|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Chủ Nhật, ngày 10 tháng 10, 2021 MÔN HỌC THẮNG PHÁP ABHIDHAMMABài 28. Lộ ý môn thời cận tử (Maraṇāsannavīthi) Lộ ý môn diễn ra lần cuối của kiếp sống trước khi chết, gọi là lộ ý môn thời cận tử. Phàm nhân và thánh hữu học có thể chết bằng lộ ngũ môn, gọi là lộ ngũ môn cận tử (pañcadvāramaraṇāsannavīthi), có thể chết bằng lộ ý môn, gọi là lộ ý môn cận tử (manodvāramaraṇāsannavīthi), Bậc A la hán thì luôn luôn tử bằng lộ ý môn; Lộ ý môn cận tử của bậc A la hán gọi là lộ ý môn viên tịch để phân biệt với lộ ý môn cận tử của phàm nhân và thánh hữu học.; Lộ ý cận tử thì có tâm tái tục tiếp nối, còn lộ viên tịch thì chấm dứt tái sanh.
Lộ ý môn cận tử có 3 trường hợp:
1. Lộ cận tử của phàm nhân và thánh hữu học b. Chót mót cảnh, xen hữu phần rồi tử c. Chót đổng lực, liền tử d. Chót đổng lực, xen hữu phần rồi tử
Diễn trình bốn lộ ý cận tử nầy như sau:
1a. Lộ ý cận tử chót mót cảnh, liền tử
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Mót cảnh (2)
--> Tâm tử (1)
--> Tâm tái tục kiếp sống
mới.
1b. Lộ ý cận tử chót mót cảnh, xen hữu phần rồi tử
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Mót cảnh (2)
--> Hữu phần (1…)
--> Tâm tử (1)
--> Tâm tái tục kiếp sống
mới.
1c. Lộ ý cận tử chót đổng lực, liền tử
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Tâm tử (1)
--> Tâm tái tục kiếp sống
mới.
1d. Lộ ý môn cận tử chót đổng lực, xen hữu phần phần
rồi tử
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Tâm tử (1)
--> Hữu phần (1…)
--> Tâm tử (1)
Tâm tái tục kiếp sống mới.
Nhận xét:
Hai lộ ý cận tử chót mót
cảnh (1a và 1b) có 8 chập tâm là 1 sát na khai ý môn, 5 sát
na đổng lực, 2 sát na mót cảnh _ có 3 chặng là chặng khai
môn, chẳng đổng lực và chặn mót cảnh _ có 32 thứ tâm là 1
tâm khai ý môn, 12 đổng lực bất thiện, 8 đổng lực đại thiện,
11 tâm mót cảnh.
Hai lộ ý cận tử chót đổng
lực (1c và 1d) có 6 chập tâm vì không có 2 sát na mót cảnh)
_ có 2 chặng là chặng khai môn và chặng đổng lực _ Có 21 thứ
tâm là 1 tâm khai ý môn, 12 đổng lực bất thiện, 8 đổng lực
đại thiện.
2. Lộ viên tịch thông thường của bậc A la hán có 4 cách:
a)
Chót mót cảnh, liền viên
tịch
b)
Chót mót cảnh, xen hữu phần rồi viên tịch
c)
Chót đổng lực, liền viên
tịch
d)
Chót đổng lực, xen hữu phần rồi viên tịch
Diễn trình bốn lộ viên tịch nầy như sau:
2a. Lộ viên tịch chót mót cảnh, liền viên tịch
·
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Mót cảnh (2…)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
2b. Lộ viên tịch chót mót cảnh, xen hữu phần rồi
viên tịch
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Mót cảnh (2)
--> Hữu phần (1…)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
2c. Lộ viên tịch chót đổng lực, liền viên tịch
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
2d. Lộ viên tịch chót đổng lực, xen hữu phần rồi
viên tịch
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Hữu phần (1…)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
Nhận xét:
Hai lộ viên tịch chót mót
cảnh (2a và 2b) có 8 chập tâm là 1 sát na khai ý môn, 5 sát
na đổng lực, 2 sát na mót cảnh _ có 3 chặng là chặng khai
môn, chặng đổng lực và chặng mót cảnh _ có 21 thứ tâm là 1
tâm khai ý môn, 9 tâm đổng lực tố dục giới, 11 tâm mót cảnh.
Hai lộ viên tịch chót
đổng lực (2c và 2d) có 6 chập tâm vì không có 2 sát na mót
cảnh _ có 2 chặng là chặng khai môn và chặng đổng lực _ có
10 thứ tâm là 1 tâm khai ý môn và 9 tâm đổng lực tố dục
giới.
3. Lộ viên tịch đặc biệt của bậc A lan hán có 4
cách:
a. Lộ viên tịch liên thiền (jhānasamanantaravīthi)
Diễn trình như sau: · --> Hữu phần rung động (1) --> Hữu phần dứt dòng (1) --> Khai ý môn (1) --> Chuẩn bị (1) --> Cận hành (1) --> Thuận thứ (1) --> Chuyển tộc (1) -->Tâm thiền sanh vô số sát na… --> Tâm tử, vô dư níp bàn.
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Chuẩn bị (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Chuyển tộc (1)
--> Tâm thiền sanh vô số sát
na… Hữu phần (1)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Chuyển tộc (1) Tâm thiền
sanh vô số sát na…
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Chuyển tộc (1)
--> Tâm thiền sanh vô số sát
na…
--> Hữu phần (1)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
Nhận xét:
Bậc thánh vô sanh khi gần
viên tịch níp bàn, có trường hợp Ngài nhập thiền trước để an
tịnh hoặc để chế ngự thân khổ thọ. Gọi trường hợp nầy là Lộ
viên tịch liên thiền (jhānasamanantaravīthi).
Lộ viên tịch liên thiền diễn ra với hạng trì căn thì có sát na chuẩn bị; với
hạng lợi căn thì không có sát na chuẩn bị.
Lại nữa, lộ sát na chuẩn
bị có hai hình thức là xuất thiền, liền viên tịch; xuất
thiền xen hữu phần mới viên tịch; Lộ không có sát na chuẩn
bị củng có hai hình thức: xuất thiền, liền viên tịch và xuất
thiền xen hữu phần mới viên tịch.
Lộ viên tịch liên thiền
không biết số chập tâm sanh vì là nhập thiền có vô số sát na
tâm thiền _ có 2 chặng là chặng khai môn và chặng đổng lực
(gồm đổng lực dục giới và đổng lực kiên cố) _ có 14 thứ tâm
là 1 tâm khai ý môn (chặng khai môn), 1 trong 4 tâm đại tố
(chặng đổng lực dục giới), 1 trong 9 tâm thiền tố đáo đại
(chặng đổng lực kiên cố).
3b. Lộ viên tịch phản khán chi thiền (paccavekkhaṇasamanantaravīthi), diễn trình gồm ba giai đoạn, giai đoạn 1 nhập thiền, giai đoạn 2 phản khán
chi thiền, giai đoạn 3 cận tử.
Diễn trình như sau:
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Chuẩn bị (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Chuyển tộc (1)
--> Tâm thiền sanh vô số sát
na…
--> Hữu phần (4)
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực phản khán (7)
--> Hữu phần (4)
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực cận tử (5)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
Nhận xét:
Gọi là lộ viên tịch phản
khán chi thiền vì trước khi sanh lộ cận viên tịch có lộ phản
khán chi thiền sau khi nhập thiền. Lấy lộ phản khán chi
thiền mà gọi tên cho trường hợp viên tịch nầy.
Giai đoạn 1 là lộ nhập
thiền tố. Số chập, số chặng, số thứ tâm, nên hiểu giống như
lộ nhập thiền tố bình nhật vậy. Có hoặc không có sát na
chuẩn bị.
Giai đoạn 2 là lộ phản
khán chi thiền. Có 8 chập tâm là 1 sát na khai môn, 7 sát na
đổng lực. Có 2 chặng là khai môn và đổng lực. Có 5 thứ tâm
là 1 tâm khai ý môn và 4 tâm đại tố hợp trí.
Giai đoạn 3 là lộ cận
viên tịch. Có 6 chập tâm là sát na khai môn và 5 sát na đổng
lực, có 2 chặng là khai môn và đổng lực. Có 9 thứ tâm là 1
tâm khai ý môn và 8 tâm đại tố. Dứt đổng lực liền viên tịch,
hay dứt đổng lực xen hữu phần mới viên tịch.
Lộ viên tịch phản khán
chi thiền và lộ viên tịch liên thiền (3a) khác nhau ở điểm:
Lộ viên tịch liên thiền là nhập thiền xuất thiền rồi viên
tịch; còn lộ viên tịch phản khán là cũng nhập thiền nhưng
sau khi xuất thiền còn xét lại chi thiền và sanh lộ ý cận tử
mới níp bàn.
3c. Lộ viên tịch liên thông (abhiññāsamanantaravīthi), diễn trình gồm hai giai đoạn , giai đoạn 1 nhập thiền cơ (pādakajhāna), giai đoạn 2 hiện thông rồi viên tịch.
Diễn trình như sau:
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Chuẩn bị (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Chuyển tộc (1)
--> Tâm ngũ thiền sắc giới
sanh vô số sát na…
--> Hữu phần (4)
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Chuẩn bị (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
-->
Chuyển tộc (1)
--> Tâm thông tố (1)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
Nhận xét:
Trên đây chỉ đơn cử một
diễn trình lộ viên tịch liên thông.
Vị A la hán sắp níp bàn
nếu có duyên cớ như bậc Đạo Sư bảo thi triển thần thông,
hoặc vị ấy muốn cảm hoá quần chúng, hoặc tiếp độ quyến
thuộc, hoặc muốn tự giải quyết nhục thể …v.v… thì vị
ấy hiện thông rồi viên tịch. Đây gọi là viên tịch hiện
thông.
Thông (abhiññā) là năng lực siêu nhiên của định ngũ thiền sắc giới tu chứng với đề mục biến xứ
(kasiṇa), vì thế, muốn hiện thông
là phải nhập ngũ thiền trước, gọi là nhập thiền cơ. Tất
nhiên thiền cơ trong trường hợp vị A la hán viên tịch hiện
thông là ngũ thiền tố sắc giới.
Xuất thiền cơ, vị ấy khởi
ước nguyện thực hiện điều gì rồi lộ hiện thông khởi lên. Nếu
là vị trì căn thì có sát na chuẩn bị, nếu là vị lợi căn thì
không có sát na chuẩn bị giữa khai ý môn và cận hành. Sau
khi kết thúc tâm thông liền khỏi lên tâm tử, vô dư níp bàn
hoặc kết thúc tâm thông, có xen Hữu phần rồi mới khởi lên
tâm tử vô dư níp bàn.
Giai đoạn nhập thiền cơ
có vô số chập tâm là vì tâm thiền sanh liên tục vô số sát
na. Có hai chặng là chặng khai môn và chặng đổng lực (gồm
đổng lực dục giới và đổng lực kiên cố). Có 3 thứ tâm là 1
tâm khai ý môn, 2 tâm đại tố thọ xả hợp trí, 1 tâm tố sắc
giới ngũ thiền.
Giai đoạn hiện thông có 6
hoặc 5 chập tâm là sát na khai ý môn, sát na chuẩn bị (hoặc
không có), sát na cận hành, sát na thuận thứ, sát na chuyển
tộc và sát na tâm thông tố. Có hai chặng là chặng khai môn
và chặng đổng lực (gồm đổng lực dục giới và đổng lực kiên
cố). Có 3 thứ tâm là 1 tâm khai ý môn, 2 tâm đại tố thọ xả
hợp trí, 1 tâm thông tố.
3d. Lộ viên tịch đắc đạo tột mạng
(jīvitasamasīsīvīthi) diễn trình ba giai đoạn, giai đoạn 1 đắc đạo quả, giai đoạn 2 phản khán đạo
quả, giai đoạn 3 cận viên tịch.
Diễn trình như sau:
·
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Chuẩn bị (1)
--> Cận hành (1)
--> Thuận thứ (1)
--> Khiết hoá (1)
--> Tứ đạo (1)
--> Tứ quả (2)
--> Hữu phần (4)
-->
Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (7)
--> Hữu phần (4)
--> Hữu phần rung động (1)
--> Hữu phần dứt dòng (1)
--> Khai ý môn (1)
--> Đổng lực (5)
--> Tâm tử, vô dư níp bàn.
Nhận xét:
Một người bị mệnh chung
do già bệnh tự nhiên, hay do kẻ khác giết hại, hoặc do tự
sát, người ấy trước khi chết chứng đắc đạo quả A la hán rồi
níp bàn, trường hợp viên tịch kiểu đó gọi là viên tịch đắc
đạo tột mạng. Cụm từ “đắc đạo tột mạng” trong tiếng pāli
“jīvitasamasīsī” nghĩa là cùng lúc kết liễu mạng sống.
Nếu là phàm tam nhân đắc đạo tột mạng thì giai đoạn
đắc đạo sẽ liên tục sanh bốn lộ đắc đạo (lộ đắc sơ đạo, lộ
đắc nhị đạo, lộ đắc tam đạo, lộ đắc tứ đạo) rồi viên tịch.
Nếu là vị thánh Dự lưu
đắc đạo tột mạng thì giai đoạn đắc đạo sẽ liên tục sanh khởi
ba lộ đắc đạo cao (lộ đắc nhị đạo, lộ đắc tam đạo, lộ đắc tứ
đạo) rồi viên tịch.
Nếu là vị thánh Nhất lai
đắc đạo tột mạng thì giai đoạn đắc đạo sẽ liên tục sanh khởi
hai lộ đắc đạo cao (lộ đắc tam đạo, lộ đắc tứ đạo) rồi viên
tịch.
Nếu là vị thánh Bất lai
đắc đạo tột mạng thì giai đoạn đắc đạo sẽ sanh khởi lộ đắc
tứ đạo, tứ quả, rồi níp bàn.
Lộ tâm giai đoạn đắc đạo
quả thì chặng đổng lực dục giới vẫn luôn là tâm đại thiện
hợp trí.
Lộ tâm giai đoạn phản
khán đạo quả, níp bàn … sau cùng trước khi chết thì chặng
đổng lực dục giới là tâm đại tố hợp trí.
Và, lộ tâm giai đoạn cận
viên tịch thì đổng lực dục giới là tâm đại tố, một trong
tám.
Dứt phần:
Toát Yếu Lộ Trình Tâm
Bài học tiếp theo:
Phụ chú tâm lộ đổng
lực và mót cảnh
Biên soạn
giáo trình: Tỳ kheo Tuệ Siêu
KHÔNG VUI NHƯNG NÊN HỌC
Sau Khi Viên Tịch Đức Phật Bây Giờ Ra Sao?
Khi học về diễn trình tâm viên tịch niết bàn, một số
lớn các vị giảng sư và người học Thắng Pháp Abhidhamma
thường kết luận viên tịch niết bàn là sự chấm dứt hoàn toàn
sự hiện hữu của danh sắc – và từ điểm nầy đưa đến kết luận –
viên tịch niết bàn là không còn gì.
Đây là điểm rất tế nhị trong Phật học và tạo nên sự
phân hoá lớn giữa các tông phái Phật giáo.
Ba điểm cần thảo luận liên hệ tới đề tài nầy”
1.
Nếu Niết bàn chỉ đơn thuần là sự chấm dứt của pháp
hữu vi thì niết bàn có thể chăng để niết bàn được liệt kê là
một trong bốn pháp chân đế?
2.
Nếu Niết bàn là “không còn gì cả” thì có nên xem là
cứu cánh của sự tu tập? Nhưng nếu còn thì còn gì?
3.
Niết Niết bàn là “không còn gì cả” thì có đi quá xa
chăng khi chính Đức Phật cũng không trả lời câu ““Như Lai có
tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau khi
chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết.
Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi
chết”.
Thử đọc bài kinh sau trong Tương Ưng Bộ để làm tiền
đề thảo luận vấn đề nêu trên:
44.2. Anuràdha.
Chương 44: Tương Ưng Không Thuyết
Kinh Tương Ưng Bộ, Bản dịch của HT Thích Minh Châu
Một thời Thế Tôn trú ở Vesālī, tại Ðại Lâm,
ở Trùng Các giảng đường.
Lúc bấy giờ Tôn giả Anuràdha đang ở một ngôi
chòi trong rừng không xa Thế Tôn bao nhiêu.
Rồi rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến Tôn giả
Anuràdha; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Anuràdha những
lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
Ngồi một bên, các ngoại đạo du sĩ ấy thưa
với Tôn giả Anuràdha:
—Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc
Thượng Nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa
vị tối thượng. Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn
trường hợp: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai
không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết”.
—Thưa chư Hiền, Như Lai ấy là bậc Thượng
nhân, bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối
thượng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường hợp
sau đây: “Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không
có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn
tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không
tồn tại sau khi chết”.
Khi được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo
ấy nói với Tôn giả Anuràdha:
—Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất gia không
bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là ngu si,
không có thông minh.
Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau khi chê trách
(apasàdetvà) Tôn giả Anuràdha là người mới tu và ngu si,
liền từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
Rồi Tôn giả Anuràdha, sau khi các du sĩ
ngoại đạo ấy ra đi không bao lâu, liền suy nghĩ: “Nếu các du
sĩ ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như
thế nào để câu ta trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy là đúng
với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế tôn với điều
không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp, và những ai
nói lời tương ứng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.
Rồi Tôn giả Anuràdha đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Anuràdha bạch
Thế Tôn:
—Ở đây, bạch Thế Tôn, con trú trong một ngôi
chòi trong rừng, không xa Thế Tôn bao nhiêu. Rồi, bạch Thế
Tôn, rất nhiều du sĩ ngoại đạo đi đến con, sau khi đến, nói
lên với con những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, các du sĩ ngoại đạo ấy nói
với con: “Này Hiền giả Anuràdha, Như Lai là bậc Thượng nhân,
là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng.
Bậc Như Lai ấy đã được trình bày dưới bốn trường hợp: ‘Như
Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại sau
khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi
chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau
khi chết’”. Bạch Thế Tôn, khi được nói vậy, con nói với các
du sĩ ngoại đạo ấy như sau: “Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc
Thượng nhân, là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa
vị tối thắng. Bậc Như Lai ấy được trình bày ngoài bốn trường
hợp như sau: ‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai
không tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết” ”. Khi được nói vậy, các du sĩ
ngoại đạo ấy nói với con: “Tỷ-kheo này có lẽ là mới tu, xuất
gia chưa bao lâu. Hay nếu là vị trưởng lão, thời vị này là
ngu si, không có thông minh”. Các du sĩ ngoại đạo ấy, sau
khi chê trách con là người mới tu và ngu si, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy và ra đi.
Bạch Thế Tôn, khi các vị du sĩ ngoại đạo ấy
đi không bao lâu con suy nghĩ như sau: “Nếu các vị du sĩ
ngoại đạo ấy hỏi ta thêm câu hỏi nữa, ta phải trả lời như
thế nào để câu trả lời của ta cho các du sĩ ngoại đạo ấy là
đúng với lời Thế Tôn, ta không có xuyên tạc Thế Tôn với điều
không thật. Ta trả lời đúng pháp, thuận pháp và những ai nói
lời tương ưng đúng pháp, không có cơ hội để chỉ trích”.
—Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, sắc là
thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại,
có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái
này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Thọ là thường hay vô thường?. Tưởng là
thường hay vô thường? … Các hành là thường hay vô thường?.
Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại,
có hợp lý chăng khi quán cái ấy: “Cái này là của tôi. Cái
này là tôi. Cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Do vậy, này Anuràdha, phàm có sắc gì quá
khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế,
hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả sắc cần phải
như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải
của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự
ngã của tôi”. Phàm có thọ gì, quá khứ, vị lai, hiện tại …
Phàm có tưởng gì … Phàm có các hành gì … Phàm có thức gì quá
khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế,
hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức cần phải
như thật quán với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải
của tôi. Cái này không phải là tôi. Cái này không phải tự
ngã của tôi”.
Thấy vậy, này Anuràdha, vị Ða văn Thánh đệ
tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán
đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với
thức. Do nhàm chán nên vị ấy ly tham. Do ly tham nên vị ấy
được giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết
rằng: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa”.
Ông nghĩ thế nào, này Anuràdha, Ông có quán sắc là Như Lai không?
“Thưa chư Hiền, Như Lai là bậc Thượng nhân,
là bậc Tối thắng nhân, là bậc đã đạt được địa vị tối thượng.
Bậc Như Lai ấy được biết đến ngoài bốn trường hợp sau đây:
‘Như Lai có tồn tại sau khi chết. Hay Như Lai không có tồn
tại sau khi chết. Hay Như Lai có tồn tại và không tồn tại
sau khi chết. Hay Như Lai không tồn tại và không không tồn
tại sau khi chết” ”.
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
—Lành thay, lành thay! Này Anuràdha. Trước
đây và hiện nay, này Anuràdha, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự
diệt khổ. Biên soạn: Tỳ kheo Giác Đẳng I. Giới thiệu về tính năng mới của Room Level DELUXE - Hi-Fi Audio & Multichannel (Up to 3 Speakers at once)
-
Hi-Fi là
từ viết tắt của “high fidelity”, có nghĩa là độ chân
thực cao. Khi nói “âm thanh Hi-Fi” tức
là âm thanh có độ chân thực cao, sống động, không bị méo âm
hoặc bị lẫn tạp âm và gần như không có gì khác so với âm
thanh gốc.
-
Multichannel (cho phép người dùng có thể kết nối nhiều kênh âm thanh
cùng lúc ‘Room Level DELUXE cho phép sử dụng 3 kênh âm
thanh cùng lúc’
Minh hoạ về Multichannel
II.Quy tắc chung khi sử dụng Multichannel:
-
TT Giác Đẳng
với vai trò điều hợp sẽ bật micro để điều hợp thảo luận và TT Tuệ Siêu – TT
Tuệ Quyền – TT Pháp Tân – TT Pháp Đăng – Sư Nguyên Thông sẽ
đảm trách vai trò là người trả lời và chư vị khi được thỉnh
mời thì trực tiếp bật micro để người điều hợp biết là mình
có thể tham gia mà không cần phải gửi text trên Room. Khi
câu thảo luận được nêu ra hoàn tất thì chư vị có thể bắt đầu
trả lời luôn mà không cần phải chờ đợi như trước.
(Những ngày qua TT Tuệ Siêu đã sử dụng rất quen thuộc
tính năng nầy).
-
Các MC có
thể cầm micro liên tục khi dẫn chương trình cho đến khi đọc
nội dung bài học mà không cần phải tắt micro.
-
Ví dụ: TT
Tuệ Siêu là vị dẫn nhập cho chương trình mỗi ngày và với
Multichannel thì khi nghe lời thỉnh mời TT Tuệ Siêu sẽ chủ
động bật micro mà không cần chờ MC
‘hỏi Ngài có nghe âm thanh rõ không
or phải cho biết tín hiệu’.
-
Các MC là
“admin @ (A)” hoan hỷ lưu ý vì có thể cầm 3 micro cùng lúc
nên phải để ý những người tham gia nếu thấy có tín hiệu cầm
micro thì dùng chức năng (hạn chế
or bỏ qua thành viên). |