BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Bảy, ngày 09 tháng 10, 2021

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,49)

 

Bài 3. Kinh Māgha (Māghasuttaṃ)

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,47)

Nội dung giống như kinh:

SÁT HẠI GÌ ĐƯỢC BẬC THÁNH TÁN ĐỒNG?

Kinh Đoạn Sát (Chetvāsuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM GIÀ (S.i,41)

@@@@@@@@@@@@

Bài 4. Kinh Māgadha (Māgadhasuttaṃ)

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,48)

Nội dung giống như kinh:

VÔ LƯỢNG QUANG

Kinh Ánh Sáng (Pajjotasuttaṃ)

CHƯƠNG I. TƯƠNG ƯNG CHƯ THIÊN, PHẨM KIẾM (S.i,15)

@@@@@@@@@@@

 

Bài 5. Kinh Dāmali (Dāmalisuttaṃ) - BẬC KHÔNG CẦN NỖ LỰC.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Có những giá trị người đời nghĩ là tuyệt đối nhưng kỳ thật nằm trong đối đãi. Thuốc chỉ có giá trị để trị bệnh nếu không có bệnh thì không thể nói thuốc hay hoặc dở. Sự tinh cần nỗ lực đúng là vô cùng cần thiết với người tu tập nhưng với bậc đã viên mãn giải thoát thì sự nhấn mạnh tinh cần là không đúng chỗ. Chúng sanh thường đưa ra luận điểm nhưng không trong thế giới tương đối nầy phải hỏi rõ là nói ở phưong diện nào.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthinidānaṃ.

1) Tại Sāvatthī.

Atha kho dāmali devaputto abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho dāmali devaputto bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

2) Thiên tử Dāmali, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Dāmali nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:

3) ‘‘Karaṇīyametaṃ brāhmaṇena, padhānaṃ akilāsunā;
Kāmānaṃ vippahānena, na tenāsīsate bhava’’nti.

Ở đây, Bà-la-môn,
Tinh cần, không biếng nhác,
Ðoạn trừ các dục vọng,
Nhờ vậy không tái sanh.

4) Thế Tôn bèn trả lời:

‘‘Natthi kiccaṃ brāhmaṇassa (dāmalīti bhagavā),
Katakicco hi brāhmaṇo.

‘‘Yāva na gādhaṃ labhati nadīsu,
Āyūhati sabbagattebhi jantu;
Gādhañca laddhāna thale ṭhito yo,

Nāyūhatī pāragato hi sova [soti (sī. pī. ka.), hoti (syā. kaṃ.), so (?)].

‘‘Esūpamā dāmali brāhmaṇassa,
Khīṇāsavassa nipakassa jhāyino;
Pappuyya jātimaraṇassa antaṃ,
Nāyūhatī pāragato hi so’’ti
[hotīti (syā. kaṃ.)].

Ôi này Dāmali,
Với vị Bà-la-môn,
Không còn gì phải làm,
Việc phải làm đã làm,
Chính là Bà-la-môn.
Chúng sanh đủ tay chân,
Không tìm được chân đứng,
Trôi giạt và chìm nổi,
Trong biển rộng, sông dài.
Tìm được chỗ chân đứng,
Khô ráo vị ấy đứng,
Ðã đến bờ bên kia,
Vị ấy không trôi giạt.
Vậy này Dàmali,
Ví dụ ấy là vậy.
Cũng vậy Bà-la-môn,
Ðoạn trừ các lậu hoặc,
Sáng suốt và kín đáo,
Tinh tấn tu Thiền định.
Vị ấy đã đạt được,
Tận cùng đường sanh tử,
Ðã đến bờ bên kia,
Nên không còn trôi giạt.

Bản hiệu đính:

[Thiên tử]

Điều Phạm chí nên làm
Là nỗ lực không ngừng
Các dục vọng không còn
Chẳng mong cầu sanh hữu

[Đức Thế Tôn]

Hỡi này Dāmali
Đối với bậc Phạm chí
Không còn việc phải làm
Giữa dòng đời trôi dạt
Ví như người giữa sông
Không chạm đáy để đứng
Với chân tay vẫy vùng
Khi đã lên bờ rồi
Có cần chi bơi lội
Giống như ví dụ nầy
Hỡi này Dāmali
Bậc Phạm chí vô nhiễm
Bậc minh trí thiền tịnh
Đã đoạn tận tử sinh
Không cần ra sức nữa
Vì đã đến bờ kia

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Karaṇīyametaṁ brāhmaṇena = Đây là điều bậc Phạm chí cần làm
Padhānaṁ akilāsunā = nỗ lực không ngừng nghi
Kāmānaṁ vippahānena = đoạn tận các dục vọng
Na tenāsīsate bhavan”ti = Không mong cầu sanh hữu
Natthi kiccaṁ brāhmaṇassa = Bậc Phạm chí không có việc phải làm
(dāmalīti bhagavā) = (Đức Thế Tôn nói với Dāmali)
Katakicco hi brāhmaṇo = Phạm chí đã làm việc cần làm
Yāva na gādhaṁ labhati nadīsu = với người đang giữa dòng sông chân chưa chạm đáy.
Āyūhati sabbagattebhi jantu = phải vùng vẫy với tất cả tay chân
Gādhañca laddhāna thale ṭhito yo = Nhưng với một người đã chạm đáy và đứng trên đất khô
Nāyūhatī pāragato hi sova = không cần phải nỗ lực vì đã đến bờ kia.
Esūpamā dāmali brāhmaṇassa = Hỡi Dāmali đây là dụ ngôn về Phạm chí
Khīṇāsavassa nipakassa jhāyino = Bậc thiền tịnh minh trí lậu tận
Pappuyya jātimaraṇassa antaṁ = Vì đã đạt đến sự chấm dứt sanh tử
Nāyūhatī pāragato hi so”ti = Nên không cần nỗ lực vì đã đến bờ

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ giải chữ Phạm chí – Brahmana - ở đây chỉ cho bậc Ứng cúng la hán. Vị thiên tử nầy chấp kiến sai lạc rằng ngay cả một bậc hoàn toàn giải thoát cũng cần phải tiếp tục nỗ lực. Đức Thế Tôn trả lời phủ bác cái nhìn đó vì A la hán là “bậc đã làm những gì cần làm.

Cũng theo Sớ giải đây là trường hợp cá biệt (asaṅkinṇạ̄) duy nhất trong kinh điển mà Đức Phật không tán thán sự nỗ lực khi đề cập như việc cần làm của chư vị A la hán.


@@@

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng

-ooOoo-