|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Ba, ngày 05 tháng 10, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,46)
Bài 1. Kinh Kassapa - Ca diếp
(Pathamakassapasuttaṃ)
- BÍ QUYẾT CỦA HÀNH GIẢ.
Tu tập là
công phu. Tuy vậy không phải chỉ ra sức dốc lòng là được.
Những thành tựu lớn trong cuộc sống luôn có những bí quyết
mà một người hướng cầu giác ngộ
giải thoát cần có. Bốn phương châm mà người tu tập
bản thân nên có là: học từ những gì được khéo nói vì nhờ
nghe điều hay mà biết cái tốt; biết hầu hạ bậc cao đức để
hấp thụ được tinh tuý như câu đãi lão khất ngôn; biết giá
trị và sự cần thiết của độc cư để tôi luyện bản thân; và sau
hết là thấy được ý
thức được rằng dù bất cứ tình huống nào thì tâm thái rỗng
rang thanh tịnh vẫn là cứ điểm cần nắm giữ.
Evaṃ me sutaṃ
1) Như vầy tôi nghe.
ekaṃ samayaṃ bhagavā sāvatthiyaṃ viharati jetavane
anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho kassapo devaputto
abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ
obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; Ekamantaṃ ṭhito kho
kassapo devaputto bhagavantaṃ etadavoca –
Một thời Thế
Tôn ở Sāvatthī (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông
Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Rồi Thiên tử Kassapa (Ca-diếp),
sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng
toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế
Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Kassapa bạch
Thế Tôn:
‘‘bhikkhuṃ bhagavā pakāsesi, no ca bhikkhuno
anusāsa’’nti.
-- Thế Tôn đề cao Tỷ-kheo và sự giáo giới vị Tỷ kheo cho chúng
con.
‘‘Tena hi kassapa, taññevettha paṭibhātū’’ti.
2) -- Vậy này Kassapa, hãy nói lên ở đây về vấn đề ấy.
3) (Kassapa):
‘‘Subhāsitassa sikkhetha, samaṇūpāsanassa ca;
Hãy học điều khéo nói,
Bản hiệu đính:
Hãy học lời khéo nói
Idamavoca kassapo devaputto; samanuñño satthā ahosi. Atha
kho kassapo devaputto ‘‘samanuñño me satthā’’ti bhagavantaṃ
abhivādetvā padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyīti.
4) Thiên tử
Kassapa nói như vậy. Bậc Ðạo Sư chấp nhận. Rồi Thiên tử
Kassapa, sau khi được biết: "Bậc Ðạo Sư đã chấp nhận ta",
đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi biến mất từ
chỗ ấy.
Devaputta = thiên tử (xem thích nghĩa)
Devaputta dịch là thiên tử không có nghĩa là “con của trời”
hay hoàng đế trong nghĩa bình thường cũng không có nghĩa là
con do chư thiên sanh vì chư thiên là loài hoá sanh. Theo Sớ
giải thì có hai nghĩa là một vị thiên sanh “trên bắp vế của
một vị thiên” thì xem như là con của vị thiên đó. Cũng có
nghĩa là vị thiên trẻ. Thiên tử Kassapa là một trong nhiều vị thiên được nghe pháp
khi Đức Thế Tôn giảng Thắng Pháp Abhidhamma tại cung trời
Đao Lợi trong hạ thứ bảy. Vị nầy được nghe nhưng chưa nghe
trọn lời dạy của Đức Phật về sự tu tập của một bhikkhu. Chữ
bhikkhu ở đây mang ý nghĩa của một hành giả giống như trong
Kinh Niệm Xứ. Chữ sikkhetha – hãy tu tập - được áp dụng cho cả bốn phương
châm chứ không phải chỉ câu đầu tiên (Taññev’ettha
patiḅhātu) Theo Sớ giải “lời khéo nói” chỉ cho tứ diệu đế và đề tài lợi
lạc cả văn huệ, tư huệ và tu huệ. Chữ samaṇūpāsana có nghĩa là hầu hạ bậc chân tu thạc đức mà
cũng có nghĩa là thực hành dưới sự hướng dẫn của một người
có thực tu. Chữ cittūpasama – tâm an tĩnh – cũng chỉ cho sự phát triển
tâm theo thiền định. @@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |