BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Ba, ngày 12 tháng 10, 2021

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,49)

Bài 6. Kinh Kāmada (Kāmadasuttaṃ) - ĐƯỜNG ĐI KHÓ KHÔNG KHÓ VÌ NGĂN SÔNG CÁCH NÚI.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Tu tập là một hành trình. Cái khó hay dễ thường tuỳ thuộc rất nhiều yếu tố. Biết sống an lạc trong cuộc tu là một kỹ năng quan trọng. Cần nắm rõ phương pháp và trọng điểm. Tâm an định là mấu chốt không thể không biết. Muốn tâm an định thì các căn phải an tịnh. Nói cách khác là các căn không bị chi phối bởi trần cảnh. Máy sạch thì chạy tốt. Biết hoan hỷ với tâm ý an tịnh, các căn an tịnh là một bí quyết mà người tu nên có. Phàm phu thường vấp ngã bỏ cuộc vì không thấy được trọng điểm và làm đúng phương pháp. Một khi nắm được căn bản của vấn đề thì chuyện khó hoá dễ.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ ṭhito kho kāmado devaputto bhagavantaṃ etadavoca –

1) Tại Sāvatthī. Ðứng một bên, Thiên tử Kāmada bạch Thế Tôn:

2) (Kāmada:)

‘‘dukkaraṃ bhagavā, sudukkaraṃ bhagavā’’ti.

- Khó làm, bạch Thế Tôn,
Thế Tôn, thật khó làm.

(Thế Tôn:)

‘‘Dukkaraṃ vāpi karonti (kāmadāti bhagavā),
Sekhā sīlasamāhitā;
Ṭhitattā anagāriyupetassa,
Tuṭṭhi hoti sukhāvahā’’ti.

- Tuy vậy, Kāmada,
Họ làm việc khó làm,
Chính các vị hữu học,
Kiên trì tu giới định,
Ðã chọn đời xuất gia,
Biết đủ, đem an lạc .

3)(Kāmada:)

‘‘Dullabhā bhagavā yadidaṃ tuṭṭhī’’ti.

Biết đủ, bạch Thế Tôn,
Biết đủ, thật khó được
!

(Thế Tôn:)

‘‘Dullabhaṃ vāpi labhantntti (kāmadāti bhagavā),
Cittavūpasame ratā;
Yesaṃ divā ca ratto ca,
Bhāvanāya rato mano’’ti.

- Tuy vậy, Kāmada,
Họ được điều khó được.
Những vị lòng ưa thích,
Tâm tư được điều tịnh,
Cả ngày và cả đêm,
Ý an lạc tu tập

4) (Kāmada:)

‘‘Dussamādahaṃ bhagavā yadidaṃ citta’’nti.

Khó tịnh, bạch Thế Tôn,
Tâm ấy, thật khó tịnh.

(Thế Tôn:)

‘‘Dussamādahaṃ vāpi samādahantntti (kāmadāti bhagavā),
Indriyūpasame ratā;
Te chetvā maccuno jālaṃ,
Ariyā gacchanti kāmadā’’ti.

- Tuy vậy, Kāmada,
Họ tịnh tâm khó tịnh.
Những vị lòng ưa thích,
Các căn được tịch tịnh,
Cắt đứt lưỡi tử thần,
Bậc Hiền Thánh đi tới.

5) (Kāmada:)

‘‘Duggamo bhagavā visamo maggo’’ti.

-   Khó đi, bạch Thế Tôn,
Con đường thật lồi lõm.

(Thế Tôn:)

‘‘Duggame visame vāpi, ariyā gacchanti kāmada;
Anariyā visame magge, papatanti avaṃsirā;
Ariyānaṃ samo maggo, ariyā hi visame samā’’ti.

Tuy vậy, Kāmada,
Bậc Hiền Thánh vẫn đi.
Trên con đường khó đi,
Và có nhiều lồi lõm,
Kẻ phàm phu vấp ngã,
Trên đường mất thăng bằng.
Con đường đối bậc Thánh,
Là con đường thăng bằng,
Bậc Thánh bước thăng bằng,
Trên đường mất thăng bằng.

Bản hiệu đính:

( Kāmada)

Khó làm, bạch Thế Tôn,
Quá khó làm, bạch Ngài

(Thế Tôn)

Hỡi này Kāmada,
Họ làm việc khó làm,
Chính các vị hữu học,
Với giới hạnh, kiên trì,
Đối với người xuất gia,
Biết an vui thì vui.
.

( Kāmada)

An vui, bạch Thế Tôn,
An vui thật khó được!

(Thế Tôn:)

Hỡi nầy Kāmada,
Ai chuộng tâm an tịnh
Với ai cả đêm ngày
Vui sống điều phục tâm
Họ được điều khó được.

(Kāmada)

Tịnh tâm, bạch Thế Tôn,
Tâm ý khó an tịnh.

(Thế Tôn:)

Hỡi nầy Kāmada,
Họ tịnh tâm khó tịnh.
Ai chuộng căn an tịnh
Cắt tung lưới tử thần
Bậc Thánh vững bước tới

(Kāmada)

Khó đi, bạch Thế Tôn,
Con đường thật gian truân

(Thế Tôn:)

Hỡi nầy, Kāmada,
Bậc Hiền Thánh vẫn đi.
Trên con đường gian truân,
Phàm phu thường vấp ngã
Trên đường nhiều thử thách
Đối với bậc hiền thánh
Luôn an nhiên vững bước
Ngay cả đường gập ghềnh

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Dukkara = khó làm
sudukkara = rất khó làm
Dukkaraṁ vāpi karonti =  dù khó họ vẫn làm được
Sekhā sīlasamāhitā = bậc hữu học với giới hạnh và sự kiên trì
Ṭhitattā anagāriyupetassa = đối với người xuất gia
Tuṭṭhi hoti sukhāvahā”ti. = biết an vui thì an vui (dục an tất an)
Dullabhā = khó được, khó có
Dullabhaṁ vāpi labhanti = họ đạt điều khó được
Cittavūpasame ratā yesaṁ divā ca ratto ca bhāvanāya rato mano”ti. = Những ai đêm ngày tu tập hoan hỷ với sự tu tập nội tâm thời tâm được an tịnh
Dussamādahaṁ, bhagavā, yadidaṁ cittan”ti = Bạch Đức Thế Tôn thật khó để tâm an định.
Indriyūpasame ratā = hoan hỷ trong sự an tịnh các căn (mắt, tai..)
Te chetvā maccuno jālaṁ = Họ sau khi cắt đứt tấm lưới của tử thần
Ariyā gacchanti kāmadā”ti. = bậc thánh đã ra đi (theo đường riêng của các Ngài)
Duggamo, bhagavā, visamo maggo”ti. = Bạch Đức Thế Tôn, đây là con đường chông gai khó đi
Duggame visame vāpi Ariyā gacchanti  = Các bậc thánh vẫn đi được dù đường gian khổ khó đi
Anariyā visame magge papatanti avaṁsirā = phàm phu vấp ngã trên đường chông gai
Ariyānaṁ samo maggo ariyā hi visame samā”ti. = Đối với thánh nhân đường gập ghềnh vẫn là đường bằng phẳng vì vững bước.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo Sớ giải thì vị thiên tử trong bài kinh nầy đời trước tu tập nhưng do gặp nhiều phiền não nội tại nên đã không đạt được thánh quả mà chỉ sanh thiên nên đã đến gặp Đức Phật để nói lên sự khó khăn của đời sống tu tập.

Cũng theo Sớ Giải thì thánh đạo không phải là con đường gập ghềnh nhưng bước đầu tu tập vẫn có nhiều trở ngại


@@@

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng

-ooOoo-