|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, 09 tháng 11, 2025
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN
Phần IV: ÔN CỐ TRI TÂN
- KHÔNG XỨNG ĐÁNG ĐỪNG TỰ NHẬN - - Kakkāru Jātaka - Kinh Bổn Sanh 326
Sammukhā vā tirokkhā vā, yo
sante na paribhāsati;
Dù trước
mặt hay sau lưng,
Các Tỳ-khưu tụ họp tại giảng
đường bàn luận:
“Này chư hiền, Đề-bà-đạt-đa đã
dùng lời hư nguỵ, chia rẽ Tăng đoàn, nay đang bệnh khổ,
chịu quả đau đớn dữ dội.”
Đức Phật đến hỏi:
“Này các Tỳ-khưu, các ông đang
bàn chuyện gì vậy?”
Các Tỳ-khưu bạch lại toàn sự.
Đức Phật dạy:
“Không phải chỉ bây giờ đâu,
này các Tỳ-khưu, ngay trong quá khứ, vị ấy cũng đã từng
nói dối và do đó phải chịu khổ đau lớn. Nay cũng đang
thọ quả tương tự.”
Theo lời thỉnh cầu, Đức Thế
Tôn đã kể lại câu chuyện thời quá khứ.
Câu chuyện tiền thân
Ngày xưa, thật xa xưa, bồ tát
sanh làm một vị thiên chủ sống ở cõi trời Đạo Lợi, dưới
trần gian có một vương quốc lớn tên là Ba-la-nại. Vua
của xứ ấy là một người khôn ngoan, thương dân, và mỗi
năm đều mở lễ hội mùa xuân linh đình.
Trong mùa lễ ấy, bốn vị Thiên
tử từ cõi trời cao cũng muốn xuống xem. Các vị khoác y
phục sáng chói như sao mai, trên cổ đeo những vòng hoa
trời Kakkāru – loài hoa chỉ nở trên mây trắng, hương
thơm lan khắp mười hai do-tuần.
Khi các ngài xuất hiện giữa
bầu trời thành Ba-la-nại, mùi hương hoa trời tỏa ra ngào
ngạt, khiến dân chúng ai nấy ngẩng nhìn, trầm trồ:
“Ôi, ai mà tỏa hương kỳ diệu
đến thế? Hoa gì mà thơm lạ lùng như mùi gió mùa thu trên
núi tuyết?”
Vua nghe chuyện liền cùng quần
thần ra quảng trường. Bốn vị Thiên tử hiện thân giữa
không trung, ánh sáng nơi thân họ chiếu rực như mặt
trời.
Vua chắp tay cung kính hỏi:
“Bạch chư Thiên, các ngài từ
đâu đến, vì duyên gì lại ban phước cho xứ này?”
Các vị đáp:
“Chúng ta từ cõi trời Tam Thập
Tam đến, để xem lễ hội của nhân gian. Và những hoa này
gọi là Kakkāru, hoa trời hiếm có.”
Nhà vua say mê mùi hương ấy,
bèn nói:
“Nếu được, xin chư Thiên hãy
ban cho trần gian vài đoá, để chúng tôi được ngắm hương
trời.”
Các vị Thiên tử mỉm cười đặt
những hoa ấy xuống trên một bệ đá và nói:
“Hoa trời này không thể đeo
bừa. Chỉ ai có tâm trong sạch, sống chân thật, biết chia
sẻ và không phỉ báng người lành mới xứng đáng. Kẻ gian
dối, tham lam, dù chạm vào, cũng sẽ bị khổ đau.”
Rồi vị Thiên chủ đọc vang giữa
không trung bài kệ đầu tiên:
“Ai thân nghiệp hiền thiện,
Vị Thiên tử thứ hai nói lên kệ
ngôn:
Vị Thiên tử thứ ba cất tiếng:
“Ai tâm không cấu uế,
Và vị thứ tư nói: Dù trước mặt hay sau lưng,
Nghe vậy, vị Bà-la-môn tế sư
của vua – người vốn tham danh và thích khoe khoang – nảy
ra ý gian: “Ta chẳng có đức hạnh nào cả, nhưng nếu nói
dối, đeo hoa này, dân chúng sẽ tưởng ta là người đạo
đức.”
Thế là ông ta đứng ra nói to:
“Tôi có đủ các phẩm hạnh ấy!”
Rồi lấy hoa trời
đeo lên cổ; khiến ai nấy đều cúi đầu kính nể. Cả thành
phố reo hò, tưởng ông là bậc thánh sống.
Sau khi bốn vị Thiên tử bay về
trời, bỗng đầu Bà-la-môn nóng như lửa, nhức nhối như có
nghìn mũi kim đâm.
“Hỡi ơi! Đầu tôi như sắt nung,
xin cứu tôi với!”
Ông thú nhận trước mọi người:
“Tôi đã nói dối để được hoa.
Hãy gỡ chúng khỏi đầu tôi!”
Nhưng hoa không gỡ được. Chúng
dính chặt như sắt nung hàn vào da thịt.
Vua thương hại, bèn làm lễ hội
lần nữa, mong các Thiên tử trở lại.
Khi bốn vị hiện xuống, họ tỏa
sáng giữa trời, nhìn thấy ông Bà-la-môn nằm rên rỉ, liền
nói:
“Ngươi không có đức hạnh, mà
dám nói dối để lấy hoa trời. Đó là quả báo của lời nói
không chân thật. Hoa trời chỉ dành cho người chân thật,
thanh tịnh và khiêm cung.”
Rồi họ gỡ hoa khỏi đầu ông,
hương thơm tan biến, và họ khuyên dân chúng:
“Đừng để miệng nói khác lòng.
Danh vọng và giả dối chỉ làm héo tâm người.”
Nói rồi, các ngài bay lên
trời.
Đức Phật kể xong, Ngài dạy các
Tỳ-khưu:
“Kẻ nói dối, dù ở kiếp nào,
cũng tự chuốc lấy khổ đau. Người sống chân thật, trong
sạch, biết chia sẻ, sẽ tỏa hương như hoa trời Kakkāru.”
Rồi Ngài nói dạy thêm: Vị Bà-la-môn gian dối khi ấy
chính là Đề-bà-đạt-đa, các vị Thiên tử là Xá-lợi-phất,
Mục-kiền-liên, Ca-diếp, Và vị Thiên chủ, nói bài kệ đầu
tiên — chính là Ta. Tỳ khưu Giác Đẳng phóng tác từ Kinh Bổn Sanh |