|
BÀI HỌC HẰNG NGÀY Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021
MÔN HỌC PHẬT PHÁP CƠ BẢN Bài 10. PHẬT PHÁP CHO MỌI GIAI TẦNG
Trong những
năm đầu hoằng hoá, Đức Phật dành nhiều thì giờ để hướng dẫn
sự tu tập cho những cá nhân ưu tú của xã hội với căn cơ đầy
đủ. Đó là những “thiện gia nam tử” thường là có trình độ trí
thức cao; họ từ bỏ đời sống thế tục để sống đời sa môn không
gia đình. Đó là những đệ tử xuất gia như Yasa, Mahākassapa,
Sāriputta, Moggallāna, Ananda, Anuruddha… Khi Phật Pháp trở
nên phổ cập rộng lớn trong châu thổ Sông Hằng thì Đức Phật
lại bận rộn nhiều với sự hướng dẫn chánh pháp cho đại khối
quần chúng mang nhiều xuất thân khác nhau. Giai cấp là một
định chế khó xoá bỏ trong xã hội Ấn; sự phân biệt giới tính
là rào cản khác; tín ngưỡng truyền thống cũng tạo nên những
khuôn mẫu khó nhất thời thay đổi; ngay cả sự phân chia đạo
đời cũng là sự khác biệt sâu sắc giữa Phật Pháp và tín
ngưỡng dân gian.
Kinh đô Xá Vệ, Kỳ Viên Tịnh Xá, trưởng giả Cấp Cô Độc
Vương quốc
Kosala (Kiều Tát La) với kinh đô Sāvatthī (Xá Vệ) đã đưa
lịch sử Đạo Phật sang khúc quanh mới.
Cũng là một vương quốc lớn và phồn thịnh như Magadha nhưng
với địa dư bằng phẳng, một bình nguyên trù phú nông nghiệp
với khí hậu ôn hoà mặc dù gần chân núi Himalaya. Kinh đô
Savatthi từ bao thế kỷ trở thầy trục lộ giao thương quan
trọng của miền Trung Ấn. Thời Đức Thế Tôn tại thế, vị vua
cai trị Kosala là Pasenadi (Ba Tư Nặc), bằng tuổi với Đức
Phật, với tánh cách hoàn toàn khác biệt với vua Bimbisara
(Tần Bà Sa La) của xứ Magadha (Ma Kiệt Đà).
Kinh đô
Sāvatthī là một trung tâm giao thương hơn là học thuật, tôn
giáo mà tại đó có nhiều đại cư sĩ đệ tử Phật.
Họ xuất thân từ giai cấp thương gia như Anathapindika,
Visākhā. Đây là nơi Đức Thế Tôn an cư 24 mùa hạ trong 45 năm
hoằng pháp. Vô số những giai thoại, bài thuyết pháp và những
sự kiện lịch sử được ghi lại tại nơi nầy. Chính sinh hoạt
của bốn chúng đệ tử Phật ở Kosala đã tạo nên những dấu ấn
sâu đậm về hình thái tồn tại của Đạo Phật cho đến ngày nay
từ liên hệ của hai giới xuất gia và tại gia; xã hội và chùa
chiền; hoằng pháp và hộ pháp; tinh tuý và quần chúng. Có thể
nói không thể biết rõ về Đạo Phật nếu không hiều về những gì
lịch sử Phật giáo nếu không am hiểu sự hoằng hoá của Đức Thế
Tôn tại xứ Kosala.
Nói đến
Sāvatthī phải nhắc đến Ông Cấp Cô Độc.
Đó
là một thương gia giàu có, hào sảng với đầu óc thực tế. Ông
có duyên gặp Đức Phật tại Rājagaha như một người con tìm gặp
được cha ruột của mình. Ông cung thỉnh Đức Phật và chư tăng
về quê hương của mình là Sāvatthī. Tự thân đi mua đất xây
chùa, Kỳ Viên Tịnh Xá, và trở thành một cư sĩ hộ đạo kiểu
mẫu từ cổ chí kim. Vai trò của Ông Cấp Cô Độc thật tế nhị:
không phải chỉ học tu từ Tăng chúng mà còn chăm sóc nhiều
mặt cho giới xuất gia bên cạnh gia đình, xã hội, công ăn
việc làm. Ông là đệ nhất nam cư sĩ của Đức Phật.
Hình 40
Jetavana, Kỳ
Viên, là ngôi chùa lớn trong lịch sử Đạo Phật. Lớn cả hai mặt cơ sở vật chất và vai trò lịch sử. Đất chùa
nguyên là một khu vườn nghĩa mát của ông hoàng Jeta được
trưởng giả Cấp Cô Độc thương lượng mua lại với giá “vàng
trãi tới đâu lấy đất tới đó” nên sau nầy còn được gọi là “Bố
Kim Tự”. Đây là ngôi chùa được nhắc tới nhiều nhất trong Tam
Tạng kinh điển. Phần lớn Luật Tạng được Đức Phật ban hành ở
đây trong 25 năm cuối đời của Ngài. Có thể nói sự hoằng
truyền Phật Pháp tại kinh đô Sāvatthī đã biến Đạo Phật trở
thành tôn giáo của quần chúng.
Đối thoại và chuyển hoá nên tín ngưỡng Veda
Kinh điển
Veda (Phệ đà) không chỉ là nền tảng của tín lý tôn giáo mà
là kho tàng tri thức ảnh hưởng toàn bộ xã hội Ấn Độ.
Nền tảng
kinh điển Veda đã dạy người Ấn về địa vị tối tôn của Thượng
đế; sự phân chia tất yếu của giai cấp xã hội mà trong đó
khẳng định thẩm quyền tôn giáo của giai cấp bà la môn; Veda
có trữ lượng to lớn về kiến thức tổng quát như toán học,
thiên văn, y khoa, ngôn ngữ cho đến sự hành trì tôn giáo.
Khó có người nào trong xã hội Ấn dám thách thức thẩm quyền
của kinh điển Veda mà chỉ nhiều lắm là giải thích theo cách
hiểu riêng mình.
Những bà la
môn (brahmana) được mặc nhiên chấp nhận là những người có đủ
tư cách để thay mặt Thượng đế giải thích về tất cả khía cạnh
đạo cũng như đời.
Họ là bà la môn vì giòng dõi thọ sanh, vì kiến thức
Veda, vì màu da chủng tộc, vì có nhiều giáo sĩ lỗi lạc khả
kính xuất thân từ giai cấp nầy. Một số không nhỏ những bà la
môn xem sự phổ biến Phật Pháp là đe doạ, thách thức cho sự
tồn tại của nền đạo vốn “phải chấp nhận không thể chối cải”.
Có rất nhiều
đại đệ tử xuất thân từ giai cấp bà la môn như các ngài
Kondañña, Mahākassapa, Sāriputta.
Những vị nầy không phải chỉ là những bậc trí thức mà còn đó
địa vị cao trọng trong xã hội. Bản thân của Đức Phật xuất
thân giai cấp Sát Đế Lỵ chứ không phải bà la môn.
Hình 70
Rất nhiều
bài kinh ghi lại những đối thoại, tranh luận, công kích Đức
Phật và giáo pháp từ những bà la môn.
Sự hoằng hoá rộng rãi của Phật Pháp tự nhiên tạo thành phản
ứng mạnh mẽ quyết liệt từ nền tảng tín lý truyền thống vốn
đã ăn sâu trong tâm thức và văn hoá của mọi tầng lớn xã hội.
Đức Phật không tranh chấp chấp với họ cũng không làm ngơ.
Ngài đã dùng rất nhiều phương tiện để cảm hoá những người đó
từ sự thuyết pháp, thân giáo đến hiển thị thần lực.
Vua
Suddhodana đã biến ngự viên Nirodha (Ni Câu Đảm) trở thành
tịnh xá dâng lên Đức Phật và Tăng chúng.
Có rất nhiều
sự kiện quan trọng xẩy ra tại ngôi chùa lịch sử nầy. Ngôi
chùa nầy có ảnh hưởng sâu xa đối với dòng Sakya và cả vương
quốc trong nhiều thập kỷ sau đó. Và cũng có thể nói là chưa
bao giờ một ngự viên biến thành tu viện mang tánh biểu tượng
về con đường xuất thế như nơi nầy.
Vượt qua hàng rào giai cấp
Phân chia
giai cấp là bản sắc cố hữu của xã hội Ấn và của tín lý Veda. Những người Ariyan khi tràn xuống định cư ở lưu vực Ấn Hà và
Hằng Hà đã khéo léo xây dựng một trật tự xã hội mới mà giống
dân Dravidian bản địa trở thành giai cấp thấp chịu sự dẫn
đạo tôn giáo và thống trị của giống Ariyan. Phân chia giai
cấp không còn là hiện tượng xã hội mà còn là tín lý tôn
giáo. Ngay cả những người thuộc giai cấp cùng đinh cũng chấp
nhận số phận bất công vì đó là “tôn ý của Thượng đế”
Phần đông
người Ấn Độ trước khi chấp nhận giá trị của lời nói hữu lý
thường đặt ra câu hỏi người nói thuộc giai cấp nào.
Giai cấp không chỉ ở trình độ, lợi tức, địa vị xã hội mà còn
nằm ở “thanh tịnh huyết thống bảy đời”. Con người chỉ có thể
chấp nhận giai cấp do thọ sanh mà hoàn toàn không thể làm gì
khác. Giai cấp có một vị thế quan trọng trong tín ngưỡng và
chuẩn mực của thiện ác.
Đức Phật qua
thông điệp hoằng pháp đã khẳng định con người cao quý hay
thấp hèn do hành vi của bản thân chứ không phải do giòng dỏi
thọ sanh. Đây là điều hoàn toàn khó chấp nhận đối với xã hội chịu ảnh
hưởng sâu đậm tín lý Veda.
Hình 60
Khi Đức Phật
cho phép Sunita một người thuộc giai cấp cùng đinh xuất gia
trở thành một tỳ kheo ngồi giữa Tăng chúng đã tạo nên sự
chấn động mãnh liệt tại vương quốc Magadha.
Người ta khó chấp nhận một người giai cấp thấp ngồi ngang
với các bậc đệ tử Phật “xuất thân cao quý” lại nhận sự lễ
bái cúng dường từ vua chúa, cư sĩ bà la môn và đại khối quần
chúng. Rất may mắn là vua Bimbisara trị vì xứ Magadha là một
đệ tử cư sĩ của Đức Phật chứng thánh quả tu đà huờn. Trong
mắt của vị nầy chỉ có Tam Bảo chứ không có sự cao thấp do
giai cấp xã hội. Nhà vua đảnh lễ tôn giả Sunita, đảnh lễ chư
vị tỳ kheo ni thì tự nhiên dân chúng dần dà thuận theo.
Cho phép nữ giới xuất gia
Phân biệt
giới tính cũng là một đặc điểm của văn hoá Ấn Độ. Mặc dù theo mẫu hệ nhưng người phụ nữ có những khuôn khổ phải ghép mình
mà không thể vượt quá. Họ phải đóng tốt vai trò của người
vợ, người mẹ và chỉ được phép tồn tại trong phạm vi gia
đình. Từ ngôn ngữ tới sự hành trì tôn giáo nữ giới không thể
như nam giới. Trong lúc hàng tu sĩ sống nhờ vào sự hỷ cúng
của cư sĩ thì không thể dễ dàng để chấp nhận những nữ tu sĩ
được tôn kính, cúng dường như những nam tu sĩ.
Năm năm sau
khi Đức Thế Tôn thành đạo đã có lời thỉnh cầu từ di mẫu
Mahāpajapati Gotamī cho nữ giới xuất gia sau khi vua
Suddhodana lâm trọng bệnh và băng hà.
Đức Thế Tôn
từ chối không chấp nhận liền. Khi Ngài trở lại Vesali, di
mẫu cùng năm trăm công nương vương quốc Sakya tự thí phát,
đắp y casa, đi chân trần trãi qua hành trình dài đến xin
diện kiến Đức Phật và thỉnh cầu được xuất gia.
Đức Thế Tôn
đã từ chối nhưng cuối cùng chấp thuận lời cầu thỉnh từ tôn
giả Ananda.
Ngài cho
phép người nữ xuất gia với điều kiện chấp nhận thọ trì “bát
kỉnh pháp”. Thái độ của Đức Phật cho thấy Ngài tạo cơ hội
cho người nữ tu tập nhưng cũng nêu rõ sự khác biệt giới tính
và những phức tạp về sự tồn tại của Tăng đoàn bao gồm cả hai
nam và nữ tu sĩ. Bên cạnh tánh khí khác biệt của phần đông
người nữ phải nói đến sự bất tiện của đời sống du phương mà
người nữ khó được an toàn. Chi do người nữ xuất gia tạo nên
hiện tượng xây dựng nhiều cơ sở vật chất chùa chiền, là
nguyên nhân suy thoái của Đạo Phật. Bát kỉnh pháp cũng nhằm
mục đích thể hiện sự phát tâm tu tập chứ không phải là
“phong trào thoát ly” của nữ giới trong xã hội vốn tạo nên
sự phản cảm của quần chúng.
Di mẫu
Mahāpajapati Gotamī trở thành vị tỳ kheo ni đầu tiên trong
giáo pháp. Cũng trong bước tiên khởi nầy có 500 công nương dòng
Sakya (Thích Ca) mà trong đó của hoàng hậu Yasodhara (Da Du
Đà La). Tương quan giữa hai hội chúng nam tu sĩ và nữ tu sĩ
trong Phật giáo là bài học lớn về giới tính và đời sống tu
viện trong lịch sử nhân loại. Ngày nay vẫn có nhiều tranh
luận về điểm nầy không riêng Phật giáo mà trong hầu hết các
tôn giáo.
Hình 57
Biên soạn giáo trình: Tỳ kheo Giác Đẳng |