BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Hai, ngày 24 tháng 11, 2025

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA
Tập V–Chương 46, Tương Ưng Đạo. Phẩm Núi. SN 46.3
Bài 554. TÁC ĐỘNG DÂY CHUYỀN TRONG SỰ TU TẬP - Kinh Giới Đức (sīlasuttaṃ) .

... .
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Tuong-Ung-554.jpg
http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Đối với người tu tập, hình ảnh các bậc Thánh có ảnh hưởng vô cùng tích cực: chỉ cần thấy, nghe, đến gần hay nghĩ tưởng các ngài thôi cũng đã đủ tạo duyên cho sự viễn ly thân và viễn ly tâm—nền móng của mọi tiến bộ trong nội tâm. Điều nầy tạo nên một tác động dây chuyền về hành trình tu chứng  sống động: cho thấy rằng chỉ cần được hướng dẫn đúng bởi bậc Thánh và duy trì quán chiếu liên tục, hành giả chắc chắn tiến gần đến Niết-bàn dù nhanh hay chậm, với nhiều mức độ thành tựu khác nhau.

Kinh Văn

184. sāvatthinidānaṃ. “seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati; evameva kho, bhikkhave, pañca nīvaraṇā āhāraṭṭhitikā, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhanti, anāhārā no tiṭṭhanti.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya? atthi, bhikkhave, subhanimittaṃ. tattha ayonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā kāmacchandassa uppādāya, uppannassa vā kāmacchandassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā byāpādassa uppādāya, uppannassa vā byāpādassa bhiyyobhāvāya vepullāya? atthi, bhikkhave, paṭighanimittaṃ. tattha ayonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā byāpādassa uppādāya, uppannassa vā byāpādassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā thinamiddhassa uppādāya, uppannassa vā thinamiddhassa bhiyyobhāvāya vepullāya? atthi, bhikkhave, arati tandi vijambhitā bhattasammado cetaso ca līnattaṃ. tattha ayonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā thinamiddhassa uppādāya, uppannassa vā thinamiddhassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā uddhaccakukkuccassa uppādāya, uppannassa vā uddhaccakukkuccassa bhiyyobhāvāya vepullāya? atthi, bhikkhave, cetaso avūpasamo. tattha ayonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā uddhaccakukkuccassa uppādāya, uppannassa vā uddhaccakukkuccassa bhiyyobhāvāya vepullāya.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannāya vā vicikicchāya uppādāya, uppannāya vā vicikicchāya bhiyyobhāvāya vepullāya? atthi, bhikkhave, vicikicchāṭṭhānīyā dhammā. tattha ayonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannāya vā vicikicchāya uppādāya, uppannāya vā vicikicchāya bhiyyobhāvāya vepullāya. “seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati; evameva kho, bhikkhave, ime pañca nīvaraṇā āhāraṭṭhitikā, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhanti, anāhārā no tiṭṭhanti. “seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati; evameva kho, bhikkhave, satta bojjhaṅgā āhāraṭṭhitikā, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhanti, anāhārā no tiṭṭhanti.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā satisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, satisambojjhaṅgaṭṭhānīyā dhammā. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā satisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā satisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā dhammavicayasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, kusalākusalā dhammā, sāvajjānavajjā dhammā, hīnapaṇītā dhammā, kaṇhasukkasappaṭibhāgā dhammā. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā dhammavicayasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā dhammavicayasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, ārambhadhātu {ārabbhadhātu (syā. ka.)} nikkamadhātu parakkamadhātu. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā vīriyasambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā pītisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, pītisambojjhaṅgaṭṭhānīyā dhammā. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā pītisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā pītisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā passaddhisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, kāyapassaddhi, cittapassaddhi. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā passaddhisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā passaddhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā samādhisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, samathanimittaṃ {samādhinimittaṃ (syā.)} abyagganimittaṃ. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā samādhisambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā samādhisambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā.
“ko ca, bhikkhave, āhāro anuppannassa vā upekkhāsambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā? atthi, bhikkhave, upekkhāsambojjhaṅgaṭṭhānīyā dhammā. tattha yonisomanasikārabahulīkāro — ayamāhāro anuppannassa vā upekkhāsambojjhaṅgassa uppādāya, uppannassa vā upekkhāsambojjhaṅgassa bhāvanāya pāripūriyā. “seyyathāpi, bhikkhave, ayaṃ kāyo āhāraṭṭhitiko, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhati, anāhāro no tiṭṭhati; evameva kho, bhikkhave, ime satta bojjhaṅgā āhāraṭṭhitikā, āhāraṃ paṭicca tiṭṭhanti, anāhārā no tiṭṭhantī”ti. dutiyaṃ.

1 “Này chư Tỳ khưu, những vị Tỳ khưu thành tựu giới, thành tựu định, thành tựu tuệ, thành tựu giải thoát, thành tựu tri kiến giải thoát: chỉ cần thấy những vị Tỳ khưu ấy thôi cũng là lợi ích, Ta nói vậy; chỉ cần lắng nghe các vị ấy… chỉ cần đến gần các vị ấy… chỉ cần thân cận phụng sự các vị ấy… chỉ cần tưởng nghĩ đến các vị ấy… chỉ cần xuất gia theo các vị ấy cũng là lợi ích, Ta nói vậy. Vì sao? Vì khi được nghe Pháp từ những vị Tỳ khưu như vậy, người ấy sống viễn ly theo hai cách viễn ly—thân viễn ly và tâm viễn ly.

2 “Sống viễn ly như vậy, người ấy nhớ lại pháp ấy và suy tư quán sát pháp ấy. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu sống viễn ly như vậy, nhớ lại pháp ấy và suy tư quán sát pháp ấy,  thì ngay khi ấy, niệm giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập niệm giác chi; ngay khi ấy, niệm giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

3 “Sống với niệm như vậy, vị ấy phân tích pháp ấy bằng trí, khảo sát nó, và quán sát nó một cách điều tra. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu sống với niệm như vậy, quán sát, phân tích, thẩm định với sự sáng suốt, thì ngay khi ấy, trạch pháp giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập trạch pháp giác chi; ngay khi ấy, trạch pháp giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

4 “Khi vị ấy quán sát, phân tích, thẩm định với sự sáng suốt như vậy, thì tinh tấn của vị ấy được khởi lên, không bị biếng trễ. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, tinh tấn được khởi lên nơi một Tỳ khưu khi vị ấy quán sát, phân tích, thẩm định với sự sáng suốt nó, thì ngay khi ấy, tinh tấn giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập tinh tấn giác chi; ngay khi ấy, tinh tấn giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

5 “Khi tinh tấn được khởi lên, hỷ pháp sinh khởi nơi vị ấy. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, hỷ pháp sinh khởi nơi một Tỳ khưu có tinh tấn được khởi lên, thì ngay khi ấy, hỷ giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập hỷ giác chi; ngay khi ấy, hỷ giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

6 “Đối với người có tâm được phấn chấn bởi hỷ pháp thì thân an tịnh và tâm an tịnh. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, thân an tịnh và tâm an tịnh nơi một Tỳ khưu có tâm được phấn chấn bởi hỷ pháp, thì ngay khi ấy, khinh an giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập khinh an giác chi; ngay khi ấy, khinh an giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

7 “Đối với người có thân an tịnh và hỷ lạc thì tâm trở nên định tĩnh. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, tâm trở nên định tĩnh nơi một Tỳ khưu có thân an tịnh và hỷ lạc, thì ngay khi ấy, định giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập định giác chi; ngay khi ấy, định giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

8 “Vị ấy quán sát bằng xả đối với tâm đã được định tĩnh như vậy. Mỗi khi, này chư Tỳ khưu, một Tỳ khưu quán sát bằng xả đối với tâm đã được định tĩnh như vậy, thì ngay khi ấy, xả giác chi được khởi lên nơi vị Tỳ khưu ấy; ngay khi ấy, vị Tỳ khưu ấy tu tập xả giác chi; ngay khi ấy, xả giác chi được viên mãn do tu tập nơi vị Tỳ khưu ấy.

9 “Này chư Tỳ khưu, khi bảy giác chi này được tu tập và làm cho sung mãn theo cách này, bảy quả và bảy lợi ích có thể được mong đợi. Thế nào là bảy?

(1) Thành tựu chánh trí ngay trong đời này.

(2) Nếu không thành tựu chánh trí trong đời này, thì thành tựu chánh trí vào lúc lâm chung.

(3) Nếu không thành chánh trí trong đời này hay vào lúc lâm chung, thì với sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng Trung Bang Niết-bàn.

(4) Nếu không thành tựu các điều trên… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng Sanh Bang Niết-bàn.

(5) Nếu không chứng Sanh Bang Niết-bàn … thì với sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng Vô Hành Niết-bàn.

(6) Nếu không chứng Vô Hành Niết-bàn… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy chứng Hữu Hành Niết-bàn.

(7) Nếu không chứng Hữu Hành Niết-bàn… thì với sự đoạn tận của năm hạ phần kiết sử, vị ấy trở thành Bậc Tuần Tự Nhi Tiến Sắc Cứu Cánh.

Này chư Tỳ khưu, khi bảy giác chi này được tu tập và làm cho sung mãn theo cách này, bảy loại quả và lợi ích như vậy có thể được mong đợi.”

Chú Thích

Tên của bài kinh nầy – Kinh Giới Hạnh - đặt theo câu mở đầu “Hành giả thành tựu giới, thành tựu định….” Nhưng không mang nội dung tập chú vào vai trò của “giới” như Kinh Hy Mã Lạp Sơn.

Con đường của bảy giác chi được trình bày theo một chuỗi nhân quả tinh vi theo sự tác động dây chuyền: từ viễn ly → niệm → trạch pháp → tinh tấn → hỷ → khinh an → định → xả, cho thấy sự tu tập là tiến trình tự nhiên, không gượng ép.

Bài kinh nhấn mạnh vai trò của chánh niệm và trạch pháp như hai bánh xe mở đầu toàn bộ tiến trình giác ngộ, bởi chính việc quán sát đúng pháp làm khởi phát năng lượng tinh tấn và niềm hỷ lạc nội tâm.

Một điểm đặc biệt là Đức Phật mô tả bảy quả chứng đắc tương ứng với bảy mức độ căn cơ của hành giả, mở ra một lộ trình linh hoạt mà ở mỗi mức đều có bảo đảm giải thoát cho người đã đoạn tận năm hạ phần kiết sử.

Khi nói rằng niệm giác chi (satisambojjhaṅga) sinh khởi do “nhớ lại” Chánh Pháp được các vị Tỳ khưu thành tựu thuyết giảng, kinh văn sử dụng liên hệ từ nguyên giữa sati với nghĩa “ghi nhớ” và động từ anussarati – “hồi tưởng, nghĩ tưởng”. Dù nghĩa này đã bị lu mờ bởi nghĩa kỹ thuật của sati là “tỉnh thức trong hiện tại”, sắc thái “ghi nhớ” này thỉnh thoảng vẫn còn trong Pāḷi (ví dụ trong định nghĩa về niệm quyền tại 48:9).

Ba cụm từ mô tả việc tu tập mỗi giác chi có thể được hiểu như ba giai đoạn phát triển kế tiếp nhau:

1.    khởi phát,

2.    tăng trưởng,

3.    thành tựu viên mãn.

Sớ giải chú thích nói rằng trong bài kinh này, các giác chi nên được hiểu như thuộc về tuệ quán (vipassanā) trong giai đoạn sơ bộ của con đường hướng đến A-la-hán. Chúng sinh khởi trong cùng một sát-na tâm, nhưng có đặc tính khác nhau.

Toàn bộ mô hình này cũng xuất hiện tại 54:13, nhưng bắt đầu bằng bốn niệm xứ như phương tiện giúp khởi lên niệm giác chi.

Sớ giải chú thích antarāparinibbāyī (“đắc Niết-bàn trong khoảng giữa” hay Trung Bang Niết Bàn) là người sinh vào Ngũ Tịnh Cư và chứng A-la-hán trong nửa đầu của kiếp sống. Hạng này được chia làm ba: (i) chứng A-la-hán ngay ngày tái sinh; (ii) sau 100–200 đại kiếp; (iii) sau 400 đại kiếp.

Upahaccaparinibbāyī (“đắc Niết-bàn khi vừa ‘chạm đất’” hay Sanh Bang Niết Bàn) là người chứng A-la-hán sau khi đi qua nửa đầu đời sống ở cõi Tịnh Cư.

Đối với Sớ giải, asaṅkhāraparinibbāyī (“đắc mà không cần nỗ lực” hay Vô Hành Bang Niết Bàn) và sasaṅkhāraparinibbāyī (“đắc nhờ nỗ lực”hay Hữu Hành Bang Niết Bàn) là hai cách mà hai loại Bất Lai đầu tiên chứng đắc.

Theo Ngài Bodhi và học giả Harley cách giải này xuất phát từ Pp 16–17 (và Pp-a 198–201). Tuy nhiên, cách phân tích này:

  • không phù hợp nghĩa đen của tên gọi,
  • và cũng không phù hợp tính liên tục – loại trừ lẫn nhau – trong chuỗi năm loại như được trình bày trong các kinh khác.

Nếu hiểu antarāparinibbāyī theo đúng nghĩa đen, nó là “người chứng Niết-bàn giữa hai đời sống”, có thể trong trung ấm (…). Upahaccaparinibbāyī sẽ là người “chứng khi vừa đặt chân vào đời mới”, tức ngay sau tái sinh. Hai hạng tiếp theo là người chứng A-la-hán trong đời sống kế, phân biệt bởi mức độ nỗ lực. Hạng cuối cùng, uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī, là người thăng tiến lần lượt qua các tầng Tịnh Cư, sống đủ kiếp ở mỗi tầng, và cuối cùng chứng A-la-hán ở cõi Sắc Cứu Cánh (Akaniṭṭha), tầng cao nhất. Cách hiểu này (được một số bộ phái ngoài Theravāda chấp nhận) được xác nhận bởi Purisagati Sutta (AN IV 70–74), với ví dụ “mảnh than hồng”, cho thấy 7 hạng (gồm 3 dạng antarāparinibbāyī) là hoàn toàn riêng biệt và sắp xếp theo độ sắc bén của căn cơ. Thêm bằng chứng từ AN I 134,25–29, giải thích antarāparinibbāyī là người đã đoạn trừ trói buộc tái sinh (upapatti-saṃyojana) nhưng chưa đoạn trừ trói buộc hiện hữu (bhava-saṃyojana). Dù các nhà Sớ Giải Theravāda phản bác cách hiểu này (Kv 366), nhưng chứng cứ trong kinh nghiêng mạnh về hướng ấy.

AN I 155–56 nêu một cách phân biệt khác giữa sasaṅkhāra và asaṅkhāra: người đạt A-la-hán nhờ hành các đề mục “khắc khổ” (bất tịnh, thực bất tịnh, yếm ly thế gian, quán vô thường, niệm chết) là sasaṅkhāra; người đạt nhờ bốn thiền là asaṅkhāra.

Sớ Giải

184. tatiye sīlasampannāti ettha khīṇāsavassa lokiyalokuttarasīlaṃ kathitaṃ, tena sampannāti attho. samādhipaññāsupi eseva nayo. vimutti pana phalavimuttiyeva. vimuttiñāṇadassanaṃ paccavekkhaṇañāṇaṃ. evamettha sīlādayo tayo lokiyalokuttarā, vimutti lokuttarāva, vimuttiñāṇadassanaṃ lokiyameva. dassanampāhanti dassanampi ahaṃ. taṃ panetaṃ dassanaṃ — cakkhudassanaṃ, ñāṇadassananti duvidhaṃ. tattha pasannehi cakkhūhi ariyānaṃ dassanaṃ olokanaṃ cakkhudassanaṃ nāma. ariyehi pana diṭṭhassa lakkhaṇassa dassanaṃ, paṭividdhassa ca paṭivijjhanaṃ jhānena vā vipassanāya vā maggaphalehi vā ñāṇadassanaṃ nāma. imasmiṃ panettha cakkhudassanaṃ adhippetaṃ. ariyānañhi pasannehi cakkhūhi olokanampi bahukārameva. savananti “asuko nāma khīṇāsavo asukasmiṃ nāma raṭṭhe vā janapade vā gāme vā nigame vā vihāre vā leṇe vā vasatī”ti kathentānaṃ sotena savanaṃ, etampi bahukārameva. upasaṅkamananti “dānaṃ vā dassāmi, pañhaṃ vā pucchissāmi, dhammaṃ vā sossāmi, sakkāraṃ vā karissāmī”ti evarūpena cittena ariyānaṃ upasaṅkamanaṃ. payirupāsananti pañhāpayirupāsanaṃ. ariyānaṃ guṇe sutvā te upasaṅkamitvā nimantetvā dānaṃ datvā “kiṃ, bhante, kusalan”tiādinā nayena pañhapucchananti attho. anussatinti rattiṭṭhānadivāṭṭhānesu nisinnassa “idāni ariyā leṇaguhamaṇḍapādīsu jhānavipassanāmaggaphalasukhehi vītināmentī”ti anussaraṇaṃ. yo vā tesaṃ santike ovādo laddho hoti, taṃ āvajjitvā “imasmiṃ ṭhāne sīlaṃ kathitaṃ, imasmiṃ samādhi, imasmiṃ vipassanā, imasmiṃ maggo, imasmiṃ phalan”ti evaṃ anussaraṇaṃ. anupabbajjanti ariyesu cittaṃ pasādetvā gharā nikkhamma tesaṃ santike pabbajjaṃ. ariyānañhi santike cittaṃ pasādetvā tesaṃyeva santike pabbajitvā tesaṃyeva ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa caratopi pabbajjā anupabbajjā nāma. ariyesu pasādena aññattha pabbajitvā ariyānaṃ santike ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa carato pabbajjāpi anupabbajjā nāma. aññesu pana pasādena aññesaṃyeva santike pabbajitvā aññesaṃyeva ovādānusāsaniṃ paccāsīsamānassa carato pabbajjā anupabbajjā nāma na hoti. evaṃ pabbajitesu pana mahākassapattherassa tāva anupabbajjaṃ pabbajitā satasahassamattā ahesuṃ, tathā therasseva saddhivihārikassa ca candaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa sūriyaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa assaguttattherassa, tassāpi saddhivihārikassa yonakadhammarakkhitattherassa, tassa pana saddhivihāriko asokarañño kaniṭṭhabhātā tissatthero nāma ahosi, tassa anupabbajjaṃ pabbajitā aḍḍhateyyakoṭisaṅkhā ahesuṃ. mahindattherassa anupabbajitānaṃ gaṇanaparicchedo natthi. yāvajjadivasā laṅkādīpe satthari pasādena pabbajantā mahindattherasseva pabbajjaṃ anupabbajanti nāma. taṃ dhammanti taṃ tesaṃ ovādānusāsanīdhammaṃ. anussaratīti sarati. anuvitakketīti vitakkāhataṃ karoti. āraddho hotīti paripuṇṇo hoti. pavicinatītiādi sabbaṃ tattha ñāṇacāravaseneva vuttaṃ. atha vā pavicinatīti tesaṃ tesaṃ dhammānaṃ lakkhaṇaṃ vicinati. pavicaratīti tattha ñāṇaṃ carāpeti. parivīmaṃsamāpajjatīti vīmaṃsanaṃ olokanaṃ gavesanaṃ āpajjati. satta phalā sattānisaṃsāti ubhayampetaṃ atthato ekaṃ. diṭṭheva dhamme paṭikacca aññaṃ ārādhetīti arahattaṃ ārādhento imasmiṃyeva attabhāve ārādheti, tañca kho paṭikacca, asampatteyeva maraṇakāleti attho. atha maraṇakāleti atha maraṇassa āsannakāle. antarāparinibbāyīti yo āyuvemajjhaṃ anatikkamitvā parinibbāyati, so tividho hoti. kappasahassāyukesu tāva avihesu nibbattitvā eko nibbattadivaseyeva arahattaṃ pāpuṇāti. no ce nibbattadivase pāpuṇāti, paṭhamassa pana kappasatassa matthake pāpuṇāti. ayameko antarāparinibbāyī. aparo evaṃ asakkonto dvinnaṃ kappasatānaṃ matthake pāpuṇāti, ayaṃ dutiyo. aparo evampi asakkonto catunnaṃ kappasatānaṃ matthake pāpuṇāti, ayaṃ tatiyo antarāparinibbāyī. pañcamaṃ pana kappasataṃ atikkamitvā arahattaṃ patto upahaccaparinibbāyī nāma hoti. atappādīsupi eseva nayo. yattha katthaci uppanno pana sasaṅkhārena sappayogena arahattaṃ patto sasaṅkhāraparinibbāyī nāma, asaṅkhārena appayogena patto asaṅkhāraparinibbāyī nāma. avihādīsupi nibbatto tattha yāvatāyukaṃ ṭhatvā uparūpari nibbattitvā akaniṭṭhaṃ patto uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī nāma. imasmiṃ pana ṭhāne aṭṭhacattārīsa anāgāmino kathetabbā. avihesu hi tayo antarāparinibbāyī, eko upahaccaparinibbāyī, eko uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmīti pañca honti. te asaṅkhāraparinibbāyino pañca, sasaṅkhāraparinibbāyino pañcāti dasa honti, tathā atappādīsu. akaniṭṭhesu pana uddhaṃsoto natthi, tasmā tattha cattāro sasaṅkhāraparinibbāyī, cattāro asaṅkhāraparinibbāyīti aṭṭhāti evaṃ aṭṭhacattālīsa honti. tesaṃ uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī sabbajeṭṭho ceva hoti sabbakaniṭṭho ca. kathaṃ? so hi soḷasakappasahassāyukattā āyunā sabbesaṃ jeṭṭho, sabbapacchā arahattaṃ pāpuṇīti sabbesaṃ kaniṭṭho. imasmiṃ sutte apubbaṃ acarimaṃ ekacittakkhaṇikā nānālakkhaṇā arahattamaggassa pubbabhāgavipassanā bojjhaṅgā kathitā.

184.  Tatiye sīlasampannā — trong bài kinh thứ ba, “thành tựu giới”, ở đây nói đến giới của bậc khīṇāsava (bậc A-la-hán), bao gồm giới vức hiệp thế và giới vức siêu thế; “thành tựu bởi nó” là nghĩa như vậy. Đối với định và tuệ, ý nghĩa cũng tương tự.

Còn giải thoát (vimutti) ở đây là quả-giải-thoát (phalavimutti).
Tri kiến giải thoát (vimutti-ñāṇa-dassana) là tuệ hồi quán (paccavekkhaṇa-ñāṇa).

Như vậy, trong ba pháp giới-định-tuệ:
– giới, định, tuệ có giới vức hiệp thế và giới vức siêu thế
– giải thoát chỉ thuộc siêu thế,
– tri kiến giải thoát là thuộc hiệp thế.

dassanampāhaṃ ti – “dassanampi ahaṃ”: Ta nói rằng “cả sự thấy” cũng vậy.
– là hai loại: thấy bằng mắt và thấy bằng trí.

Ở đây:–sự thấy, sự nhìn các bậc Thánh bằng đôi mắt đã được nhu thuận là cái gọi là “thấy bằng mắt.”còn sự thấy đặc tướng của điều đã được thấy bởi bậc Thánh, và sự thấu suốt của điều đã được thấu suốt bằng thiền, bằng minh sát, hoặc bằng đạo và quả – được gọi là “thấy bằng trí.”

Nhưng trong đoạn này, “thấy bằng mắt” được nhắm đến. Vì ngay cả việc nhìn các bậc Thánh bằng đôi mắt nhu thuận cũng đem lại nhiều lợi ích.

Savana — “nghe”

Là nghe bằng tai khi người ta nói: “Vị khīṇāsava ấy sống ở quốc độ nọ, làng nọ, thị trấn nọ, tịnh xá nọ”. Điều ấy cũng nhiều công đức.

Upasaṅkamana — “đến gần”

Đến gần bậc Thánh với tâm như: “Ta sẽ dâng vật, sẽ hỏi pháp, sẽ nghe pháp, sẽ làm sự cúng dường”.

Payirupāsanā — “hầu cận, thưa hỏi”

Nghĩa là: Nghe danh đức của bậc Thánh → đến gần → thỉnh mời → cúng dường → rồi hỏi pháp như:
“Bạch Ngài, điều gì là thiện?”

Anussati — “nhớ nghĩ”

Khi ngồi tại chỗ ngày hoặc đêm, nhớ rằng: “Hiện giờ các bậc Thánh đang trú trong động, am, tịnh xá, hưởng an lạc của thiền, của minh sát, của đạo và quả.” Hoặc nhớ lại lời giáo huấn đã được học từ các Ngài: “Ở chỗ này Ngài dạy về giới; ở chỗ này Ngài dạy về định; ở chỗ này Ngài dạy về tuệ; chỗ này là đạo; chỗ này là quả.”

Anupabbajjā — “xuất gia theo sau bậc Thánh”

Là rời bỏ gia đình và xuất gia ngay dưới sự hướng dẫn của các bậc Thánh, do tâm đã trở nên thanh tịnh với các Ngài. Nếu xuất gia nơi khác nhưng luôn theo đuổi giáo huấn của bậc Thánh, vẫn gọi là anupabbajjā. Nhưng nếu xuất gia ở nơi khác do kính một người khác, và vẫn theo người khác ấy — thì không gọi là anupabbajjā.

Về số lượng người xuất gia theo bậc Thánh

– Dưới thời Tôn giả Mahākassapa, có 100.000 người theo hạnh anupabbajjā. – Tương tự là đệ tử của Ngài, Đại đức Candagutta; rồi đệ tử của Ngài Sūriyagutta; rồi đệ tử Assagutta; rồi đệ tử Yonaka-Dhammarakkhita. – Đệ tử của vị ấy là Đại đức Tissa, em trai vua Asoka; số người theo anupabbajjā của Ngài là rất đông đảo. – Đối với Ngài Mahinda Thera, số lượng ấy không thể đo lường.

Cho đến hiện nay, ở đảo Laṅkā, những người xuất gia với tâm kính Phật đều được gọi là theo pabbajjā của Mahinda Thera.

Taṃ dhammaṃ — “pháp ấy”

Nghĩa là giáo huấn của các bậc Thánh.

Anussarati: ghi nhớ.
Anuvitakketi: suy nghĩ lại.
Āraddho hoti: hưng khởi.
Các từ như pavicinati, pavicarati, parivīmaṃsamāpajjati đều được dùng theo nghĩa vận hành của tuệ.

Hoặc:
– pavicinati: xét tánh của các pháp,
– pavicarati: khiến trí vận hành trong pháp ấy,
– parivīmaṃsamāpajjati: thể nhập vào trạng thái quán sát, tìm hiểu.

Bảy quả, bảy lợi ích

Hai từ “satta phalā, sattānisaṃsā” đều đồng nghĩa.

Diṭṭheva dhamme paṭikacca aññaṃ ārādheti nghĩa là:
Vị ấy chứng quả A-la-hán ngay trong đời này, trước khi mạng chung.

Atha maraṇakāle nghĩa là:
Hoặc chứng ngay khi lâm chung.

Antarāparinibbāyī — “Trung Bang Niết Bàn”

Là vị chưa vượt qua nửa tuổi thọ mà chứng A-la-hán.

Có ba loại:

1.    Sanh vào cõi Aviha, chứng A-la-hán ngay trong ngày tái sinh.

2.    Nếu không, chứng sau 100 kiếp.

3.    Nếu không, chứng sau 400 kiếp.

Upahaccaparinibbāyī — “Sanh Bang Niết Bàn”

Vị chứng A-la-hán sau khi đã vượt nửa tuổi thọ của cõi ấy.

Sasaṅkhāraparinibbāyī — “Vô hành bang Niết Bàn”

Đạt A-la-hán với sự nỗ lực.

Asaṅkhāraparinibbāyī — “Hữu hành bang Niết Bàn”

Đạt A-la-hán không cần nỗ lực.


Uddhaṃsoto Akaniṭṭhagāmī “Tuần tự nhi tiến Sắc Cứu Cánh”

Trong số ấy, vị uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī vừa là lớn nhất (về thọ mạng),
lại vừa là nhỏ nhất (vì chứng quả A-la-hán sau cùng). Vì sao? Bởi vì vị ấy có thọ mạng 16.000 đại kiếp, nên về tuổi thọ thì lớn nhất trong tất cả; nhưng chứng A-la-hán sau cùng, nên nhỏ nhất.
Ở chỗ này cần phải nói đến bốn mươi tám vị Bất-Lai.
Vì trong cõi Avihā, có ba vị antarāparinibbāyī (diệt trong khoảng giữa), một vị upahaccaparinibbāyī (diệt khi vừa đến/giáp ranh), và một vị uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī (dòng xuôi lên, hướng đến cõi Akaniṭṭha) – như vậy là năm.

Trong số đó, năm vị là asaṅkhāra-parinibbāyī (đạt Niết-bàn không cần nỗ lực),
và năm vị là sasaṅkhāra-parinibbāyī (đạt Niết-bàn có nỗ lực), thành mười.
Cũng y như vậy trong cõi Atappā, Sudassī, v.v.

Nhưng trong cõi Akaniṭṭha thì không có hạng “uddhaṃsoto”.
Do vậy, tại đó có bốn vị sasaṅkhāra-parinibbāyī,
và bốn vị asaṅkhāra-parinibbāyī, thành tám.

“Ievaṃ aṭṭhacattālīsa honti.”
Như thế tổng cộng là bốn mươi tám.

Vị uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmī
Trong bài kinh này, các giác chi thuộc giai đoạn tuệ quán chuẩn bị (pubbabhāga-vipassanā)
của đạo A-la-hán được nói đến như:

  • chưa từng có trước,
  • không tiếp nối sau,
  • sinh khởi trong một sát-na tâm,
  • nhưng có những đặc tướng khác nhau.

 Tỳ khưu Giác Đẳng dịch và biên soạn giáo trình

 Bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu

I. Phẩm Núi

3.III. Giới (S.v,67)

1) ...

2) -- Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến, Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.

3) Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích.

4) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly : viễn ly về thân và viễn ly về tâm. Vị sống viễn ly như vậy thì sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.

5) Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn. Vị ấy trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát, thành tựu quán sát pháp ấy.

6) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập trạch pháp giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, trạch pháp giác chi đi đến viên mãn. Trong khi vị ấy với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động (asallinam) bắt đầu phát khởi nơi vị ấy.

7) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với trí tuệ quyết trạch, tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy, thời tinh tấn, không thụ động bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập tinh tấn giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, tinh tấn giác chi đi đến viên mãn. Với vị tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất (piti niràmisà) khởi lên.

8) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tinh cần, tinh tấn, hỷ không liên hệ đến vật chất khởi lên; trong khi ấy, hỷ giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập hỷ giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, hỷ giác chi đi đến viên mãn. Với vị có ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an.

9) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với ý hoan hỷ, thân được khinh an, tâm được khinh an; trong khi ấy, khinh an giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập khinh an giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, khinh an giác chi đi đến viên mãn. Với vị có thân khinh an, lạc hiện hữu. Với vị có lạc, tâm được định tĩnh.

10) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có thân khinh an, được an lạc, tâm được định tĩnh; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, định giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập định giác chi; trong khi ấy, định giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn. Vị ấy với tâm định tĩnh như vậy, khéo trú xả nhìn (sự vật) (sàdhukam ajjhupekkhità).

11) Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo với tâm định tĩnh, khéo trú xả nhìn (sự vật) như vậy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, xả giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập xả giác chi; trong khi ấy, xả giác chi nhờ tu tập, đi đến viên mãn.

12) Này các Tỷ-kheo, bảy giác chi được tu tập như vậy, được làm cho sung mãn như vậy, thời bảy quả, bảy lợi ích được chờ đợi. Thế nào là bảy quả, bảy lợi ích?

13) Ngay trong hiện tại, lập tức (patihacca) thành tựu được chánh trí; nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí, thời khi lâm chung, thành tựu được chánh trí.

14) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Trung gian Bát-niết-bàn (antaràparinibbàyi).

15) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu được chánh trí; nếu khi lâm chung, không thành tựu được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian bát Niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Tổn hại (upahacca) Bát-niết-bàn.

16) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không chứng được chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn, thời sau khi đoạn tận năm hạ phầm kiết sử, chứng được Vô hành Bát-niết-bàn (asankhàraparinibbàyi)

17) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt được năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-hàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn.

18) Nếu ngay trong hiện tại, lập tức không thành tựu chánh trí; nếu khi lâm chung, không chứng được chánh trí; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Trung gian Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, không chứng được Tổn hại bát Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Vô hành Bát-niết-bàn; nếu sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, không chứng được Hữu hành Bát-niết-bàn; thời sau khi đoạn tận năm hạ phần kiết sử, vị ấy là bậc thượng lưu (uddhamsoto), đạt được Sắc cứu cánh thiên.

19) Này các Tỷ-kheo, do tu tập bảy giác chi như vậy, do làm cho sung mãn như vậy nên được chờ đợi bảy quả này, bảy lợi ích này.

ooOoo