|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Bảy, ngày 16 tháng 10, 2021 MÔN HỌC KINH TƯƠNG ƯNG – SAṂYUTTANIKĀYACHƯƠNG II. TƯƠNG ƯNG THIÊN TỬ, PHẨM THỨ NHẤT (S.i,49)
Bài 8.Kinh Tāyana (Tāyanasuttaṃ)
- ĐÃ LÀM THÌ LÀM CHO TỐT.
Có những
việc trong cuộc sống không nên nữa vời như nấu cơm mà không
đủ lửa thì kể như bỏ không ăn được. Đời tu cũng vậy. Sự lôi
kéo bên ngoài và dục niệm trong lòng là giòng chảy khó
cưỡng. Muốn cắt đoạn giòng chảy không thể không tận lực bình
sinh. Bài kệ nầy nói lên tâm niệm cần có của một người xuất
gia do một vị trời nói nhưng được Đức Phật chuẩn thuận và
khuyên chư tăng nên xem đó làm tâm niệm. Đây là điểm rất
đáng nói: lời hay ý đẹp dù ai nói cũng đáng để khắc cốt ghi
tâm. Tại các xứ Phật
giáo ngày nay bài kệ nầy cũng là trong những bài kinh nhật
tụng của chư Tăng.
Sāvatthinidānaṃ. Atha kho tāyano devaputto purāṇatitthakaro abhikkantāya
rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ obhāsetvā
yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṃ
abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho tāyano
devaputto bhagavato santike imā gāthāyo abhāsi –
1) Tại
Sāvatthī
Rồi Thiên tử Tāyana, trước kia thuộc ngoại đạo sư, sau khi
đêm gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng
Jetavana, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi
đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tāyana nói lên bài kệ
này trước Thế Tôn:
2) 2) ‘‘Chinda sotaṃ parakkamma, kāme panuda brāhmaṇa;
Nappahāya munī kāme, nekattamupapajjati. Tinh tấn, cắt dòng nước, Ðoạn trừ và tiêu diệt, Mọi tham đắm dục vọng. Ẩn sĩ không đoạn dục, Không chứng được nhứt tâm. Nếu làm việc phải làm, Cần kiên trì, tinh tấn. Xuất gia, nếu biếng nhác, Càng tung vãi bụi trần. Không làm, hơn làm dở, Làm dở sau khổ đau. Ðã làm nên làm tốt, Làm tốt không khổ đau. Như nắm vụng lá cỏ, Có thể bị đứt tay. Sa-môn hạnh vụng tu, Kéo đến cõi địa ngục. Mọi sở hành biếng nhác, Mọi hạnh tu ô nhiễm, Ác hạnh trong Phạm hạnh, Không đưa đến quả lớn.
Bản hiệu đính:
Idamavoca tāyano devaputto; idaṃ vatvā bhagavantaṃ abhivādetvā padakkhiṇaṃ
katvā tatthevantaradhāyīti.
3) Thiên tử
Tāyana nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Thế Tôn, thân
phía hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại chỗ ấy.
Atha kho bhagavā
tassā rattiyā accayena bhikkhū āmantesi –
4) Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã mãn, liền gọi các Tỷ-kheo.
‘‘imaṃ, bhikkhave, rattiṃ tāyano nāma devaputto purāṇatitthakaro
abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇo kevalakappaṃ jetavanaṃ
obhāsetvā yenāhaṃ tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā maṃ
abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi. Ekamantaṃ ṭhito kho,
bhikkhave, tāyano devaputto mama santike imā gāthāyo abhāsi
–
5) -- Này
các Tỷ-kheo, đêm nay Thiên tử Tāyana, trước kia thuộc ngoại
đạo sư, sau khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng chói
sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Ta, sau khi đến, đảnh lễ Ta
rồi đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên tử Tāyana nói lên bài
kệ này trước mặt Ta:
6)‘‘Chinda sotaṃ parakkamma, kāme panuda brāhmaṇa; Nappahāya munī kāme, nekattamupapajjati. Tinh tấn cắt dòng nước, Ðoạn trừ và tiêu diệt, Mọi tham đắm dục vọng. Ẩn sĩ không đoạn dục, Không chứng được nhứt tâm. Nếu làm việc khó làm, Cần kiên trì tinh tấn, Xuất gia nếu biếng nhác, Càng tung vãi bụi trần. Không làm, hơn làm dở, Làm dở sau khổ đau. Ðã làm nên làm tốt, Làm tốt không khổ đau. Như nắm vụng lá cỏ, Có thể bị đứt tay, Sa-môn hạnh vụng tu, Kéo đến cõi địa ngục. Mọi sở hành biếng nhác, Mọi hạnh tu ô nhiễm, Ác hạnh trong Phạm hạnh, Không đưa đến quả lớn."
Bản hiệu đính:
Ra sức đoạn giòng chảy
‘‘Idamavoca, bhikkhave, tāyano devaputto, idaṃ vatvā maṃ abhivādetvā
padakkhiṇaṃ katvā tatthevantaradhāyi. Uggaṇhātha, bhikkhave,
tāyanagāthā; pariyāpuṇātha, bhikkhave, tāyanagāthā;
dhāretha, bhikkhave, tāyanagāthā. Atthasaṃhitā, bhikkhave,
tāyanagāthā ādibrahmacariyikā’’ti.
7) Này các
Tỷ-kheo, Thiên tử Tāyana nói như vậy. Nói vậy xong, đảnh lễ
Ta, thân phía hữu hướng về Ta và biến mất tại chỗ. Này các
Tỷ-kheo, hãy đọc bài kệ của Tāyana. Này các Tỷ-kheo, hãy học
thuộc lòng bài kệ của Tāyana. Này các Tỷ-kheo, bài kệ của
Tāyana có đầy đủ nghĩa lợi và chính là căn bản của Phạm
hạnh.
Chinda sotaṁ parakkamma =Nỗ lực, đoạn giòng chảy
Theo Sớ giải, thiên tử Tāyana kiếp trước là một ngoại đạo
(tittha) nhưng do tin nghiệp báo, một trường hợp hiếm hoi,
nên được sanh thiên. Khi nhìn lại kiếp trước vị nầy phát tâm
kính ngưỡng Đức Phật và đến bạch Đức Thế Tôn về đời sống
phạm hạnh.
Từ ngữ parakkamma chỉ cho sự phát tâm dõng mãnh gồm ba giai
đoạn: muốn làm, cố làm và quyết làm (ārambhadhātu ,
nikkamadhātu, parakkamadhātu)
@@@ Dịch giả: Hoà Thượng Thích Minh Châu Hiệu đính và biên soạn giáo trình: Tỳ Kheo Giác Đẳng
-ooOoo- |