|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Tư, ngày 20 tháng 11, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 343. LÀM LÀNH ĐƯỢC VUI- Kinh Thiện Hạnh (sucaritasuttaṃ). ******
439.
sāvatthinidānaṃ. ekamantaṃ
nisinno kho so bhikkhu
bhagavantaṃ etadavoca — “ko nu
kho, bhante, hetu, ko paccayo,
yena midhekacco kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā gandhabbakāyikānaṃ
devānaṃ sahabyataṃ
upapajjatī”ti? “idha, bhikkhu,
ekacco kāyena sucaritaṃ carati,
vācāya sucaritaṃ carati, manasā
sucaritaṃ carati. tassa sutaṃ
hoti — ‘gandhabbakāyikā devā
dīghāyukā vaṇṇavanto
sukhabahulā’ti. tassa evaṃ hoti
— ‘aho vatāhaṃ kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā gandhabbakāyikānaṃ
devānaṃ sahabyataṃ
upapajjeyyan’ti. so kāyassa
bhedā paraṃ maraṇā
gandhabbakāyikānaṃ devānaṃ
sahabyataṃ upapajjati. ayaṃ kho,
bhikkhu, hetu, ayaṃ paccayo,
yena midhekacco kāyassa bhedā
paraṃ maraṇā gandhabbakāyikānaṃ
devānaṃ sahabyataṃ
upapajjatī”ti. dutiyaṃ.
Nhân duyên ở Sàvatthi...
…..Khi đã ngồi xuống một bên, vị tỳ khưu ấy bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì mà ở đây một số người sau khi thân
hoại mạng chung thọ sanh
cộng trú
với chư thiên càn thát bà?”
[Đức Thế Tôn đáp:]
“Này Tỳ khưu, ở đây có người tạo tác thân thiện
hạnh, tạo tác ngữ thiện hạnh,
tạo tác ý thiện hạnh. Họ nghe
nói như sau: "Chư thiên
càn thát bà
được
thọ mạng lâu dài, dung sắc thù
thắng, hưởng thọ nhiều lạc thú".
Người ấy khởi niệm mong
ước: ‘Nguyện sau khi thân hoại
mạng chung, ta sẽ tái sinh cộng
trú với chư thiên càn thát bà’.
Vì vậy, sau khi thân hoại mạng
chung, người ấy đã tái sinh cộng
trú với chư thiên càn thát bà.
Này Tỳ khưu, đây chính là nhân, đây chính là duyên khiến một số người sau
khi thân hoại mạng chung lại thọ
sanh làm chư thiên càn thát bà”.
Chú Thích
Bài kinh nầy có phần tương tự về nhân và duyên tái sanh như đề cập trong
phẩm long chủng và kim sí điểu.
Chỉ khác là chư thiên càn thát
bà là chúng sanh trong cõi an
lạc nên không có sự pha trộn
giữa hai nghiệp thiện và bất
thiện mà chỉ có “nghiệp trắng
kết quả trắng”
Nếu so sánh thì theo một số câu chuyện trong kinh, loài long chủng có tu
tập trai giới và hành trì thiện
pháp hơn là chư thiên càn thát
bà có lẽ vì cuộc sống có khổ vui
lẫn lộn.
Chúng sanh tạo thiện nghiệp dẫn đến nhiều quả báo.
Quả dị thục thấp nhất là những
quả báo sắc đẹp, tiếng hay, mùi
thơm, vị ngon, xúc lạc. Càn thát
bà với ngoại hình đẹp đẽ, ưa
thích hương thơm, sống vui với
âm nhạc được ghi nhận là chư
thiên thấp nhất trong thiên
giới. Đối với loài người cuộc
sống của loài hoá sanh như thế
có thể là đã quá đủ để hạnh
phúc. Kỳ thật thì thú vui dục
lạc, dù là thiên lạc, cũng phù
du và dù trọn kiếp hưởng thụ
cũng không là điều kiện tốt để
nếm trãi hương vị của thiện pháp
dẫn tới giác ngộ, giải thoát.
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
II. Thiện Hành (S.iii,250)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
4) Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, một loại
(chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú
với chư Thiên thuộc loại Gandhabba?
5) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh)
làm thiện hạnh về thân, làm thiện hạnh
về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ nghe nói như sau: "Chư Thiên
thuộc loại Gandhabba được thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng,
hưởng thọ nhiều lạc".
6) Họ suy nghĩ như sau: "Ôi mong rằng, sau khi thân hoại
mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại
Gandhabba!" Sau khi thân hoại mạng chung, họ được sanh cọng trú
với chư Thiên thuộc loại Gandhabba.
7) Do nhân này, do duyên này, này các
Tỷ-kheo, ở đây, có loại (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng
chung, được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại Gandhabba.
Sớ Giải
438-549. gandhabbakāyasaṃyutte mūlagandhe adhivatthāti yassa
rukkhassa mūle gandho atthi, taṃ nissāya nibbattā. so hi
sakalopi rukkho tesaṃ upakappati. sesapadesupi eseva nayo.
gandhagandheti mūlādigandhānaṃ gandhe. yassa hi rukkhassa
sabbesampi mūlādīnaṃ gandho atthi, so idha gandho nāma. tassa
gandhassa gandhe, tasmiṃ adhivatthā. idha mūlādīni sabbāni
tesaṃyeva upakappanti. so dātā hoti mūlagandhānanti so
kāḷānusārikādīnaṃ mūlagandhānaṃ dātā hoti. evaṃ sabbapadesu
attho veditabbo. evañhi sarikkhadānampi datvā patthanaṃ
ṭhapenti, asarikkhadānampi. taṃ dassetuṃ so annaṃ detītiādi
dasavidhaṃ dānavatthu vuttaṃ. sesaṃ sabbattha uttānamevāti.
438-549. Trong Gandhabbakāyasaṃyutta (Tương Ưng với Chư Thiên
Gandhabbakāyikā), câu “trú ngụ trên mùi hương của rễ cây” có
nghĩa là các chư thiên sinh ra dựa trên mùi hương từ rễ của một
cây nào đó. Toàn bộ cây đó trở thành nơi nương tựa và phù hợp
cho họ. Các trường hợp khác cũng được hiểu tương tự.
"Gandhagandhe" có nghĩa
là mùi hương của tất cả các phần như rễ, lõi, nhựa, vỏ, lá, hoa,
và quả. Nếu một cái cây có mùi hương từ tất cả các phần này, thì
đó được gọi là mùi hương (gandha). Các chư thiên trú ngụ
trên mùi hương đó. Ở đây, tất cả các phần như rễ, lõi, vỏ, và lá
đều phù hợp cho họ.
"So dātā hoti mūlagandhānaṃ" có nghĩa
là người đó là người cúng dường các mùi hương từ rễ cây, như
những mùi hương của kāḷānusārika (một loại mùi hương rễ).
Ý nghĩa này cũng được áp dụng tương tự trong các trường hợp
khác.
Cách hiểu: Người cúng
dường (dātā) có thể cúng những mùi hương phù hợp hoặc không phù
hợp, và đặt ý nguyện khi thực hiện sự cúng dường đó. Để làm rõ
điều này, đoạn kinh nêu lên mười loại bố thí khác nhau, bắt đầu
với câu: "Người đó cúng thức ăn" (so annaṃ deti).
-ooOoo- |