandhe
adhivatthā devā. santi,
bhikkhave, pupphagandhe
adhivatthā devā. santi,
bhikkhave, phalagandhe
adhivatthā devā. santi,
bhikkhave, rasagandhe adhivatthā
devā. santi, bhikkhave,
gandhagandhe adhivatthā devā.
ime vuccanti, bhikkhave,
gandhabbakāyikā devā”ti.
paṭhamaṃ.
Một thuở Đức Thế Tôn ngự ở
Sāvatthi, tại Kỳ Viên ngôi già
lam do ông Anāthapiṇḍika dâng
cúng ... Đức Thế Tôn dạy như
sau:
“Này chư Tỳ khưu, Ta sẽ thuyết giảng về
chư thiên thuộc nhóm Càn
Thát Bà. Hãy lắng nghe.
Này chư Tỳ khưu, thế nào là
chư thiên nhóm Càn Thát Bà? Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của rễ cây. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của lõi cây. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của nhựa cây. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của vỏ cây. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của lá cây. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của hoa. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của quả. Có
chư thiên trú ngụ trên
mùi hương của trái cây.
Có
chư thiên trú ngụ trên
của những mùi hương khác.
Này chư Tỳ khưu, đó là chư thiên được gọi càn thát bà.”
Chú Thích
Thuật ngữ Gandhabba (Càn Thát Bà) chỉ cho chư thiên bậc thấp, thường là
những vị thiên làm việc trong
hai cõi Tāvatiṃsa (Đao Lợi
Thiên) và Cātummahārājika (Tứ
Đại Thiên Vương)..
Khác với long chủng và kim sí điểu, những vị càn thát bà là chư thiên, dù
là bậc thấp, chứ không phải
thuộc bàng sanh.
Hai đặc điểm nổi bậc của các vị càn thát bà là rất giỏi về âm nhạc và
thường là nhạc công ở cõi trời
nên đôi khi được dịch là “nhạc
thần -
樂神” trong Hán Tạng. (Chữ “thần”
chữ Hán thường được hiểu là thấp
hơn “tiên”)
Chữ gandhabba nguyên nghĩa là mùi hương vì những vị thiên nầy là loài hoá
sanh ở những nơi có hương thơm,
đặc biệt là thảo mộc nên Hán
tạng cũng dịch là “Hương thần -香神”.
Đặc điểm của các vị càn thát bà theo Sớ Giải là ngoại hình đẹp đẽ, sống
vui với âm nhạc, hưởng thụ mùi
hương. Theo một số biên khảo thì
tục thờ cúng hương hoa, trầm
hương trong tín ngưỡng có thể
bắt nguồn từ ý niệm “những thiên
nhân khuất mặt chỉ hưởng mùi
thơm” như những gì được đề cập
về càn thát bà. (Trong vài địa
phương thì quan niệm thắp hương
khiến cho nơi thờ tự xoá đi
những mùi không tinh khiết nên
việc thắp nhang trở nên phổ
biến)
Đặc tính nổi bật của càn thát bà là cuộc sống vui hưởng và phục vụ cho các
vị thiên. Càn thát bà là chư
thiên thấp nhất trú ngụ lẫn lộn
giữa cảnh giới con người, nhiều
nhất là rừng núi, và cõi Tứ
Thiên Vương. Tục thờ cúng chư
thiên trong dân gian thường là
chư thiên thuộc càn thát bà.
Có rất nhiều bài kinh trong Tam Tạng đề cập tới càn thát bà như Kinh
Mahāsamaya, Trường Bộ, kinh số
20 hay trong Jakata (Bổn sanh).
Nên cẩn thận một điểm là thuật ngữ gandhabba đôi khi có nghĩa là thức tái
sanh được dịch là “hương ấm”
không liên quan tới ý nghĩa
gandhabba trong bài kinh nầy.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Chủng Loại (S.iii,249)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về chư Thiên
thuộc loại Gandhabba (Càn-thát-bà). Hãy lắng nghe.
4) Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chư Thiên thuộc loại
Gandhabba? Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương rễ cây. Có
chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương lõi cây. Có chư Thiên, này
các Tỷ-kheo, trú hương giác cây. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo,
trú hương vỏ cây trong. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương
vỏ cây ngoài. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương lá cây.
Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương bông. Có chư Thiên, này
các Tỷ-kheo, trú hương trái cây. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo,
trú hương vị. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, trú hương hương.
5) Những loại này, này các Tỷ-kheo được
gọi là chư Thiên thuộc loại Càn-thát-bà.
Sớ Giải
438-549. gandhabbakāyasaṃyutte mūlagandhe adhivatthāti yassa
rukkhassa mūle gandho atthi, taṃ nissāya nibbattā. so hi
sakalopi rukkho tesaṃ upakappati. sesapadesupi eseva nayo.
gandhagandheti mūlādigandhānaṃ gandhe. yassa hi rukkhassa
sabbesampi mūlādīnaṃ gandho atthi, so idha gandho nāma. tassa
gandhassa gandhe, tasmiṃ adhivatthā. idha mūlādīni sabbāni
tesaṃyeva upakappanti. so dātā hoti mūlagandhānanti so
kāḷānusārikādīnaṃ mūlagandhānaṃ dātā hoti. evaṃ sabbapadesu
attho veditabbo. evañhi sarikkhadānampi datvā patthanaṃ
ṭhapenti, asarikkhadānampi. taṃ dassetuṃ so annaṃ detītiādi
dasavidhaṃ dānavatthu vuttaṃ. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
438-549. Trong Gandhabbakāyasaṃyutta (Tương Ưng với
Chư Thiên Gandhabbakāyikā), câu “trú ngụ trên mùi hương của
rễ cây” có nghĩa là các chư thiên sinh ra dựa trên mùi hương từ
rễ của một cây nào đó. Toàn bộ cây đó trở thành nơi nương tựa và
phù hợp cho họ. Các trường hợp khác cũng được hiểu tương tự.
"Gandhagandhe"
có nghĩa là mùi hương của tất cả các phần như rễ, lõi, nhựa, vỏ,
lá, hoa, và quả. Nếu một cái cây có mùi hương từ tất cả các phần
này, thì đó được gọi là mùi hương (gandha). Các chư thiên
trú ngụ trên mùi hương đó. Ở đây, tất cả các phần như rễ, lõi,
vỏ, và lá đều phù hợp cho họ.
"So dātā hoti mūlagandhānaṃ"
có nghĩa là người đó là người cúng dường các mùi hương từ rễ
cây, như những mùi hương của kāḷānusārika (một loại mùi
hương rễ). Ý nghĩa này cũng được áp dụng tương tự trong các
trường hợp khác.
Cách hiểu:
Người cúng dường (dātā) có thể cúng những mùi hương phù hợp hoặc
không phù hợp, và đặt ý nguyện khi thực hiện sự cúng dường đó.
Để làm rõ điều này, đoạn kinh nêu lên mười loại bố thí khác
nhau, bắt đầu với câu: "Người đó cúng thức ăn" (so annaṃ deti).
-ooOoo- |