|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Năm, ngày 20 tháng 11, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 552. CỘT TRÓI VÀO CẢNH GIỚI CAO - Kinh Hy Mã Lạp Sơn (himavantasuttaṃ). ... .
Trong tất cả kinh điển Pāli, giới hạnh (sīla) luôn được mô tả là “đất”,
“cội rễ”, “bờ đê” gìn giữ tâm khỏi dòng chảy phiền não. Giới
không chỉ là đạo đức xã hội mà là kỷ luật nội tâm nhằm bảo vệ
hành giả khỏi ba ngọn lửa lớn: tham dục, sân hận và si mê. Nếu
thiếu giới, bảy giác chi sẽ không thể phát triển. Niệm sẽ bị che
lấp bởi dục; trạch pháp bị che bởi tà kiến; tinh tấn bị phá bởi
giải đãi; hỷ không sinh; khinh an không đến; định tán loạn; xả
không thể thành tựu. Do đó, giới không phải chỉ là phần đạo đức,
mà là nền móng tất yếu của thiền quán và giác ngộ.
Kinh Văn
182. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi,
bhikkhave, himavantaṃ pabbatarājānaṃ nissāya nāgā kāyaṃ
vaḍḍhenti, balaṃ gāhenti; te tattha kāyaṃ vaḍḍhetvā balaṃ
gāhetvā kusobbhe otaranti, kusobbhe otaritvā mahāsobbhe
otaranti, mahāsobbhe otaritvā kunnadiyo otaranti, kunnadiyo
otaritvā mahānadiyo otaranti, mahānadiyo otaritvā
mahāsamuddasāgaraṃ otaranti; te tattha mahantattaṃ vepullattaṃ
āpajjanti kāyena; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya
sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge
bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesu.
kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta
bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṃ
vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesūti? idha, bhikkhave, bhikkhu
satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ; dhammavicayasambojjhaṅgaṃ
bhāveti ... pe ... vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ...
pītisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... passaddhisambojjhaṅgaṃ
bhāveti ... pe ... samādhisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ...
upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ
nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu
sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta
bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti
dhammesū”ti. paṭhamaṃ.
Nhân duyên tại Sāvatthī.
Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, dựa vào giới hạnh, an trú trên nền tảng của
giới hạnh, hành giả tu tập và phát triển bảy giác chi, và nhờ
vậy đạt được sự lớn mạnh và rộng lớn trong các thiện pháp.”
Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi …
Này các Tỳ-khưu, chính bằng cách ấy một hành giả, dựa vào giới, an trú
trên giới,
Chú Thích
Dãy Hy-mã-lạp Sơn, hay Himalaya (Tuyết Sơn), được gọi là “vua của các ngọn
núi” trong văn học Phật giáo. Đây là rặng núi hùng vĩ chạy dọc
xuyên qua đại lục Châu Á mệnh danh là “nóc nhà thế giới”, tuyết
phủ quanh năm, nơi khởi nguồn của nhiều con sông lớn nuôi sống
cả lục địa.
Nāga là một loài sinh vật đặc biệt trong kinh điển Pāli, thường được dịch
là long thần, rồng, hoặc rắn lớn hay khổng tượng. Theo truyền
thống Phật giáo, nāga không phải chỉ là loài rắn vật lý, mà là
chúng sinh có thần lực, sống trong nhiều cảnh giới khác nhau.
Bojhaṅga là một từ ghép của bodhi + aṅga. Sớ Giải (Saṃyutta-aṭṭhakathā)
đưa ra hai cách định nghĩa: “Các giác chi là những yếu tố của
giác ngộ, hoặc là những yếu tố thuộc về người hành trình giác
ngộ (bodhiyā bodhissa vā aṅgā ti bojjhaṅgā).”
Ý nghĩa được hiểu: Chính nhờ sự tập hợp của các trạng thái gồm có niệm …
cho đến xả, khởi lên tại sát-na của đạo lộ thế tục và siêu thế
(lokiya–lokuttara–maggakkhaṇe), mà vị Thánh đệ tử được giác ngộ.
Do vậy, tập hợp các trạng thái ấy được gọi là giác ngộ (bodhi).
Câu “vị ấy được giác ngộ” nghĩa là: vị ấy tỉnh dậy khỏi giấc ngủ của dòng
tương tục phiền não; tức là vị ấy thấu suốt Tứ Thánh Đế hoặc
chứng đắc Niết-bàn.
Ngoài ra, vị Thánh đệ tử được giác ngộ nhờ tập hợp các trạng thái nói trên
cũng được gọi là “người đang được giác ngộ” (bodhī). Những yếu
tố thuộc về người được giác ngộ được gọi là giác chi
(bojjhaṅga).
Giải thích trong Tạng Abhidhamma
Trong Bojjhaṅga-vibhaṅga của Tạng Abhidhamma (Vibh 227–229), bảy giác chi
trước tiên được giải thích theo phương pháp kinh tạng, với ba
cách:
1.
Theo mô hình của đoạn 46:3,
2.
Theo mô hình của 46:52 (ii),
3.
Và theo công thức “vivekanissita” (dựa
trên viễn ly) thuần túy.
Sau đó, văn bản phân tích theo phương pháp Abhidhamma, trong đó các giác
chi chỉ được xem là các yếu tố của siêu thế đạo (Vibh 229–232).
Vì lý do này mà trong các chú giải Abhidhamma (As 217, Vibh-a 310), các
định nghĩa song song với đoạn trích từ Sớ giải ở trên lược bỏ
chữ “thế tục” (lokiya) khi đề cập đến đạo.
Ghi nhận về sự
tiến hóa của thuật ngữ trong Pāli
Định nghĩa của Đức Phật về bojjhaṅga tại đoạn 46:5 cho thấy rằng:
Điều này còn được củng cố bởi cách trình bày tuần tự về sự sanh khởi của
các giác chi tại đoạn 46:3.
Khi Đức Phật nói “dựa vào giới”, nghĩa là:
“an trú trên giới” (sīle patiṭṭhāya) là sống liên tục trong hơi thở của
giới. An trú trên giới nghĩa là giới đã trở thành:
Sớ Giải
182. bojjhaṅgasaṃyuttassa paṭhame
nāgāti imepi mahāsamuddapiṭṭhe ūmiantaravāsinova, na
vimānaṭṭhakanāgā. tesaṃ himavantaṃ nissāya kāyavaḍḍhanādisabbaṃ
heṭṭhā vuttanayeneva veditabbaṃ. bojjhaṅgeti ettha bodhiyā,
bodhissa vā aṅgāti bojjhaṅgā. kiṃ vuttaṃ hoti? yā hi ayaṃ
dhammasāmaggī, yāya lokiyalokuttaramaggakkhaṇe uppajjamānāya
līnuddhaccapatiṭṭhānāyūhana
kāmasukhattakilamathānuyogaucchedasassatābhinivesādīnaṃ anekesaṃ
upaddavānaṃ paṭipakkhabhūtāya
satidhammavicayavīriyapītipassaddhisamādhiupekkhāsaṅkhātāya
dhammasāmaggiyā ariyasāvako bujjhatīti katvā bodhīti vuccati.
bujjhatīti kilesasantānaniddāya uṭṭhahati, cattāri vā
ariyasaccāni paṭivijjhati, nibbānameva vā sacchikarotīti vuttaṃ
hoti. yathāha “satta bojjhaṅge bhāvetvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ
abhisambuddho”ti (saṃ. ni. 5.378; dī. ni. 3.143). tassā
dhammasāmaggisaṅkhātāya bodhiyā aṅgāti bojjhaṅgā
jhānaṅgamaggaṅgādayo viya. yopesa yathāvuttappakārāya etāya
dhammasāmaggiyā bujjhatīti katvā ariyasāvako bodhīti vuccati,
tassa bodhissa aṅgātipi bojjhaṅgā senaṅgarathaṅgādayo viya.
tenāhu aṭṭhakathācariyā — “bujjhanakassa puggalassa aṅgāti vā
bojjhaṅgā”ti. ♦ apica “bojjhaṅgāti kenaṭṭhena bojjhaṅgā? bodhāya
saṃvattantīti bojjhaṅgā, bujjhantīti bojjhaṅgā, anubujjhantīti
bojjhaṅgā, paṭibujjhantīti bojjhaṅgā, sambujjhantīti bojjhaṅgā”
iccādinā (paṭi. ma. 2.17) paṭisambhidānayenāpi bojjhaṅgattho
veditabbo. ♦ satisambojjhaṅgantiādīsu pana pasattho sundaro ca
bojjhaṅgoti sambojjhaṅgo. satiyeva sambojjhaṅgoti
satisambojjhaṅgo, taṃ satisambojjhaṅganti evaṃ sabbattha attho
veditabbo. bhāvetīti vaḍḍheti, attano cittasantāne punappunaṃ
janeti, abhinibbattetīti attho. vivekanissitantiādīni
kosalasaṃyutte “sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitan”ti ettha
vuttanayeneva veditabbāni. ♦ ayaṃ pana viseso — tattha
tadaṅgavivekanissitaṃ, samucchedavivekanissitaṃ,
nissaraṇavivekanissitanti, vivekattayameva vuttaṃ,
bojjhaṅgabhāvanaṃ patvā pana pañcavidhavivekanissitampi eke
vaṇṇayanti. te hi na kevalaṃ balavavipassanāmaggaphalakkhaṇesu
eva bojjhaṅge uddharanti vipassanāpādaka-kasiṇajjhāna-
ānāpānāsubha-brahmavihārajjhānesupi uddharanti, na ca paṭisiddhā
aṭṭhakathācariyehi. tasmā tesaṃ matena etesaṃ jhānānaṃ
pavattikkhaṇe kiccato eva vikkhambhanavivekanissitaṃ. yathā ca
vipassanākkhaṇe “ajjhāsayato nissaraṇavivekanissitan”ti vuttaṃ,
evaṃ paṭipassaddhivivekanissitampi bhāvetīti vattuṃ vaṭṭati.
sesamettha heṭṭhā vuttanayameva.
182.
Bojjhaṅge — ở đây, các yếu tố (aṅga) của giác
ngộ (bodhi) hoặc yếu tố của người giác ngộ được gọi là
bojjhaṅga. Ý muốn nói điều gì?
Chính tập hợp các pháp (dhammasāmaggī) này, với hình thức là niệm, trạch
pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, và xả, khi chúng sanh khởi
tại sát-na đạo lộ hiệp thế và siêu thế (lokiya-lokuttara-maggakkhaṇe),
và khi chúng đối lập với nhiều nghịch pháp:
tập hợp các giác ấy — gọi là dhammasāmaggī —khiến cho vị Thánh đệ tử bừng
sáng lên (bujjhati).Do vậy được gọi là bodhi (giác ngộ).
2. Ý nghĩa “bujjhati – vị ấy giác ngộ”
Bujjhati nghĩa là:
Như đoạn kinh nói:
“Tu tập bảy giác chi, Ngài chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.”
Do đó, các yếu tố (aṅga) của bodhi — tập hợp pháp ấy — được gọi là
bojjhaṅga, giống như thiền chi (jhānaṅga) hay đạo chi
(maggaṅga).
3. Bojjhaṅga là yếu tố của bodhi hoặc
yếu tố của người giác ngộ
Vị Thánh đệ tử nào giác ngộ nhờ tập hợp pháp được nói trên được gọi là
bodhī (“người giác ngộ”). Và các yếu tố của người ấy —giống như
yếu tố của chiến sĩ hay yếu tố của
chiến xa (sen’aṅga–ratha’aṅga) — cũng được gọi là
bojjhaṅga.
Vì vậy, các nhà Sớ giải nói: “Các yếu tố của người giác ngộ được gọi là
bojjhaṅga.”
4. Paṭisambhidā: nhiều ý nghĩa của Bojjhaṅga
Hơn nữa: “Tại sao gọi là bojjhaṅga?
5. Nghĩa của Sambojjhaṅga
Trong các cụm như sati-sambojjhaṅga:
Sati-sambojjhaṅga nghĩa là: chính niệm ấy, được nói đến như một giác chi
thù thắng. Bhāveti: nghĩa là làm cho tăng trưởng, lặp đi
lặp lại trong dòng tương tục tâm, khiến nó hiện hữu một cách
mạnh mẽ (abhinibbatteti).
Các thành ngữ như vivekanissita … cần được hiểu giống như trong Kosala
Saṃyutta: “Tu tập chánh kiến, nương vào viễn ly…”
6. Sự khác biệt về “vivekanissita” trong Aṭṭhakathā
Điểm sai biệt là: Ở đó, ba loại viễn ly được nói:
Nhưng khi đạt được sự tu tập của giác chi, một số vị giảng sư nói đến năm
loại viễn ly.Bởi vì họ không chỉ rút ra các giác chi từ:
mà còn từ:
Điều này không bị các bậc Aṭṭhakathā bác bỏ. Do vậy, theo quan điểm của
họ, tại thời điểm tiến hành các thiền này, giác chi liên hệ với
loại viễn ly bằng sự áp chế (vikkhambhana-viveka). Và giống như
trong sát-na vipassanā nói: “Theo ý hướng, nương vào viễn ly của
sự xuất ly (nissaraṇa-viveka)…” Cũng có thể nói rằng giác chi
nương vào viễn ly của sự lắng dịu (paṭipassaddhi-viveka).
Những phần còn lại ở đây nên được hiểu như đã giải thích ở phần trước.
Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu
I. Phẩm Núi
1.I. Tuyết Sơn (S.v,63)
1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi ...
Thế Tôn nói như sau :
3) -- Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài
rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi
chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống
các hồ nhỏ. Sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn.
Sau khi đi xuống các hồ lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ. Sau
khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn. Sau khi
đi xuống các sông lớn, chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy,
thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.
4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú
vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi,
đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp. Và này các
Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu
tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to
lớn, sự quảng đại trong các pháp?
5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên
hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt,
hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi... tu tập
tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác
chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến
viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến
từ bỏ.
6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú
vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi,
đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp.
VIII. Phẩm Bộc Lưu
180.X. Thượng Phần
Kiết Sử (S.v,61)
1) ...
2) -- Có năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo. Thế
nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này
các Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục
đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần
kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải
tu tập. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành cần phải tu tập?
3-17) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến
liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly,
liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm
thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành
này cần phải tu tập.
Ví như, này các Tỷ-kheo, con sông Hằng...
18) Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là
năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các
Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục đích
thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử
này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. Thế nào là Thánh
đạo Tám ngành cần phải tu tập?
19-33) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri
kiến... tu tập chánh định với cứu cánh là đoạn tận tham, với cứu
cánh là đoạn tận sân, với cứu cánh là đoạn tận si... thể nhập
vào bất tử, hướng đến bất tử, với cứu cánh là bất tử... thiên về
Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Chính vì mục đích
thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử
này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. ooOoo |