|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 23 tháng 11, 2024
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 344. CHƯ THIÊN VÀ HIỆN TƯỢNG THIÊN NHIÊN- Kinh Giản Lược. ******
Cuộc sống dù là thiên nhiên hay xã hội đều có những yếu tính chi
phối xa gần khó biết hết. Càng
hiểu nhiều về thiên văn khí
tượng, con người càng nhận ra
những phức tạp khó đoán. Phật
pháp gọi là sự hỗn hợp giữa
nghiệp, quả, phiền não. Một đoá
hoa nở hay một đám mây trời có
thể chỉ là một hình ảnh giản dị
như trong hiểu biết sâu xa hơn
thì đằng sau đó có thể là những
sự hiện hữu gây kinh ngạc đến kỳ
lạ.
1. Kinh Giản Lược (suddhikasuttaṃ)
550. sāvatthinidānaṃ. “valāhakakāyike vo, bhikkhave, deve
desessāmi. taṃ suṇātha. katame
ca, bhikkhave, valāhakakāyikā
devā? santi, bhikkhave,
sītavalāhakā devā; santi
uṇhavalāhakā devā; santi
abbhavalāhakā devā; santi
vātavalāhakā devā; santi
vassavalāhakā devā — ime
vuccanti, bhikkhave,
‘valāhakakāyikā devā’”ti.
paṭhamaṃ.
Tại Sāvatthī.
“Này chư
Tỳ khưu, Ta sẽ giảng về
bốn hạng chư thiên sống trên
mây. Hãy lắng nghe…
“Này chư
Tỳ khưu, bốn hạng chư
thiên sống trên mây gồm có gì?
Này
chư
Tỳ khưu, có chư thiên
sống trên mây lạnh, có chư thiên
sống trên mây nóng, có chư thiên
sống trên mây gió, có chư thiên
sống trên mây mưa.
Đây là bốn hạng chư thiên sống trên
mây.
Chú Thích
"Valāhakakāyikā" nghĩa là chư thiên thuộc nhóm Valāhaka, các vị trời đi lại trong không
gian và sinh ra trong cảnh giới
mang tên Valāhaka.
Do
duyên nghiệp một số chúng sanh
thọ sanh và sống với hiện tượng
thiên nhiên như càn thát bà ở
nơi có mùi hương, hay chư thiên
sống trên mây.
Ngày
nay, loài người biết về nhiệt độ
nóng lạnh của mây trời qua ba
yếu tố: độ cao, mùa tiết, và vị
trí. Độ cao càng nhiều mây càng
lạnh. Mùa đông mây lạnh hơn mùa
hè. Mây ở gần bắc cực, nam cực
lạnh hơn ở gần đường xích đạo.
Mây gió
là là mây thuộc hệ cuồng phong
bão tố. Mây mưa là mây có nhiều
hạt
nước nhỏ (water
droplets).
Sự ảnh
hưởng giữa “chư thiên mây” và
hiện tượng thời khí là hiện
tượng hai chiều cùng với những
yếu tố khác sẽ được đề cập trong
những bài kinh sau.
Theo Sớ giải, trời mưa có thể xảy ra vì tám nguyên nhân:
Theo Sớ giải, hiện tượng mưa gió có thể xẩy ra theo lập tâm của chư thiên
(cittaṭṭhapanaṃ).
Tỳ khưu Giác Đẳng
dịch và biên soạn giáo trình
Dưới đây là chánh văn Pāli cùng với bản Việt dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
Tương Ưng Thần Mây
-ooOoo-
I. Chủng Loại (S.iii,254)
1-2) Trú ở Sàvatthi...
3) -- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về chư Thiên
thuộc loại thần mây. Hãy lắng nghe.
4) -- Này các Tỷ-kheo, thế nào là chư Thiên thuộc loại thần mây?
Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, thuộc loại mây lạnh. Có chư
Thiên, này các Tỷ-kheo, thuộc loại mây nóng. Có chư Thiên, này
các Tỷ-kheo, thuộc loại mây sấm. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo,
thuộc loại mây gió. Có chư Thiên, này các Tỷ-kheo, thuộc loại
mây mưa.
5) Như vậy, này các Tỷ-kheo, họ được gọi là chư Thiên thuộc loại
thần mây.
II. Thiện Hành (S.iii,254)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có loại (chúng
sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư
Thiên thuộc loại thần mây?
4) -- Ở đây, này các Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm thiện
hạnh về thân, làm thiện hạnh về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ
được nghe như sau: "Chư Thiên thuộc loại thần mây được thọ mạng
lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc".
5) Họ suy nghĩ như sau: "Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng
chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần
mây!" Sau khi thân hoại mạng chung, loại (chúng sanh) ấy được
sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần mây.
6) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, có loại (chúng
sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư
Thiên thuộc loại thần mây.
III. Ủng Hộ Bố Thí (S.iii,254)
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây, có loại (chúng
sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với chư
Thiên thuộc loại thần mây lạnh?
4) -- Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm thiện hạnh về
thân, làm thiện hạnh về lời nói, làm thiện hạnh về ý. Họ được
nghe như sau: "Chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh được thọ mạng
lâu dài, nhan sắc thù thắng, hưởng thọ nhiều lạc".
5) Họ suy nghĩ như sau: "Ôi mong rằng, sau khi thân hoại mạng
chung, chúng ta được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần
mây lạnh!"
Họ bố thí đồ ăn... Họ bố thí đèn dầu. Sau khi thân hoại mạng
chung, họ được sanh cọng trú với chư Thiên thuộc loại thần mây
lạnh.
6) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, ở đây, một loại
(chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú
chư Thiên thuộc loại thần mây lạnh.
IV-VII. Ủng Hộ Bố Thí (2-5)
(S.iii,256)
(Như kinh trên, chỉ khác là "chư Thiên thuộc loại thần mây khác
như thần mây nóng" ... "thần mây mưa").
VIII. Lạnh
1-3) Nhân duyên ở Sàvatthi...
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, có khi trời lạnh?
4) -- Này Tỷ-kheo, có chư Thiên được gọi là thần mây lạnh. Khi
chư Thiên ấy suy nghĩ: "Chúng ta hãy sống, hoan hỉ với tự thân".
Tùy theo tâm nguyện của họ, trời lạnh.
5) Do nhân này, do duyên này, này Tỷ-kheo, có khi trời lạnh.
IX. Trời Nóng (S.iii,256)
(Như kinh trên, chỉ khác .... "ở đây là trời nóng và thuộc chư
Thiên thuộc loại mây nóng").
X. Trời Sấm
(Như kinh trên, chỉ khác ... "ở đây là trời sấm và thuộc chư
Thiên loại mây sấm").
XI. Trời Gió
(Như kinh trên, chỉ khác ... "ở đây trời gió và thuộc chư Thiên
loại mây gió").
XII. Trời Mưa
(Như kinh trên, chỉ khác ... "ở đây trời
mưa và thuộc chư Thiên loại mây mưa").
Sớ Giải Phẩm Kim Sí Điểu
392-437. supaṇṇasaṃyutte pattānaṃ vaṇṇavantatāya garuḷā
supaṇṇāti vuttā. idhāpi paṭhamasuttaṃ purimanayeneva
aṭṭhuppattiyaṃ vuttaṃ. harantīti uddharanti. uddharamānā ca pana
te attanā hīne vā same vā uddharituṃ sakkonti, na attanā
paṇītatare. sattavidhā hi anuddharaṇīyanāgā nāma paṇītatarā
kambalassatarā dhataraṭṭhā sattasīdantaravāsino pathaviṭṭhakā
pabbataṭṭhakā vimānaṭṭhakāti. tatra aṇḍajādīnaṃ jalābujādayo
paṇītatarā, te tehi anuddharaṇīyā. kambalassatarā pana
nāgasenāpatino, te yattha katthaci disvā yo koci supaṇṇo
uddharituṃ na sakkoti. dhataraṭṭhā pana nāgarājāno, tepi koci
uddharituṃ na sakkoti. ye pana sattasīdantare mahāsamudde
vasanti, te yasmā katthaci vikampanaṃ kātuṃ na sakkā, tasmā koci
uddharituṃ na sakkoti. pathaviṭṭhakādīnaṃ nilīyanokāso atthi,
tasmā tepi uddharituṃ na sakkoti. ye pana mahāsamudde ūmipiṭṭhe
vasanti, te yo koci samo vā paṇītataro vā supaṇṇo uddharituṃ
sakkoti. sesaṃ nāgasaṃyutte vuttanayamevāti.
50-606. Valāhakasaṃyutta
(Tương Ưng với Chư Thiên Valāhakas).
"Cetopaṇidhimanvāyāti" : có nghĩa là thông qua chủ ý (cittaṭṭhapanaṃ).
Câu chuyện điển hình:
Có một vị thiên tử thuộc nhóm Valāhaka, cụ thể là một vị thần
mưa (Vassavalāhakadevaputta), sống ở núi Talakūṭaka. Vị
này đến gặp một vị trưởng lão khổ hạnh đã chứng quả A-la-hán và
đảnh lễ Ngài.
Vị trưởng lão hỏi thêm: “Nhưng nếu không có tiếng sấm hay dấu
hiệu nào của mây, làm sao chúng ta biết trời sẽ mưa?”
Trưởng lão đồng ý và đi vào túp lều sau khi rửa chân. Khi Ngài
vừa vào trong, vị thiên tử hát một bài ca, rồi giơ tay lên. Ngay
lập tức, một đám mây bao phủ khu vực rộng ba do-tuần. Trưởng lão
chỉ bị mưa ướt một nửa trước khi bước vào túp lều.
Nguyên nhân trời mưa:
Theo Phật giáo, trời mưa có thể xảy ra vì tám nguyên nhân:
1.
Do thần lực của Nāga.
2.
Do thần lực của Supaṇṇa (chim thần).
3.
Do thần lực của chư thiên.
4.
Do sự thành tựu của lời chân thật (saccakiriyā).
5.
Do điều kiện thời tiết tự nhiên (utusamuṭṭhāna).
6.
Do năng lực khuấy động của Māra.
7.
Do sức mạnh của thần thông (iddhibala).
8.
Do những đám mây gây hủy diệt (vināsamegha).
-ooOoo- |