BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 13 tháng 11, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 45, Tương Ưng Đạo. Phẩm Bộc Lưu. SN 45.177
Bài 547. LÀM TĂNG THỊNH DỤC VỌNG - Kinh Dục Trưởng Dưỡng (kāmaguṇasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-547.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Điều đáng sợ không phải là “cái đẹp”, mà là tâm say đắm cái đẹp. Đức Phật không phủ nhận sự hiện hữu của hương sắc, mà Ngài chỉ rõ chúng là mồi lửa nuôi dưỡng phiền não, khiến ngọn lửa tham ái, sân hận, si mê được “trưởng dưỡng” mạnh mẽ. Trong thời đại công nghệ và truyền thông, ngũ dục không chỉ hiện diện qua giác quan tự nhiên, mà còn qua màn hình, âm nhạc, mạng xã hội, quảng cáo — chúng liên tục “trưởng dưỡng” vọng tưởng, ham muốn và sự so sánh. Người tu tập hôm nay cần tỉnh thức trong từng cú chạm điện thoại, từng cái nhìn lên mạng. Giữ tâm trong sáng giữa dòng dữ, ấy chính là Bát Chánh Đạo đang hiện hành giữa thế kỷ 21.

Kinh Văn

177. “pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. katame pañca? cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā ... pe ... ghānaviññeyyā gandhā ... pe ... jivhāviññeyyā rasā ... pe ... kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṃhitā rajanīyā — ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā. imesaṃ kho, bhikkhave, pañcannaṃ kāmaguṇānaṃ abhiññāya pariññāya parikkhayāya pahānāya ... pe ... ayaṃ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvetabbo”ti. chaṭṭhaṃ.

“Này các Tỳ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng. Thế nào là năm?
Hình sắc do mắt thấy khả ái, vừa ý, hấp dẫn, quyến rũ, làm say đắm.
Âm thanh do tai nghe khả ái, vừa ý, hấp dẫn, quyến rũ, làm say đắm.
Mùi hương do mũi ngửi khả ái, vừa ý, hấp dẫn, quyến rũ, làm say đắm.
Vị do lưỡi nếm khả ái, vừa ý, hấp dẫn, quyến rũ, làm say đắm.
Xúc chạm do thân khả ái, vừa ý, hấp dẫn, quyến rũ, làm say đắm.  

Chính Thánh Đạo Tám Ngành này cần được tu tập để để trực nhận, để liễu tri, để đoạn trừ và  để từ bỏ sự trưởng dưỡng dục vọng.”

“Vậy thế nào là tu tập Bát Thánh Đạo?  Ở đây, này các Tỳ-khưu, hành giả tu tập chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định, vốn được y cứ trên sự viễn ly, trên ly tham, trên sự tịch tịnh, và giải thoát.

Chú Thích

Trong Pāli, từ kāma-guṇa có nghĩa đen là “năm sợi dây của dục” — những cảnh trần cảm giác có khả năng trói buộc tâm chúng sinh trong vòng lẩn quẩn của tham ái (taṇhā). Hoà thượng Minh Châu cũng dịch là “năm dục công đức” trong lúc Ngài Bodhi dịch sang Anh ngữ là hindrances (những ngăn ngại hay trần cảnh)
Chúng không phải là tội lỗi tự thân, nhưng là mồi câu của phiền não, khiến tâm bị “Ngũ dục lạc” không chỉ là năm cảnh trần mà còn là năm móc câu của tâm, được nối với dây ái dục (kāmataṇhā).
Khi tâm dính mắc với một trong năm dây này, chuỗi duyên khởi (paṭiccasamuppāda) lập tức vận hành:

  • Xúc (phassa) → Thọ (vedanā) → Ái (taṇhā) → Thủ (upādāna) → Hữu (bhava) → Sanh (jāti) → Lão, Tử (jarāmaraṇa).

Chính vì vậy, Bát Thánh Đạo — đặc biệt là chánh niệm (sammāsati) và chánh định (sammāsamādhi) — được Đức Phật dạy là phương tiện để cắt đứt các dây trói này.

Sớ Giải

176–181. kāmarāgānusayoti thāmagataṭṭhena kāmarāgova anusayo kāmarāgānusayo. sesesupi eseva nayo. orambhāgiyānīti heṭṭhākoṭṭhāsiyāni. saṃyojanānīti bandhanāni. uddhambhāgiyānīti uparikoṭṭhāsiyāni. sesaṃ sabbattha uttānatthamevāti. “Kāmarāgānusayo (dục ái tiềm thùy): nghĩa là tham ái đối với dục, do được tồn trữ bền chặt (thāmagataṭṭhena – nghĩa là ‘trụ sâu lâu dài’), nên gọi là kāmarāgānusayo (tiềm thùy của dục ái).

Với các loại còn lại cũng nên hiểu theo cách tương tự (tức là những tiềm thùy khác như sân, tà kiến, ngã mạn… đều được gọi là tiềm thùy vì chúng ẩn ngầm trong tâm một cách bền chặt, dai dẳng).

“Orambhāgiyāni” (các kiết sử hạ phần): Ý là các pháp thuộc phần dưới (heṭṭhā-koṭṭhāsa), tức những trói buộc còn kéo chúng sinh vào các cõi thấp trong luân hồi (như cõi dục giới).

“Saṃyojanāni” (kiết sử):Có nghĩa là sự trói buộc, tức những phiền não trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử.

“Uddhambhāgiyāni” (các kiết sử thượng phần): Ý là các pháp thuộc phần trên (upari-koṭṭhāsa), nghĩa là các trói buộc tinh tế hơn, giữ chúng sinh trong những cõi cao (sắc giới, vô sắc giới).

“Sesaṃ sabbattha uttānatthameva” Có nghĩa là: “Phần còn lại ở mọi nơi đều đã rõ ràng về mặt ý nghĩa”. Tức là các khái niệm còn lại không cần giải thích thêm vì ý nghĩa đã rõ ràng, dễ hiểu.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VIII. Phẩm Bộc Lưu

176.VI. Dục Công Ðức (S.v,60)

1) ...

2-33) -- Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức. Thế nào là năm? Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... Các hương do mũi nhận thức... Các vị do lưỡi nhận thức... Các xúc do thân nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.

Này các Tỷ-kheo, đó là năm dục công đức này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm dục công đức này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này phải được tu tập.

ooOoo