|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, ngày 24 tháng 11, 2025
MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG –
SAṂYUTTANIKĀYA
Bài 554. TÁC ĐỘNG DÂY CHUYỀN TRONG SỰ TU TẬP - Kinh Giới Đức (sīlasuttaṃ) . ... .
Đối với người tu tập, hình ảnh các bậc Thánh có ảnh hưởng vô cùng tích
cực: chỉ cần thấy, nghe, đến gần hay nghĩ tưởng các ngài thôi
cũng đã đủ tạo duyên cho sự viễn ly thân và viễn ly tâm—nền móng
của mọi tiến bộ trong nội tâm. Điều nầy tạo nên một tác động dây
chuyền về hành trình tu chứng sống
động: cho thấy rằng chỉ cần được hướng dẫn đúng bởi bậc Thánh và
duy trì quán chiếu liên tục, hành giả chắc chắn tiến gần đến
Niết-bàn dù nhanh hay chậm, với nhiều mức độ thành tựu khác
nhau.
Kinh Văn
184. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi,
bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati,
anāhāro no tiṭṭhati; evameva kho, bhikkhave, pañca nīvaraṇā
āhāraṭṭhitikā, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhanti, anāhārā no tiṭṭhanti.
1 “Này chư Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu thành tựu giới,
thành tựu định, thành tựu tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu
tri kiến giải thoát: chỉ cần thấy những vị Tỳ khưu ấy thôi cũng
là lợi ích, Ta nói vậy; chỉ cần lắng nghe các vị ấy… chỉ cần đến
gần các vị ấy… chỉ cần thân cận phụng sự các vị ấy… chỉ cần
tưởng nghĩ đến các vị ấy… chỉ cần xuất gia theo các vị ấy cũng
là lợi ích, Ta nói vậy.
Vì sao? Vì khi được nghe Pháp từ những
vị Tỳ khưu như vậy, người ấy sống viễn ly theo hai cách viễn
ly—thân viễn ly và tâm viễn ly.
2 “Sống viễn ly như vậy, người ấy nhớ lại pháp ấy và suy tư quán sát pháp
ấy. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu sống viễn ly như vậy,
nhớ lại pháp ấy và suy tư quán sát pháp ấy,
thì ngay khi ấy, niệm giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ
khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập niệm giác chi; ngay
khi ấy, niệm giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.
3 “Sống với niệm như vậy, vị ấy phân tích pháp ấy bằng trí, khảo sát nó,
và quán sát nó một cách điều tra. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, một
Tỳ khưu sống với niệm như vậy, quán sát, phân tích, thẩm định
với sự sáng suốt, thì ngay khi ấy, trạch pháp giác chi được khởi
lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập trạch
pháp giác chi; ngay khi ấy, trạch pháp giác chi được viên mãn do
tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.
4 “Khi vị ấy quán sát, phân tích, thẩm định với sự sáng suốt như vậy, thì
tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không bị biếng trễ. Mỗi khi,
này chư Tỳ khưu, tinh tấn được khởi lên nơi một Tỳ khưu khi vị
ấy quán sát, phân tích, thẩm định với sự sáng suốt nó, thì ngay
khi ấy, tinh tấn giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay
khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập tinh tấn giác chi; ngay khi ấy,
tinh tấn giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.
5 “Khi tinh tấn được khởi lên, hỷ pháp sinh khởi nơi vị ấy. Mỗi khi, này
chư Tỳ khưu, hỷ pháp sinh khởi nơi một Tỳ khưu có tinh tấn được
khởi lên, thì ngay khi ấy, hỷ giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ
khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập hỷ giác chi; ngay khi
ấy, hỷ giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.
6 “Đối với người có tâm được phấn chấn bởi hỷ pháp thì thân an tịnh và tâm
an tịnh. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, thân an tịnh và tâm an tịnh
nơi một Tỳ khưu có tâm được phấn chấn bởi hỷ pháp, thì ngay khi
ấy, khinh an giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi
ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập khinh an giác chi; ngay khi ấy, khinh
an giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.
7 “Đối với người có thân an tịnh và hỷ lạc thì tâm trở nên định tĩnh. Mỗi
khi, này chư Tỳ khưu, tâm trở nên định tĩnh nơi một Tỳ khưu có
thân an tịnh và hỷ lạc, thì ngay khi ấy, định giác chi được khởi
lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập định
giác chi; ngay khi ấy, định giác chi được viên mãn do tu tập nơi
vị Tỳ khưu ấy.
8 “Vị ấy quán sát bằng xả đối với tâm đã được định tĩnh như vậy. Mỗi khi,
này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu quán sát bằng xả đối với tâm đã
được định tĩnh như vậy, thì ngay khi ấy, xả giác chi được khởi
lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập xả giác
chi; ngay khi ấy, xả giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ
khưu ấy.
9 “Này chư Tỳ khưu, khi bảy giác chi này được tu tập và làm cho sung mãn
theo cách này, bảy quả và bảy lợi ích có thể được mong đợi. Thế
nào là bảy?
(1) Thành tựu chánh trí ngay trong đời này.
(2) Nếu không thành tựu chánh trí trong đời này, thì thành tựu chánh trí
vào lúc lâm chung.
(3) Nếu không thành chánh trí trong đời này hay vào lúc lâm chung, thì với
sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng Trung Bang
Niết-bàn.
(4) Nếu không thành tựu các điều trên… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần
kiết sử, vị ấy chứng Sanh Bang Niết-bàn.
(5) Nếu không chứng Sanh Bang Niết-bàn … thì với sự đoạn tận của năm hạ
phần kiết sử, vị ấy chứng Vô Hành Niết-bàn.
(6) Nếu không chứng Vô Hành Niết-bàn… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần
kiết sử, vị ấy chứng Hữu Hành Niết-bàn.
(7) Nếu không chứng Hữu Hành Niết-bàn… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần
kiết sử, vị ấy trở thành Bậc Tuần Tự Nhi Tiến Sắc Cứu Cánh.
Này chư Tỳ khưu, khi bảy giác chi này được tu tập và làm cho sung mãn theo
cách này, bảy loại quả và lợi ích như vậy có thể được mong đợi.”
Chú Thích
Tên của bài kinh nầy – Kinh Giới Hạnh - đặt theo câu mở đầu “Hành giả
thành tựu giới, thành tựu định….” Nhưng không mang nội dung tập
chú vào vai trò của “giới” như Kinh Hy Mã Lạp Sơn.
Con đường của bảy giác chi được trình bày theo một chuỗi nhân quả tinh vi
theo sự tác động dây chuyền: từ viễn ly → niệm → trạch pháp →
tinh tấn → hỷ → khinh an → định → xả, cho thấy sự tu tập là tiến
trình tự nhiên, không gượng ép.
Bài kinh nhấn mạnh vai trò của chánh niệm và trạch pháp như hai bánh xe mở
đầu toàn bộ tiến trình giác ngộ, bởi chính việc quán sát đúng
pháp làm khởi phát năng lượng tinh tấn và niềm hỷ lạc nội tâm.
Một điểm đặc biệt là Đức Phật mô tả bảy quả chứng đắc tương ứng với bảy
mức độ căn cơ của hành giả, mở ra một lộ trình linh hoạt mà ở
mỗi mức đều có bảo đảm giải thoát cho người đã đoạn tận năm hạ
phần kiết sử.
Khi nói rằng niệm giác chi (satisambojjhaṅga) sinh khởi do “nhớ lại” Chánh
Pháp được các vị Tỳ khưu thành tựu thuyết giảng, kinh văn sử
dụng liên hệ từ nguyên giữa sati với nghĩa “ghi nhớ” và động từ
anussarati – “hồi tưởng, nghĩ tưởng”. Dù nghĩa này đã bị lu mờ
bởi nghĩa kỹ thuật của sati là “tỉnh thức trong hiện tại”, sắc
thái “ghi nhớ” này thỉnh thoảng vẫn còn trong Pāḷi (ví dụ trong
định nghĩa về niệm quyền tại 48:9).
Ba cụm từ mô tả việc tu tập mỗi giác chi có thể được hiểu như ba giai đoạn
phát triển kế tiếp nhau:
1.
khởi phát,
2.
tăng trưởng,
3.
thành tựu viên mãn.
Sớ giải chú thích nói rằng trong bài kinh này, các giác chi nên được hiểu
như thuộc về tuệ quán (vipassanā) trong giai đoạn sơ bộ của con
đường hướng đến A-la-hán. Chúng sinh khởi trong cùng một sát-na
tâm, nhưng có đặc tính khác nhau.
Toàn bộ mô hình này cũng xuất hiện tại 54:13, nhưng bắt đầu bằng bốn niệm
xứ như phương tiện giúp khởi lên niệm giác chi.
Sớ giải chú thích antarāparinibbāyī (“đắc Niết-bàn trong khoảng giữa” hay
Trung Bang Niết Bàn) là người sinh vào Ngũ Tịnh Cư và chứng
A-la-hán trong nửa đầu của kiếp sống. Hạng này được chia làm ba:
(i) chứng A-la-hán ngay ngày tái sinh; (ii) sau 100–200 đại
kiếp; (iii) sau 400 đại kiếp.
Upahaccaparinibbāyī (“đắc Niết-bàn khi vừa ‘chạm đất’” hay Sanh Bang Niết
Bàn) là người chứng A-la-hán sau khi đi qua nửa đầu đời sống ở
cõi Tịnh Cư.
Đối với Sớ giải, asaṅkhāraparinibbāyī (“đắc mà không cần nỗ lực” hay Vô
Hành Bang Niết Bàn) và sasaṅkhāraparinibbāyī (“đắc nhờ nỗ
lực”hay Hữu Hành Bang Niết Bàn) là hai cách mà hai loại Bất Lai
đầu tiên chứng đắc.
Theo Ngài Bodhi và học giả Harley cách giải này xuất phát từ Pp 16–17 (và
Pp-a 198–201). Tuy nhiên, cách phân tích này:
Nếu hiểu antarāparinibbāyī theo đúng nghĩa đen, nó là “người chứng
Niết-bàn giữa hai đời sống”, có thể trong trung ấm (…).
Upahaccaparinibbāyī sẽ là người “chứng khi vừa đặt chân vào đời
mới”, tức ngay sau tái sinh. Hai hạng tiếp theo là người chứng
A-la-hán trong đời sống kế, phân biệt bởi mức độ nỗ lực. Hạng
cuối cùng, uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī, là người thăng tiến lần
lượt qua các tầng Tịnh Cư, sống đủ kiếp ở mỗi tầng, và cuối cùng
chứng A-la-hán ở cõi Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha), tầng cao nhất.
Cách hiểu này (được một số bộ phái ngoài Theravāda chấp nhận)
được xác nhận bởi Purisagati Sutta (AN IV 70–74), với ví dụ
“mảnh than hồng”, cho thấy 7 hạng (gồm 3 dạng antarāparinibbāyī)
là hoàn toàn riêng biệt và sắp xếp theo độ sắc bén của căn cơ.
Thêm bằng chứng từ AN I 134,25–29, giải thích antarāparinibbāyī
là người đã đoạn trừ trói buộc tái sinh (upapatti-saṃyojana)
nhưng chưa đoạn trừ trói buộc hiện hữu (bhava-saṃyojana). Dù các
nhà Sớ Giải Theravāda phản bác cách hiểu này (Kv 366), nhưng
chứng cứ trong kinh nghiêng mạnh về hướng ấy.
AN I 155–56 nêu một cách phân biệt khác giữa sasaṅkhāra và asaṅkhāra:
người đạt A-la-hán nhờ hành các đề mục “khắc khổ” (bất tịnh,
thực bất tịnh, yếm ly thế gian, quán vô thường, niệm chết) là
sasaṅkhāra; người đạt nhờ bốn thiền là asaṅkhāra.
Sớ Giải
184. tatiye sīlasampannāti ettha
khīṇāsavassa lokiyalokuttarasīlaṃ kathitaṃ, tena sampannāti
attho. samādhipaññāsupi eseva nayo. vimutti pana
phalavimuttiyeva. vimuttiñāṇadassanaṃ paccavekkhaṇañāṇaṃ.
evamettha sīlādayo tayo lokiyalokuttarā, vimutti lokuttarāva,
vimuttiñāṇadassanaṃ lokiyameva. dassanampāhanti dassanampi ahaṃ.
taṃ panetaṃ dassanaṃ — cakkhudassanaṃ, ñāṇadassananti duvidhaṃ.
tattha pasannehi cakkhūhi ariyānaṃ dassanaṃ olokanaṃ
cakkhudassanaṃ nāma. ariyehi pana diṭṭhassa lakkhaṇassa
dassanaṃ, paṭividdhassa ca paṭivijjhanaṃ jhānena vā vipassanāya
vā maggaphalehi vā ñāṇadassanaṃ nāma. imasmiṃ panettha
cakkhudassanaṃ adhippetaṃ. ariyānañhi pasannehi cakkhūhi
olokanampi bahukārameva. savananti “asuko nāma khīṇāsavo
asukasmiṃ nāma raṭṭhe vā janapade vā gāme vā nigame vā vihāre vā
leṇe vā vasatī”ti kathentānaṃ sotena savanaṃ, etampi
bahukārameva. upasaṅkamananti “dānaṃ vā dassāmi, pañhaṃ vā
pucchissāmi, dhammaṃ vā sossāmi, sakkāraṃ vā karissāmī”ti
evarūpena cittena ariyānaṃ upasaṅkamanaṃ. payirupāsananti
pañhāpayirupāsanaṃ. ariyānaṃ guṇe sutvā te upasaṅkamitvā
nimantetvā dānaṃ datvā “kiṃ, bhante, kusalan”tiādinā nayena
pañhapucchananti attho. anussatinti rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu
nisinnassa “idāni ariyā leṇaguhamaṇḍapādīsu
jhānavipassanāmaggaphalasukhehi vītināmentī”ti anussaraṇaṃ. yo
vā tesaṃ santike ovādo laddho hoti, taṃ āvajjitvā “imasmiṃ ṭhāne
sīlaṃ kathitaṃ, imasmiṃ samādhi, imasmiṃ vipassanā, imasmiṃ
maggo, imasmiṃ phalan”ti evaṃ anussaraṇaṃ. anupabbajjanti
ariyesu cittaṃ pasādetvā gharā nikkhamma tesaṃ santike
pabbajjaṃ. ariyānañhi santike cittaṃ pasādetvā tesaṃyeva santike
pabbajitvā tesaṃyeva ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa caratopi
pabbajjā anupabbajjā nāma. ariyesu pasādena aññattha pabbajitvā
ariyānaṃ santike ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa carato
pabbajjāpi anupabbajjā nāma. aññesu pana pasādena aññesaṃyeva
santike pabbajitvā aññesaṃyeva ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa
carato pabbajjā anupabbajjā nāma na hoti. evaṃ pabbajitesu pana
mahākassapattherassa tāva anupabbajjaṃ pabbajitā
satasahassamattā ahesuṃ, tathā therasseva saddhivihārikassa ca
candaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa
sūriyaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa
assaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa
yonakadhammarakkhitattherassa, tassa pana saddhivihāriko
asokarañño kaniṭṭhabhātā tissatthero nāma ahosi, tassa
anupabbajjaṃ pabbajitā aḍḍhateyyakoṭisaṅkhā ahesuṃ.
mahindattherassa anupabbajitānaṃ gaṇanaparicchedo natthi.
yāvajjadivasā laṅkādīpe satthari pasādena pabbajantā
mahindattherasseva pabbajjaṃ anupabbajanti nāma. taṃ dhammanti
taṃ tesaṃ ovādānusāsanīdhammaṃ. anussaratīti sarati.
anuvitakketīti vitakkāhataṃ karoti. āraddho hotīti paripuṇṇo
hoti. pavicinatītiādi sabbaṃ tattha ñāṇacāravaseneva vuttaṃ.
atha vā pavicinatīti tesaṃ tesaṃ dhammānaṃ lakkhaṇaṃ vicinati.
pavicaratīti tattha ñāṇaṃ carāpeti. parivīmaṃsamāpajjatīti
vīmaṃsanaṃ olokanaṃ gavesanaṃ āpajjati. satta phalā
sattānisaṃsāti ubhayampetaṃ atthato ekaṃ. diṭṭheva dhamme
paṭikacca aññaṃ ārādhetīti arahattaṃ ārādhento imasmiṃyeva
attabhāve ārādheti, tañca kho paṭikacca, asampatteyeva
maraṇakāleti attho. atha maraṇakāleti atha maraṇassa āsannakāle.
antarāparinibbāyīti yo āyuvemajjhaṃ anatikkamitvā parinibbāyati,
so tividho hoti. kappasahassāyukesu tāva avihesu nibbattitvā eko
nibbattadivaseyeva arahattaṃ pāpuṇāti. no ce nibbattadivase
pāpuṇāti, paṭhamassa pana kappasatassa matthake pāpuṇāti.
ayameko antarāparinibbāyī. aparo evaṃ asakkonto dvinnaṃ
kappasatānaṃ matthake pāpuṇāti, ayaṃ dutiyo. aparo evampi
asakkonto catunnaṃ kappasatānaṃ matthake pāpuṇāti, ayaṃ tatiyo
antarāparinibbāyī. pañcamaṃ pana kappasataṃ atikkamitvā
arahattaṃ patto upahaccaparinibbāyī nāma hoti. atappādīsupi
eseva nayo. yattha katthaci uppanno pana sasaṅkhārena
sappayogena arahattaṃ patto sasaṅkhāraparinibbāyī nāma,
asaṅkhārena appayogena patto asaṅkhāraparinibbāyī nāma.
avihādīsupi nibbatto tattha yāvatāyukaṃ ṭhatvā uparūpari
nibbattitvā akaniṭṭhaṃ patto uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī nāma.
imasmiṃ pana ṭhāne aṭṭhacattārīsa anāgāmino kathetabbā. avihesu
hi tayo antarāparinibbāyī, eko upahaccaparinibbāyī, eko
uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmīti pañca honti. te
asaṅkhāraparinibbāyino pañca, sasaṅkhāraparinibbāyino pañcāti
dasa honti, tathā atappādīsu. akaniṭṭhesu pana uddhaṃsoto
natthi, tasmā tattha cattāro sasaṅkhāraparinibbāyī, cattāro
asaṅkhāraparinibbāyīti aṭṭhāti evaṃ aṭṭhacattālīsa honti. tesaṃ
uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī sabbajeṭṭho ceva hoti sabbakaniṭṭho ca.
kathaṃ? so hi soḷasakappasahassāyukattā āyunā sabbesaṃ jeṭṭho,
sabbapacchā arahattaṃ pāpuṇīti sabbesaṃ kaniṭṭho. imasmiṃ sutte
apubbaṃ acarimaṃ ekacittakkhaṇikā nānālakkhaṇā arahattamaggassa
pubbabhāgavipassanā bojjhaṅgā kathitā.
184. Tatiye sīlasampannā
— trong bài kinh thứ ba, “thành tựu giới”, ở đây nói đến giới
của bậc khīṇāsava (bậc A-la-hán), bao gồm giới vức hiệp thế và
giới vức siêu thế; “thành tựu bởi nó” là nghĩa như vậy. Đối với
định và tuệ, ý nghĩa cũng tương tự.
Còn giải thoát (vimutti) ở đây là quả-giải-thoát (phalavimutti).
Như vậy, trong ba pháp giới-định-tuệ:
dassanampāhaṃ ti – “dassanampi ahaṃ”: Ta nói rằng “cả sự thấy” cũng vậy.
Ở đây:–sự thấy, sự nhìn các bậc Thánh bằng đôi mắt đã được nhu thuận là
cái gọi là “thấy bằng mắt.”còn sự thấy đặc tướng của điều đã
được thấy bởi bậc Thánh, và sự thấu suốt của điều đã được thấu
suốt bằng thiền, bằng minh sát, hoặc bằng đạo và quả – được gọi
là “thấy bằng trí.”
Nhưng trong đoạn này, “thấy bằng mắt” được nhắm đến. Vì ngay cả việc nhìn
các bậc Thánh bằng đôi mắt nhu thuận cũng đem lại nhiều lợi ích.
Savana — “nghe”
Là nghe bằng tai khi người ta nói: “Vị khīṇāsava ấy sống ở quốc độ nọ,
làng nọ, thị trấn nọ, tịnh xá nọ”. Điều ấy cũng nhiều công đức.
Upasaṅkamana — “đến gần”
Đến gần bậc Thánh với tâm như: “Ta sẽ dâng vật, sẽ hỏi pháp, sẽ nghe pháp,
sẽ làm sự cúng dường”.
Payirupāsanā — “hầu cận, thưa hỏi”
Nghĩa là: Nghe danh đức của bậc Thánh → đến gần → thỉnh mời → cúng dường →
rồi hỏi pháp như:
Anussati — “nhớ nghĩ”
Khi ngồi tại chỗ ngày hoặc đêm, nhớ rằng: “Hiện giờ các bậc Thánh đang trú
trong động, am, tịnh xá, hưởng an lạc của thiền, của minh sát,
của đạo và quả.” Hoặc nhớ lại lời giáo huấn đã được học từ các
Ngài: “Ở chỗ này Ngài dạy về giới; ở chỗ này Ngài dạy về định; ở
chỗ này Ngài dạy về tuệ; chỗ này là đạo; chỗ này là quả.”
Anupabbajjā — “xuất gia theo sau bậc Thánh”
Là rời bỏ gia đình và xuất gia ngay dưới sự hướng dẫn của các bậc Thánh,
do tâm đã trở nên thanh tịnh với các Ngài. Nếu xuất gia nơi khác
nhưng luôn theo đuổi giáo huấn của bậc Thánh, vẫn gọi là
anupabbajjā. Nhưng nếu xuất gia ở nơi khác do kính một
người khác, và vẫn theo người khác ấy — thì không gọi là
anupabbajjā.
Về số lượng người xuất gia theo bậc Thánh
– Dưới thời Tôn giả Mahākassapa, có 100.000 người theo hạnh anupabbajjā. –
Tương tự là đệ tử của Ngài, Đại đức Candagutta; rồi đệ tử của
Ngài Sūriyagutta; rồi đệ tử Assagutta; rồi đệ tử
Yonaka-Dhammarakkhita. – Đệ tử của vị ấy là Đại đức Tissa, em
trai vua Asoka; số người theo anupabbajjā của Ngài là rất đông
đảo. – Đối với Ngài Mahinda Thera, số lượng ấy không thể đo
lường.
Cho đến hiện nay, ở đảo Laṅkā, những người xuất gia với tâm kính Phật đều
được gọi là theo pabbajjā của Mahinda Thera.
Taṃ dhammaṃ — “pháp ấy”
Nghĩa là giáo huấn của các bậc Thánh.
Anussarati: ghi nhớ.
Hoặc:
Bảy quả, bảy lợi ích
Hai từ “satta phalā, sattānisaṃsā” đều
đồng nghĩa.
Diṭṭheva dhamme paṭikacca aññaṃ ārādheti nghĩa là:
Atha maraṇakāle nghĩa là:
Antarāparinibbāyī — “Trung Bang Niết Bàn”
Là vị chưa vượt qua nửa tuổi thọ mà chứng A-la-hán.
Có ba loại:
1.
Sanh vào cõi Aviha, chứng A-la-hán ngay
trong ngày tái sinh.
2.
Nếu không, chứng sau 100 kiếp.
3.
Nếu không, chứng sau 400 kiếp.
Upahaccaparinibbāyī — “Sanh Bang Niết Bàn”
Vị chứng A-la-hán sau khi đã vượt nửa tuổi thọ của cõi ấy.
Sasaṅkhāraparinibbāyī — “Vô hành bang Niết Bàn”
Đạt A-la-hán với sự nỗ lực.
Asaṅkhāraparinibbāyī — “Hữu hành bang Niết Bàn”
Đạt A-la-hán không cần nỗ lực.
Uddhaṃsoto Akaniṭṭhagāmī “Tuần tự nhi tiến Sắc Cứu Cánh”
Trong số ấy, vị uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī vừa là lớn nhất (về thọ mạng),
Trong số đó, năm vị là asaṅkhāra-parinibbāyī (đạt Niết-bàn không cần nỗ
lực),
Nhưng trong cõi Akaniṭṭha thì không có hạng “uddhaṃsoto”.
“Ievaṃ aṭṭhacattālīsa honti.”
Vị uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī
I. Phẩm Núi
3.III. Giới (S.v,67)
1) ...
2) -- Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc
định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến,
Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.
3) Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất
nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta
nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này
các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến
các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi
ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta
nói rằng có rất nhiều lợi ích.
4) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như
vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly :
viễn ly về thân và viễn ly về tâm. Vị sống viễn ly như vậy thì
sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.
5) Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy
niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát
khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi;
trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn. Vị ấy
trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát,
thành tựu quán sát pháp ấy.
6) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy,
với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy;
trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát
khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác
chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, trạch pháp giác chi đi đến viên
mãn. Trong khi vị ấy với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành
tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động (asallinam)
bắt đầu phát khởi nơi vị ấy.
7) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với trí tuệ quyết trạch,
tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ
động bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu
tập tinh tấn giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, tinh tấn giác
chi đi đến viên mãn. Với vị tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ
đến vật chất (piti niràmisà) khởi lên.
8) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tinh cần, tinh tấn, hỷ
không liên hệ đến vật chất khởi lên; trong khi ấy, hỷ giác chi
bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập hỷ
giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, hỷ giác chi đi đến viên mãn.
Với vị có ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an.
9) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với ý hoan hỷ, thân được
khinh an, tâm được khinh an; trong khi ấy, khinh an giác chi bắt
đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập khinh
an giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, khinh an giác chi đi đến
viên mãn. Với vị có thân khinh an, lạc hiện hữu. Với vị có lạc,
tâm được định tĩnh.
10) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thân khinh an, được
an lạc, tâm được định tĩnh; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, định
giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo
tu tập định giác chi; trong khi ấy, định giác chi nhờ tu tập, đi
đến viên mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo trú xả nhìn
(sự vật) (sàdhukam ajjhupekkhità).
11) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm định tĩnh, khéo
trú xả nhìn (sự vật) như vậy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, xả
giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo
tu tập xả giác chi; trong khi ấy, xả giác chi nhờ tu tập, đi đến
viên mãn.
12) Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm
cho sung mãn như vậy, thời bảy quả, bảy lợi ích được chờ đợi.
Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?
13) Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu được
chánh trí; nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được
chánh trí, thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí.
14) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh
trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí, thời sau
khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian
Bát-niết-bàn (antaràparinibbàyi).
15) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh
trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí; nếu sau
khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian
bát Niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng
được Tổn hại (upahacca) Bát-niết-bàn.
16) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không chứng được chánh trí;
nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn
tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian
Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không
chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ
phầm kiết sử, chứng được Vô hành Bát-niết-bàn
(asankhàraparinibbàyi)
17) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí;
nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn
tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian
Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt được năm hạ phần kiết sử,
không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm
hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-hàn; thời sau
khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành
Bát-niết-bàn.
18) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí;
nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn
tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian
Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, không
chứng được Tổn hại bát Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ
phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-bàn; nếu sau khi
đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Hữu hành
Bát-niết-bàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy
là bậc thượng lưu (uddhamsoto), đạt được Sắc cứu cánh thiên. ooOoo |