BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Năm, ngày 20 tháng 11, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46, Tương Ưng Đạo. Phẩm Núi. SN 46.1
Bài 552. CỘT TRÓI VÀO CẢNH GIỚI CAO - Kinh Hy Mã Lạp Sơn (himavantasuttaṃ).

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-552.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png Trong tất cả kinh điển Pāli, giới hạnh (sīla) luôn được mô tả là “đất”, “cội rễ”, “bờ đê” gìn giữ tâm khỏi dòng chảy phiền não. Giới không chỉ là đạo đức xã hội mà là kỷ luật nội tâm nhằm bảo vệ hành giả khỏi ba ngọn lửa lớn: tham dục, sân hận và si mê. Nếu thiếu giới, bảy giác chi sẽ không thể phát triển. Niệm sẽ bị che lấp bởi dục; trạch pháp bị che bởi tà kiến; tinh tấn bị phá bởi giải đãi; hỷ không sinh; khinh an không đến; định tán loạn; xả không thể thành tựu. Do đó, giới không phải chỉ là phần đạo đức, mà là nền móng tất yếu của thiền quán và giác ngộ.

Kinh Văn

182. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi, bhikkhave, himavantaṃ pabbatarājānaṃ nissāya nāgā kāyaṃ vaḍḍhenti, balaṃ gāhenti; te tattha kāyaṃ vaḍḍhetvā balaṃ gāhetvā kusobbhe otaranti, kusobbhe otaritvā mahāsobbhe otaranti, mahāsobbhe otaritvā kunnadiyo otaranti, kunnadiyo otaritvā mahānadiyo otaranti, mahānadiyo otaritvā mahāsamuddasāgaraṃ otaranti; te tattha mahantattaṃ vepullattaṃ āpajjanti kāyena; evameva kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesu. kathañca, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesūti? idha, bhikkhave, bhikkhu satisambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ; dhammavicayasambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... vīriyasambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... pītisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... passaddhisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... samādhisambojjhaṅgaṃ bhāveti ... pe ... upekkhāsambojjhaṅgaṃ bhāveti vivekanissitaṃ virāganissitaṃ nirodhanissitaṃ vossaggapariṇāmiṃ. evaṃ kho, bhikkhave, bhikkhu sīlaṃ nissāya sīle patiṭṭhāya satta bojjhaṅge bhāvento satta bojjhaṅge bahulīkaronto mahantattaṃ vepullattaṃ pāpuṇāti dhammesū”ti. paṭhamaṃ.

Nhân duyên tại Sāvatthī.
“Này các Tỳ-khưu, dựa vào dãy Hy-mã-lạp, vua của các ngọn núi, loài long chủng nuôi dưỡng thân thể và tích lũy sức mạnh. Khi đã nuôi dưỡng thân và tích lũy được sức mạnh, chúng đi vào các ao. Từ các ao chúng đi vào các hồ; từ các hồ chúng đi vào các khe suối; từ các khe suối chúng đi vào các dòng sông; và cuối cùng từ các dòng sông chúng đi vào biển lớn. Tại đó, chúng đạt được sự vĩ đại và sự rộng lớn của thân thể.

Cũng vậy, này các Tỳ-khưu, dựa vào giới hạnh, an trú trên nền tảng của giới hạnh, hành giả tu tập và phát triển bảy giác chi, và nhờ vậy đạt được sự lớn mạnh và rộng lớn trong các thiện pháp.”
“Và này các Tỳ-khưu, thế nào là hành giả dựa vào giới, an trú trên giới, tu tập bảy giác chi?  Ở đây, này các Tỳ-khưu, hành giả tu tập niệm giác chi được đặt trên viễn ly, trên ly tham, trên tịch tịnh, và thành tựu trong giải thoát.

Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi …
tinh tấn giác chi …
hỷ giác chi …
khinh an giác chi …
định giác chi …
xả giác chi,
tất cả đều trên viễn ly, trên ly tham, trên tịch tịnh, và thành tựu trong giải thoát.

Này các Tỳ-khưu, chính bằng cách ấy một hành giả, dựa vào giới, an trú trên giới,
phát triển bảy giác chi, và đạt được sự vĩ đại và sự rộng lớn trong các thiện pháp.”

Chú Thích

Dãy Hy-mã-lạp Sơn, hay Himalaya (Tuyết Sơn), được gọi là “vua của các ngọn núi” trong văn học Phật giáo. Đây là rặng núi hùng vĩ chạy dọc xuyên qua đại lục Châu Á mệnh danh là “nóc nhà thế giới”, tuyết phủ quanh năm, nơi khởi nguồn của nhiều con sông lớn nuôi sống cả lục địa.

Nāga là một loài sinh vật đặc biệt trong kinh điển Pāli, thường được dịch là long thần, rồng, hoặc rắn lớn hay khổng tượng. Theo truyền thống Phật giáo, nāga không phải chỉ là loài rắn vật lý, mà là chúng sinh có thần lực, sống trong nhiều cảnh giới khác nhau.

Bojhaṅga là một từ ghép của bodhi + aṅga. Sớ Giải (Saṃyutta-aṭṭhakathā) đưa ra hai cách định nghĩa: “Các giác chi là những yếu tố của giác ngộ, hoặc là những yếu tố thuộc về người hành trình giác ngộ (bodhiyā bodhissa vā aṅgā ti bojjhaṅgā).”

Ý nghĩa được hiểu: Chính nhờ sự tập hợp của các trạng thái gồm có niệm … cho đến xả, khởi lên tại sát-na của đạo lộ thế tục và siêu thế (lokiya–lokuttara–maggakkhaṇe), mà vị Thánh đệ tử được giác ngộ. Do vậy, tập hợp các trạng thái ấy được gọi là giác ngộ (bodhi).

Câu “vị ấy được giác ngộ” nghĩa là: vị ấy tỉnh dậy khỏi giấc ngủ của dòng tương tục phiền não; tức là vị ấy thấu suốt Tứ Thánh Đế hoặc chứng đắc Niết-bàn.
Các giác chi là những yếu tố của sự giác ngộ tạo thành bởi tập hợp các trạng thái ấy.

Ngoài ra, vị Thánh đệ tử được giác ngộ nhờ tập hợp các trạng thái nói trên cũng được gọi là “người đang được giác ngộ” (bodhī). Những yếu tố thuộc về người được giác ngộ được gọi là giác chi (bojjhaṅga).

Giải thích trong Tạng Abhidhamma

Trong Bojjhaṅga-vibhaṅga của Tạng Abhidhamma (Vibh 227–229), bảy giác chi trước tiên được giải thích theo phương pháp kinh tạng, với ba cách:

1.    Theo mô hình của đoạn 46:3,

2.    Theo mô hình của 46:52 (ii),

3.    Và theo công thức “vivekanissita” (dựa trên viễn ly) thuần túy.

Sau đó, văn bản phân tích theo phương pháp Abhidhamma, trong đó các giác chi chỉ được xem là các yếu tố của siêu thế đạo (Vibh 229–232).

Vì lý do này mà trong các chú giải Abhidhamma (As 217, Vibh-a 310), các định nghĩa song song với đoạn trích từ Sớ giải ở trên lược bỏ chữ “thế tục” (lokiya) khi đề cập đến đạo.

Ghi nhận về sự tiến hóa của thuật ngữ trong Pāli

Định nghĩa của Đức Phật về bojjhaṅga tại đoạn 46:5 cho thấy rằng:

  • Ban đầu, các giác chi không phải được quan niệm là “những yếu tố cấu thành giác ngộ” (như chú giải về sau),
  • Mà là những yếu tố dẫn đến giác ngộ.

Điều này còn được củng cố bởi cách trình bày tuần tự về sự sanh khởi của các giác chi tại đoạn 46:3.

Khi Đức Phật nói “dựa vào giới”, nghĩa là:

  • Tâm được đặt trên nền tảng không hối hận.
  • Hành giả không còn bị áy náy, tội lỗi, giằng xé bởi hành vi bất thiện.
  • Tâm trở nên khinh an, nhẹ nhàng, dễ thành tựu định.

“an trú trên giới” (sīle patiṭṭhāya) là sống liên tục trong hơi thở của giới. An trú trên giới nghĩa là giới đã trở thành:

  • phẩm chất tự nhiên,
  • thói quen của tâm,
  • nền đất mà các pháp thiện nảy sinh.

Sớ Giải

182. bojjhaṅgasaṃyuttassa paṭhame nāgāti imepi mahāsamuddapiṭṭhe ūmiantaravāsinova, na vimānaṭṭhakanāgā. tesaṃ himavantaṃ nissāya kāyavaḍḍhanādisabbaṃ heṭṭhā vuttanayeneva veditabbaṃ. bojjhaṅgeti ettha bodhiyā, bodhissa vā aṅgāti bojjhaṅgā. kiṃ vuttaṃ hoti? yā hi ayaṃ dhammasāmaggī, yāya lokiyalokuttaramaggakkhaṇe uppajjamānāya līnuddhaccapatiṭṭhānāyūhana kāmasukhattakilamathānuyogaucchedasassatābhinivesādīnaṃ anekesaṃ upaddavānaṃ paṭipakkhabhūtāya satidhammavicayavīriyapītipassaddhisamādhiupekkhāsaṅkhātāya dhammasāmaggiyā ariyasāvako bujjhatīti katvā bodhīti vuccati. bujjhatīti kilesasantānaniddāya uṭṭhahati, cattāri vā ariyasaccāni paṭivijjhati, nibbānameva vā sacchikarotīti vuttaṃ hoti. yathāha “satta bojjhaṅge bhāvetvā anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho”ti (saṃ. ni. 5.378; dī. ni. 3.143). tassā dhammasāmaggisaṅkhātāya bodhiyā aṅgāti bojjhaṅgā jhānaṅgamaggaṅgādayo viya. yopesa yathāvuttappakārāya etāya dhammasāmaggiyā bujjhatīti katvā ariyasāvako bodhīti vuccati, tassa bodhissa aṅgātipi bojjhaṅgā senaṅgarathaṅgādayo viya. tenāhu aṭṭhakathācariyā — “bujjhanakassa puggalassa aṅgāti vā bojjhaṅgā”ti. ♦ apica “bojjhaṅgāti kenaṭṭhena bojjhaṅgā? bodhāya saṃvattantīti bojjhaṅgā, bujjhantīti bojjhaṅgā, anubujjhantīti bojjhaṅgā, paṭibujjhantīti bojjhaṅgā, sambujjhantīti bojjhaṅgā” iccādinā (paṭi. ma. 2.17) paṭisambhidānayenāpi bojjhaṅgattho veditabbo. ♦ satisambojjhaṅgantiādīsu pana pasattho sundaro ca bojjhaṅgoti sambojjhaṅgo. satiyeva sambojjhaṅgoti satisambojjhaṅgo, taṃ satisambojjhaṅganti evaṃ sabbattha attho veditabbo. bhāvetīti vaḍḍheti, attano cittasantāne punappunaṃ janeti, abhinibbattetīti attho. vivekanissitantiādīni kosalasaṃyutte “sammādiṭṭhiṃ bhāveti vivekanissitan”ti ettha vuttanayeneva veditabbāni. ♦ ayaṃ pana viseso — tattha tadaṅgavivekanissitaṃ, samucchedavivekanissitaṃ, nissaraṇavivekanissitanti, vivekattayameva vuttaṃ, bojjhaṅgabhāvanaṃ patvā pana pañcavidhavivekanissitampi eke vaṇṇayanti. te hi na kevalaṃ balavavipassanāmaggaphalakkhaṇesu eva bojjhaṅge uddharanti vipassanāpādaka-kasiṇajjhāna- ānāpānāsubha-brahmavihārajjhānesupi uddharanti, na ca paṭisiddhā aṭṭhakathācariyehi. tasmā tesaṃ matena etesaṃ jhānānaṃ pavattikkhaṇe kiccato eva vikkhambhanavivekanissitaṃ. yathā ca vipassanākkhaṇe “ajjhāsayato nissaraṇavivekanissitan”ti vuttaṃ, evaṃ paṭipassaddhivivekanissitampi bhāvetīti vattuṃ vaṭṭati. sesamettha heṭṭhā vuttanayameva.

182.
Bojjhaṅgasaṃyuttassa paṭhame nāgā —
Trong bài kinh thứ nhất của Bojjhaṅgasaṃyutta, chữ nāga ở đây, những vị này cũng giống như những nāga sống giữa các lớp sóng của đại dương rộng lớn, chứ không phải là các nāga cư ngụ trong lâu đài hay cung điện (vimānaṭṭhāka-nāgā).
Việc nuôi dưỡng thân, hoặc các chi tiết khác của họ khi nương tựa núi Himavanta, tất cả cần được hiểu theo cách đã trình bày ở phần trước.

Bojjhaṅge — ở đây, các yếu tố (aṅga) của giác ngộ (bodhi) hoặc yếu tố của người giác ngộ được gọi là bojjhaṅga. Ý muốn nói điều gì?

Chính tập hợp các pháp (dhammasāmaggī) này, với hình thức là niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, và xả, khi chúng sanh khởi tại sát-na đạo lộ hiệp thế và siêu thế (lokiya-lokuttara-maggakkhaṇe),

và khi chúng đối lập với nhiều nghịch pháp:

  • sự giải đãi (līna),
  • sự phóng tâm (uddhacca),
  • sự dao động (patiṭṭhāna),
  • sự kéo lê tâm (āyūhana),
  • sự theo đuổi dục lạc (kāmasukha–anuyoga),
  • sự theo đuổi khổ hạnh cực đoan (attakilamathānuyoga),
  • và các tà kiến đoạn diệt–thường kiến (uccheda–sassata–abhinivesa),

tập hợp các giác ấy — gọi là dhammasāmaggī —khiến cho vị Thánh đệ tử bừng sáng lên (bujjhati).Do vậy được gọi là bodhi (giác ngộ).


2. Ý nghĩa “bujjhati – vị ấy giác ngộ”

Bujjhati nghĩa là:

  • Thức dậy khỏi giấc ngủ của dòng tương tục phiền não (kilesasantāna–niddā).
  • Chứng ngộ bốn Thánh đế (cattāri ariyasaccāni paṭivijjhati).
  • Hoặc thấy và chứng đạt chính Niết-bàn (nibbānaṃ sacchikaroti).

Như đoạn kinh nói:

“Tu tập bảy giác chi, Ngài chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Giác.”
(Saṃyutta Nikāya 5.378; Dīgha Nikāya 3.143)

Do đó, các yếu tố (aṅga) của bodhi — tập hợp pháp ấy — được gọi là bojjhaṅga, giống như thiền chi (jhānaṅga) hay đạo chi (maggaṅga).

3. Bojjhaṅga là yếu tố của bodhi hoặc yếu tố của người giác ngộ

Vị Thánh đệ tử nào giác ngộ nhờ tập hợp pháp được nói trên được gọi là bodhī (“người giác ngộ”). Và các yếu tố của người ấy —giống như yếu tố của chiến sĩ hay yếu tố của chiến xa (sen’aṅga–ratha’aṅga) — cũng được gọi là bojjhaṅga.

Vì vậy, các nhà Sớ giải nói: “Các yếu tố của người giác ngộ được gọi là bojjhaṅga.”

4. Paṭisambhidā: nhiều ý nghĩa của Bojjhaṅga

Hơn nữa: “Tại sao gọi là bojjhaṅga?
Vì chúng hướng đến giác ngộ; vì chúng khiến người khác giác ngộ; vì chúng hiểu biết trọn vẹn.” (Paṭisambhidāmagga 2.17) Cho nên, theo Paṭisambhidā, nghĩa của bojjhaṅga cũng nên được hiểu như vậy.

5. Nghĩa của Sambojjhaṅga

Trong các cụm như sati-sambojjhaṅga:

  • sam- nghĩa là đẹp đẽ, thù thắng, thiện xảo,
  • do đó sambojjhaṅga nghĩa là “giác chi thù thắng”.

Sati-sambojjhaṅga nghĩa là: chính niệm ấy, được nói đến như một giác chi thù thắng. Bhāveti: nghĩa là làm cho tăng trưởng, lặp đi lặp lại trong dòng tương tục tâm, khiến nó hiện hữu một cách mạnh mẽ (abhinibbatteti).

Các thành ngữ như vivekanissita … cần được hiểu giống như trong Kosala Saṃyutta: “Tu tập chánh kiến, nương vào viễn ly…”

6. Sự khác biệt về “vivekanissita” trong Aṭṭhakathā

Điểm sai biệt là: Ở đó, ba loại viễn ly được nói:

  • viễn ly theo tadaṅga,
  • viễn ly theo samuccheda,
  • viễn ly theo nissaraṇa.

Nhưng khi đạt được sự tu tập của giác chi, một số vị giảng sư nói đến năm loại viễn ly.Bởi vì họ không chỉ rút ra các giác chi từ:

  • sát-na vipassanā mạnh,
  • diễn trình tâm đắc đạo, chứng quả (hay nhập thiền quả)

mà còn từ:

  • thiền án kasina làm nền tảng cho vipassanā,
  • thiền án anapanasati,
  • thiền án bất tịnh,
  • thiền áb phạm trú.

Điều này không bị các bậc Aṭṭhakathā bác bỏ. Do vậy, theo quan điểm của họ, tại thời điểm tiến hành các thiền này, giác chi liên hệ với loại viễn ly bằng sự áp chế (vikkhambhana-viveka). Và giống như trong sát-na vipassanā nói: “Theo ý hướng, nương vào viễn ly của sự xuất ly (nissaraṇa-viveka)…” Cũng có thể nói rằng giác chi nương vào viễn ly của sự lắng dịu (paṭipassaddhi-viveka).

Những phần còn lại ở đây nên được hiểu như đã giải thích ở phần trước.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 

Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

I. Phẩm Núi

1.I. Tuyết Sơn (S.v,63)

1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi ...

Thế Tôn nói như sau :

3) -- Y cứ vào vua núi Tuyết sơn, này các Tỷ-kheo, các loài rắn lớn tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh. Ở đấy, khi chúng tăng trưởng tự thân, thâu hoạch sức mạnh, chúng đi xuống các hồ nhỏ. Sau khi xuống các hồ nhỏ, chúng đi xuống các hồ lớn. Sau khi đi xuống các hồ lớn, chúng đi xuống các sông nhỏ. Sau khi đi xuống các sông nhỏ, chúng đi xuống các sông lớn. Sau khi đi xuống các sông lớn, chúng đi ra biển, ra đại dương. Tại đấy, thân của chúng được to lớn và quảng đại hơn.

4) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp?

5) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.

6) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo y cứ vào giới, an trú vào giới, tu tập bảy giác chi, làm cho sung mãn bảy giác chi, đạt được sự to lớn, sự quảng đại trong các pháp.

 

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

VIII. Phẩm Bộc Lưu

 

180.X. Thượng Phần Kiết Sử (S.v,61)

1) ...

2) -- Có năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành cần phải tu tập?

3-17) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.

Ví như, này các Tỷ-kheo, con sông Hằng...

18) Này các Tỷ-kheo, có năm thượng phần kiết sử. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, đó là năm thượng phần kiết sử này. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập. Thế nào là Thánh đạo Tám ngành cần phải tu tập?

19-33) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến... tu tập chánh định với cứu cánh là đoạn tận tham, với cứu cánh là đoạn tận sân, với cứu cánh là đoạn tận si... thể nhập vào bất tử, hướng đến bất tử, với cứu cánh là bất tử... thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn. Chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.

ooOoo