BÀI HỌC HẰNG NGÀY

  Thứ Tư, ngày 13 tháng 10, 2021

MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYA

CHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,49)

Bài 7. Kinh Pañcālacaṇḍa (Pañcālacaṇḍasuttaṃ) - NỬA Ổ BÁNH MÌ LÀ BÁNH MÌ NHƯNG NỬA SỰ THẬT KHÔNG LÀ SỰ THẬT .

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Dan-Nhap.png

Có những lời xưng tán thoạt nghe rất tốt nhưng chỉ nói lên phân nữa sự thật – và do vậy - có thể sự hiểu biết sai lạc. Thiên tử Pañcālacaṇḍa tán thán Đức Phật là bậc đã chứng đắc và hiểu biết “sơ thiền” một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh mà theo ngôn ngữ ở đây là ngõ thoát giữa vòng vây của năm dục trưởng dưỡng. Điều nầy không sai nhưng chỉ nói một phần sơ đẳng của tám giải thoát và sự thành tựu vĩ đại là chứng ngộ niết bàn. Đức Phật qua câu trả lời ngắn gọn nói lên đạo lộ giải thoát phải có cả hai mặt chỉ và quán. Một điều thú vị của bài kinh nầy là trong Tăng Chi Bộ tập IV, Phẩm Pháp Chín Chi, bài kinh Pañcālacaṇḍa, Tôn giả Ananda đã giải thích rõ cho Tôn giả Udāyi về sự hiểu biết phiến diện của thiên tử Pañcālacaṇḍa.

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Kinh-Van-1.png

Sāvatthinidānaṃ. Ekamantaṃ ṭhito kho pañcālacaṇḍo devaputto bhagavato santike imaṃ gāthaṃ abhāsi –

1) Ðứng một bên, Thiên tử Pañcālacaṇḍa nói lên bài kệ này trước Thế Tôn:

‘‘Sambādhe vata okāsaṃ, avindi bhūrimedhaso;
Yo jhānamabujjhi [jhānamabudhā (ka. sī.), jhānamabuddhi (syā. kaṃ. pī. ka.)] buddho, paṭilīnanisabho munī’’ti.

- Dầu giữa những chướng ngại,
Bậc Ðại trí Chánh giác,
Vẫn tìm được lối thoát,
Vượt qua mọi chướng ngại.
Bậc trí hiểu Thiền định,
Biết từ bỏ, tối thắng,
Bậc Mâu-ni, ẩn sĩ

2) Thế Tôn lên tiếng:

‘‘Sambādhe vāpi vindantntti (pañcālacaṇḍāti bhagavā), Dhammaṃ nibbānapattiyā;
Ye satiṃ paccalatthaṃsu,
Sammā te susamāhitā’’ti.

- Pañcālacaṇḍa,
Dầu giữa những chướng ngại,
Họ tìm được lối thoát,
Họ tìm được Chánh pháp
Ðưa đến quả Niết-bàn.
Những vị đạt chánh niệm,
Kiên trì không dao động,
Họ là bậc chơn chánh,
Tâm điều phục, định tĩnh.

Bản hiệu đính:

(Pañcālacaṇḍa)

Bậc Đại Trí tìm thấy
Lối thoát giữa vòng vây
Phật, bậc khám phá thiền
Bậc Ngưu Vương ẩn sĩ

(Thế Tôn)

(Hỡi Pañcālacaṇḍa)
Tìm thấy giữa vòng vây
Pháp dẫn đến Niết bàn
Bậc thành tựu chánh niệm
Bậc chứng kiên cố định

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-van.png

Sambādhe vata okāsaṁ = lối thoát giữa vòng vây
Avindi bhūrimedhaso = bậc Đại giác tìm thấy
Yo jhānamabujjhi buddho = Phật, bậc biết rõ thiền
Paṭilīnanisabho munī”ti.= Bậc ngưu vương ẩn sĩ
Sambādhe vāpi vindanti,= Sự khám phá giữa vòng vây
(pañcālacaṇḍāti bhagavā) = (Thế Tôn nói với Pañcālacaṇḍa)
Dhammaṁ nibbānapattiyā = Pháp dẫn đến tịch tịnh niết bàn
Ye satiṁ paccalatthaṁsu = những ai thành tựu chánh niệm
Sammā te susamāhitā”ti.= những ai chứng tâm định kiên cố

http://www.lopphatphap.net/Hinhanh/Thich-nghia.png

Theo lời giải thích của Tôn giả Ananda thì chữ sambādha (sự vây hãm, cương toả) ở đây trong bước đầu là năm dục trưởng dưỡng và okāsa (lối mở, lối thoát) chỉ cho thiền chứng. Lối thoát đối với năm dục trưởng dưỡng nói chính xác là sơ thiền, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh.

Cũng theo Sớ giải thì thiên tử Pañcālacaṇḍa trong tiền kiếp từng chứng sơ thiền nên xem đó là là sự thành tựu vĩ đại. Khi vị nầy tán thán Đức Phật cũng y cứ trên sự trãi nghiệm bản thân nên sự tán thán rất nghèo nàn.

Paṭilīnanisabho có nghĩa là bậc Ngưu Vương ẫn sĩ. Riêng chữ Paṭilīna (ẩn sĩ) theo Tăng chi Bộ tập II 41,29-32 chỉ cho những bậc không còn ngã chấp.


@@@

Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu
Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng

-ooOoo-